Tập San Sử Địa 12

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XIN CUNG-HIỂN MỘT ÍT TÀI-LIỆU VỀ CỤ NGUYỄN-TRUNG-TRỰC
I. ĐỂ TỎ LÒNG SÙNG KÍNH CỤ NGUYỄN-TRUNG-TRỰC

❊ ❊ ❊

LÊ THỌ-XUÂN

…Trời sắp tối. Thuyền cặp bến Chợ-mới, bên bờ Lòng Ông Chưởng. Tôi từ Long-Xuyên đến với chỉ một bộ quần áo ướt mem, sau khi chiếc đò dọc trải cơn mưa dầm gió lớn, lướt trên sóng cả sông to.

Anh chèo mũi đến mấy ghe rồi tìm mua cá sống tôm tươi. Ông lão cầm lái nổi lửa nấu nước uống cho ấm. Ổng bảo tôi mặc đỡ cái áo bành-tô, cởi chiếc sơ-mi cho ông hong giùm. Chừng chiếc sơ-mi đã giôn giốt, tôi mặc vào thả lên bờ… chờ cơm. Bước đến trước nhà-thương. Tôi hỏi qua cho biết « quan thầy » ở đây là ai. Tôi bỗng mừng húm. « Quan thầy » là… người nhà : ông Lê-Trung-Lương (sau nầy là Bác-sĩ Giám-đốc Dưỡng-trí-viện Biên-Hòa). Bèn vào thăm. Ông đương ngồi đọc báo ở mé hiên. Chợt thấy tôi, ông hỏi :

- Ê, đi đâu mà lạc đến đây ? » Không đợi tôi trả lời, nhìn kỹ, ông hỏi tiếp, « Sao mà dơ dáy và in con mèo ướt ?

Tôi cho ông nghe : ghe con, sông cả, sóng bỏ vòi cao, mưa như trút chĩnh. Tôi đến đây để học về Ông Chưởng [1], cho biết Vàm-Nao và chiều mai trở về Long-Xuyên để học về Thoại-Sơn (Núi-Sập) và Thoại-Hà (kinh Long-Xuyên đi Rạch-Giá)… [2]

Ông nói một hơi :

- Mấy khi cậu [3] đến đây sao không tiện dịp đi thêm vài chỗ cho biết : nè chợ Thủ [4] có phần-thủ đời xưa, nè Cổ-hủ có đồn-bảo từ thời Minh-Mạng, nè đến Vàm-Nao mà trở về thì rất uổng và cũng dại ; cậu qua Vàm-Nao thì tới làng Hòa-hảo, có một đạo mới của ông Huỳnh rất lạ, lại có xe ngựa và xe lôi chạy dọc theo bờ Tiền-Giang lên đến Tân-Châu, đâm ngang tới Hậu-Giang, gặp người Chàm ở Châu-Giang, vượt Sông-SaU-Minh mông qua châu-thành Châu-Đốc, thú-vị lắm…

Ông « thuyết phục » khiến tôi như bị « thôi-miên ». Đoạn, ông tiếp :

- Mà có Má tôi ở đây, đâu dễ cho cậu về gấp ! [5]

Thế là tôi mau-mắn đổi « chương-trình » học về Thoại-Hà, Thoại-Sơn ở Long-Xuyên ra học về Vĩnh-Tế sơn (Núi-Sam) và Vĩnh-Tế hà [6] ở Châu-Đốc.

Sóng to bằng cái nhà. Chiếc đò máy Tân-Châu vẫn lướt như bay qua Châu-Đốc. Đã quá năm giờ chiều. Tôi tìm đến nhà người bạn đã giúp tôi nhiều tài-liệu về An-Giang mà tôi chưa từng gặp mặt : anh Võ-Văn-Sung, lúc bấy giờ « đứng bàn Ông Chánh ».

Mỗi sáng sớm tôi vào Núi-Sam, chiều tối mới về. Mỗi trưa, nhơn giờ nghỉ, anh Sung và con trai anh mang bánh mì hay cơm nếp, thịt nguội hoặc cá mòi đến, cùng « dằn bụng » dưới bóng mái cổng trước miếu mộ Thoại-Ngọc-Hầu.

Cả ngày, tôi leo dài theo tường xây cao phía sau đền, thả rều khắp vùng Núi-Sam, linh-đinh con thuyền trên kinh Vĩnh-Tế, viếng miễu Bà Chúa Xứ, viếng cổ-tự Tây-An…

Mưa mịt trời. Tôi vào sau chùa nói chuyện khào với… khách thập phương. Một ông lão biết tôi từ xa đến, hỏi tôi đã viếng những cảnh nào. Nghe tôi « thuyết-trình » xong, ông bảo là còn thiếu :

- Thầy đến Châu-Đốc, đến tận Núi-Sam đã mấy ngày mà còn sót một nơi không được sót : mộ Ông Nghè Mô.

Tôi vội hỏi :

- Thưa ông, mộ Ông Nghè ở đâu ?

- Tại Núi-Sam nầy, bên kia pháo-đài, thầy hỏi mấy người làm đá, ai cũng biết hết.

Thế là ngay hôm sau, nhằm ngày chúa-nhựt, chúng tôi « tổ-chức » một cuộc « Viếng mộ Ông Nghè ».

Khi viết bài nầy, tôi vào nhà anh Sung – hiện làm việc tại Tổng-Nha Cải-Huấn – để anh nhắc rành sự-việc xảy ra đã trên ba mươi năm qua.

Sở-dĩ tôi thuật vòng do tam-quốc như trên là vì nhờ sự may mắn mà tôi gặp Bác-sĩ Lê-Trung Lương ở Chợ-mới mới có chuyến đi Vàm-Nao – Châu-Đốc bất ngờ và tình-cờ gặp ông lão đụt mưa ở chùa Tây-An mới biết được mộ Ông Nghè Mô [7], một người mà tôi « quen biết » từ lâu lắm.

Ông Nghè Trương Gia-Mô, tức chí sĩ Cúc-Nông, là người sanh tại làng Tân-Hào (chợ Hương-Điểm, tỉnh Bến-Tre), trong lúc thân-sinh ông lãnh chức tri-huyện Bảo-An (về sau là quận Ba-Tri). Thuở ấy, từ tỉnh-lỵ Vĩnh-Long hay từ phủ-lỵ Hoằng-Trị (nay là Trúc-Giang, Kiến-Hòa) mà muốn đến huyện-lỵ Bảo-An thì phải đi thuyền tới Hương-Điểm mới có đường bộ đi khắp huyện. Có thể nhơn đi ngang Hương-Điểm, thân-mẫu Ông Nghè sanh ông tại đây.

Vì vậy, khi có dịp từ Bình-Thuận vào Nam, Ông Nghè « lặn-lội » đến Hương-Điểm viếng chốn « đã nghe của ông oa-oa tiếng khóc »

Ông thuật cho người quen nghe rằng đò lìa bến Bến-Tre từ thả buổi mà đến xế tà vẫn chưa tới Hương-Điểm, ông nôn-nóng quá, hỏi chừng mãi. Khi nghe lái đò cho biết là đã gần tới, ông bò ra khỏi mui, đứng dựa cột buồm ngó mong. Người ta chỉ những cây xa-xa và bảo : « Hương-Điểm ở chỗ đó ! » Lòng ông bỗng cảm-xúc, bồi-hồi, vui sướng vô-hạn : tàu dừa sao mà mướt quá, ngọn cau sao mà tươi quá, dòng nước sao mà trông hiền-hòa quá !… Vật gì đối với ông cũng đẹp-đẽ quá, thân-yêu quá !…

Bước lên bờ, ông không biết đi đâu. Nào ông có quen với một ai. Từ khi mới ra đời đến giờ, ông mới tới đây lần thứ nhứt. Thấy ông dáng người Ngũ-Quảng [8], bộ-hệ như những ông đồ tìm nơi dạy học ở miền Lục-tỉnh [9], người ta chỉ cho ông đến nhà Ba tôi…

Có thể nói là quanh vùng, chỉ có Ba tôi và chú tôi là hai người đã từng « gạo bị, mắm hũ, hột vịt, tiền quan » sống trọ nhiều năm ở tỉnh-trấn Long-Hồ, theo học trường Đốc để chờ thuở thi Hương. Nhưng… Giặc tới… Chạy… Đành xếp bút-nghiên về nhà cày ruộng.

Hồi ấy, thầy Bảy Chiêm (con trai Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu ; bà Sương-Nguyệt-Anh thì chúng tôi kêu bằng Cô Năm, còn ông Chiêm thì chúng tôi kêu bằng Thầy Bảy) đánh xe tờ [10] cho Cai-tổng Bảo-Thuận, lên « đổi ống » Bến-Tre [11], và Thầy Bảy ăn dằm nằm dề ở nhà Ba tôi (hồi tôi chưa « mở mắt chào đời »).

Được đọc cho nghe bài thơ của Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu « Khóc Phan-Công-Tòng », Ông Nghè Mô chép cho Ba tôi bài thơ của Tuần-phủ Huỳnh-Mẫn-Đạt « Khóc Nguyễn-Trung-Trực », như hai bài sau đây của Bác-sĩ Lê-Văn-Ngôn [12] đăng trong nội-san của Chương-Trình Y-Tế Hương-Thôn Bộ Y-Tế năm 1961 và 1962.

Mùa Xuân năm nay (1961), tôi có dịp trở qua Rạch-Giá. Đối với những lần trước thì lần qua Rạch-Giá nầy, tôi có chỗ hài lòng hơn : tôi được « chánh-thức » viếng đến thờ vị anh-hùng dân-tộc Nguyễn-Trung-Trực, đền nằm trên bờ sông vô Rạch-Giá, gần mé biển.

Nói là « chánh thức » vì hồi trước, mỗi lần qua Rạch-Giá, tôi đều có đến viếng đền nầy, song lần nào cũng nghe « giới-thiệu » là đền thờ Nam-Hải Tướng-quân, tức là Cá Ông, chớ không thấy dấu vết chi về Cụ Nguyễn, dẫu rằng người Việt nào cũng biết đền nầy lập ra là cốt để thờ Cụ Nguyễn-Trung-Trực. Có thể nói là Cụ Nguyễn phải « núp » sau Nam-Hải Tướng-quân, Cụ Nguyễn chỉ được thờ một cách kín-đáo và khéo-léo.

Vì sao ? Bởi, thuở ấy là trước năm 1945, thuở người Pháp còn « ngự trị » trên đất nước chúng ta, đồng bào ta đâu được ngang-nhiên thờ cúng một vị mà người Pháp liệt vào hàng « phiến loạn » !

Cho nên đền nầy, bề ngoài thì thờ Nam-Hải Tướng-quân với tấm biển son trước cổng miếu, với tấm bài-vị trên bàn thờ, nhưng bề trong – trong tâm can, trong trí não người Việt mình – thì thờ Cụ Nguyễn, không bài vị, không văn tế, chỉ luôn-luôn mặc-niệm với tấc lòng thành.

Lần nầy có khác. Sóng êm, gió mát. Cũng cổ-thụ ngạo-nghễ ấy, cũng mái đền cổ kính ấy. Tuy nhiên, lòng mình bỗng phấn khởi lên khi nhìn thấy trước cổng đền nêu to bằng Việt-văn đại-danh của con người Thiên-Thu Bất-Tử.

II. ĐỀN THỜ CỤ NGUYỄN-TRUNG-TRỰC VỊ ANH HÙNG DÂN-TỘC VIỆT-NAM

Hăng hái vào đền. Trước bàn chánh mà trên có thần chủ của Cụ Nguyễn, tôi thành-tâm đỉnh-lễ.

Tôi cũng thành-tâm chiêm-ngưỡng vị linh-thần được thờ ở bàn bên tả : Cụ Phó cơ Điều, cũng một bực đã chết vì nước như Cụ Nguyễn.

Theo lời ông từ coi việc hương khói tại đây thì trong đền thờ có cái sọ của Cụ Phó cơ. Sau khi Cụ Phó cơ bị giết, đầu bị quân Miên bêu, tối đến người mình lén lấy chôn giấu, rồi đem gởi vào đền. Hằng năm ông từ có làm lễ tắm gội sọ nầy.

Riêng Cụ Nguyễn, thử hỏi Cụ làm việc chi quan-trọng đến đỗi người mình đời đời thờ-cúng, và hồi trước lại phải thờ cúng lén-lút ?

Thì đây hai chiến công oanh liệt của Cụ trong lịch-sử nước-nhà :

- Trưa 10-12-1861, Cụ Nguyễn đốt tiêu chiếc tàu Espérance của Pháp, giết 17 binh-sĩ vừa Pháp vừa Ma-ní và lối 20 thân-binh tại làng Nhựt-Tảo. Làng Nhựt-Tảo ở hữu ngạn Vàm-Cỏ Đông (sông Bến-Lức) và cách tỉnh lỵ Tân-An lối 10 cây-số, bên con đường trải đá đỏ – chỗ gọi là ngã-ba Tổng-Uẩn – ở về phía tả khi ta từ Bến-Lức xuống gần tới cầu Tân-An, xéo-xéo ngã ba đi Thủ-Thừa ở phía hữu.

- Và bốn giờ khuya 16-6-1868 Cụ Nguyễn phá đồn Rạch-Giá (Kiên-Giang), giết ngót 30 tên vừa sĩ quan vừa binh-lính Pháp, không kể bọn bạt-ti dzăn hay bọn hầu-hạ quân-nhân Pháp…

Trả lời câu tôi hỏi, cụ từ thuật rằng nghe ông bà nói lại thì cái đồn Tây bị Cụ Nguyễn và đồng chí phá ở gần tòa Hành-chánh hiện nay, và khi bị Tây bắt, dẫu Tây dụ dỗ cách mấy, Cụ cũng khăng-khăng nguyện lấy cái chết để báo-đền nợ nước, nên Cụ bị hành quyết trước chỗ Công-quán (bungalow) bây giờ…

Ông từ bảo :

- Cho nên trước cửa chánh đền thờ có đôi đối kể công-nghiệp đó.

Rồi ông chậm-rãi đọc cho nghe đôi liễn bằng chữ Việt :

- Hỏa PHẦN Nhựt-Tảo KINH thiên-địa ; Kiếm PHẠT Kiên-Giang KHỐC quỉ-thần.

Tôi ngạc nhiên, hỏi :

- Sao lại dùng chữ « Phần » và chữ « Phạt » trong hai câu nầy ? Vả lại bà con Rạch-Giá có tội tình chi với Cụ mà Cụ « Phạt » ?

Ông từ đáp :

- Có nhiều ông cho chữ « Phần » (nghĩa là Đốt) và chữ « Phạt » rõ nghĩa hơn.

Quái !… Cụ Nguyễn có đốt thỉ đốt tàu Tây lửa rực tận mây, rồi thuốc đan dưới tàu phát nổ long trời lở đất, chớ đâu có đốt Nhựt-Tảo, vùng chôn nhau cắt rún của cụ. Và Cụ tuốt gươm (bạt kiếm) là mở chiến-công phi-thường và khốc-liệt ở Kiên-Giang chớ nào có « phạt » dân lành Rạch-Giá.

Có « Phần (đốt) Nhựt-Tảo » chăng, là việc làm của quân nghịch để trả thù cho hả giận sau khi tàu Espérance bị cháy. Có « Phạt Kiên-Giang » chăng, cũng lại là việc làm của chúng sau khi đồn Rạch-Giá bị hạ. Chớ đó nào phải việc làm của Cụ Nguyễn của chúng ta.

Dám mong quý ông có phận sự thờ-cúng Cụ Nguyễn sớm sửa lại đôi đối trước đền cho đúng nguyên-văn của tác-giả, một danh-nho, một thi-bá của miền Nam nước Việt, Cụ Huỳnh-Mẫn-Đạt, đôi đối mà phần đông người Lục-tỉnh đều thuộc lòng là :

« Hỏa hồng Nhựt-Tảo oanh thiên-địa,

Kiếm bạt Kiên-Giang khấp quỷ-thần ».

Tạm dịch :

« Nhựt-Tảo lửa hừng, trời long đất lở,

Kiên-Giang gươm tuốt, quỷ khóc thần sầu ».

(Trích Nội-san Bộ Y-tế, 1961)

III. CHUNG QUANH BÀI THƠ KHÓC CỤ NGUYỄN-TRUNG-TRỰC

…Thật ra đó không phải vỏn-vẹn là một đôi đối, mà phải trọn-vẹn là một bài thơ. Tuy nhiên, tôi không nhớ trọn bài bát-cú đó, tôi chỉ nhớ được bốn câu. Đôi đối trên là cặp trạng, nó dễ nhớ, nó nhắc rõ kỳ công vĩ-tích của Cụ Nguyễn. Tôi cũng còn nhớ hai câu chót, vì hai câu nầy « rất mắc-mỏ » đối với tôi và hồi nhỏ, tôi đã nhiều lần được nghe giải thích từ chữ một rồi nghe giải-thích nguyên câu, rồi nghe giải-thích nghĩa lý…

Bài thơ nầy do Cụ Huỳnh-Mẫn-Đạt, người Kiên-Giang, làm ra liền sau khi Cụ Nguyễn-Trung-Trực thọ-hình, mà người thuật lại là Ông Nghè Mô, người đồng-thời với Cụ Nguyễn và Cụ Huỳnh, người sanh-sống ở cõi An-Hà (An-Giang và Hà-Tiên) và cũng là người chôn nhau cắt rún tại Hương-Điểm, như tiền-nhân chúng tôi và chúng tôi.

Chúng tôi có nghe tiền-nhân chúng tôi kể lại rằng, nhơn về viếng Hương-Điểm, Ông Nghè được người Hương-Điểm thuật cho nghe :

…Đêm 20 tháng 10 năm đinh-mão (15-11-1867) – sau khi Cụ Phan-Thanh-Giản qua đời vừa được ba tháng – nghĩa quân phá đồn Hương-Điểm, một đồn có những 150 thủy-quân lục-chiến Pháp với 200 bạt-ti-dzăn đóng giữ. Trận nầy, ông Trương-Tấn-Chí, cháu của Long-vân-hầu Trương-Tấn-Bửu, xung phong phất cờ đi trước, bị giặc bắn chết. Sau đó, ông Tán Kế (Lê-Tấn-Kế) : ông Phan-Công-Tòng [13] cũng vì nước mà bị thiệt mạng. Nên chi, để tỏ lòng mến-tiếc, Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu – bấy giờ đương ở ẩn dạy học tại Ba tri (gần Hương-Điểm) – có làm bài thơ điếu Phan-Công-Tòng, mà hai câu chót là :

« Nhớ chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ,

Lòng đây tưởng đó mất như còn ».

Nghe thơ nhắc những bực « mất như còn », những đấng « anh-hùng cứng cổ », Ông Nghè cất bút chép lại cho người Hương-Điểm [14] bài thơ của Cụ Huỳnh-Mẫn-Đạt khóc Cụ Nguyễn-Trung-Trực và còn cho biết thêm rằng :

« …Sau khi Lãnh-binh Tấn dắt quân-đội Pháp đổ bộ lên Phú-Quốc, Cụ Nguyễn cạn lương hết đạt nên ra để cho bắt, với điều kiện là phải mở vòng vây, không được làm hại nghĩa-quân… Viên Đề-đốc Ohier ở Sài-Gòn muốn gặp mặt Cụ, để bổn-thân ông ta hỏi rõ về tình-hình nghĩa-quân và cũng cốt để khuyến-dụ Cụ quy-hàng. Người như Cụ mà hàng thì sẽ gây ảnh-hưởng rất lớn-lao trong hàng ngũ kháng-chiến. Cho nên Cụ và vài đồng-chí của Cụ bị giải lên Sài-Gòn. Cụ luôn-luôn trả lời với Đề-đốc Ohier với phong-độ nhã-nhặn, bình-tĩnh mà đứng-đắn. Mà bao giờ Cụ cũng khẳng-khái đòi sớm chịu tử-hình chớ không khứng quy-hàng trước miếng mồi phú-quý.

« …Rồi Cụ và các đồng-chí lại bị giải về Rạch-Giá. Rồi một sáng tinh-sương, Cụ bị đưa ra pháp-trường, trước nhà Công-quán hiện nay, không phải chỉ một mình Cụ mà còn có thêm một người nữa : Cụ Nguyễn-Văn-Điền.

« Cụ Nguyễn-Văn-Điền là người sanh-trưởng tại Tân-An như Cụ Nguyễn-Trung-Trực. Lúc nhỏ, hai Cụ ở cùng xóm, học cùng thầy ; lớn lên, hai Cụ cùng theo nghĩa-quân, cùng chung sức đốt tàu ở Nhựt-Tảo, cùng cộng-tác cướp đồn ở Kiên-Giang, cùng uống rượu khải-hoàn bên chiếc đầu lâu đẫm máu của viên Tham-biện Chỉ-huy-trưởng Rạch-Giá… Rồi nay, hai Cụ cùng bị bắt và cùng bị đưa ra pháp trường một lượt. [15]

« …Đã từ quan bỏ chức nhưng cũng còn mang tiếng con nhà nho-phong sĩ khí với đời, cựu Tuần-phủ Huỳnh-Mẫn-Đạt, vừa thương-tiếc đấng anh-hùng của Đất-Nước, vừa tủi-hổ cho mình là phận sống thừa (vị-tử-nhân : kẻ chưa chết), quá cảm-xúc nên làm ra một bài thơ bất-hủ… mà cặp trạng như ta đã rõ, với hai câu thúc-kết là :

« Anh-hùng cường hạng phong-danh thọ,

Tu sát đê đầu vị-tử-nhân ».

Và, xin tạm dịch :

« Anh-hùng cứng cổ phong-danh rạng,

Thẹn chết bao nhiêu lũ cúi đầu ! »

(Trích Nội-san Bộ Y-tế, 1962)

Đúng ra thì Ông Nghè không phải chỉ chép có một bài thơ của Cụ Tuần-phủ, mà Ông Nghè còn chép cho Ba tôi cả tiểu sử của Cụ Nguyễn-Trung-Trực.

Nhơn được đọc bổn tiểu-sử nầy, tôi không dám « tiểu-thuyết-hóa » hay « thần-thánh-hóa » cuộc đời của vị Anh-Hùng Nhựt-Tảo.

Tôi xin ghi lại đây – hẳn có sai-sót – những điểm chánh mà ít thấy ai chép giống, nhứt là tránh chép kỹ theo Vial và A.Schreiner vì chắc đó là việc sẽ có trong số đặc-san nầy :

*

…Cụ tên thật là NGUYỄN-VĂN-LỊCH, lại có tên riêng là CHƠN. Vì tánh-tình Cụ ngay-thật thẳng-thắn và vì có cái tên CHƠN (không giả-dối) nên ông thầy học đặt cho cái hiệu là TRUNG-TRỰC.

Cụ khỏe-mạnh, sống về nghề chài-lưới tại quê nhà Tân-An. Sau khi Hộ-đốc Nguyễn-Công-Nhàn bỏ thành chạy trốn, Định-Tường thất-thủ (tháng 3 năm tân-dậu, 1861), Cụ cùng các bạn hiệp sức đánh Tây. [16]

Ở Tân-An, vùng Nhựt-Tảo là địa-điểm quan-trọng, có nhiều đường giao-thông thuận-tiện trên bộ cũng như dưới sông.

Hôm ấy (10-12-1861), nhiều tàu tuần Pháp đậu ngoài Vàm-Cỏ Đông. Riêng tàu Espérance thì vào án-ngữ tại cửa sông Nhựt-Tảo [17] với một toán lính Pháp và lính Ma-ní [18]. Trên bờ, một đại-đội lính mã-tà [19] sau khi đi ruồng-bố, đóng tại chợ, làm thế ỷ-giác với đoàn tàu.

Vào lúc đứng bóng, lính trên bộ đương nghỉ mệt, lính dưới tàu đương ngủ trưa.

Mấy chiếc ghe trần rề tới : đờn ông thì áo rộng khăn đen, phụ-nữ thì áo dài nón cụ. Rõ-ràng là một đám cưới khá lớn. Chiếc ghe đi đầu ghé sát tàu. Một ông lão trình việc đi rước dâu. Nhìn thấy mâm trầu bịt to-tướng và hai ché rượu khổng-lồ, tên bồi làm thông-ngôn « trâm tiếng Tẩy » theo kiểu « ba-rọi ». Quan-lớn Xếp gật đầu hiểu-biết. Ông lão xin phép cho chú rể ra mắt và xin phép hiến vài chục hột gà rất tươi và mấy nải chuối cau rất ngon – hai món mà thường-thường mấy quan-lớn Lang-sa rất thích – để quan-lớn dùng lấy thảo…

Chú rể chánh khúm-núm bưng cái quả đựng hột gà, chàng rể phụ khệ-nệ bưng cái mâm đầy chuối. Lễ-vật được kính-cẩn bày ra trước mặt. Ông Xếp híp mắt cười sung-sướng…

Bất-thần, chú rể chánh – Cụ Nguyễn-Trung-Trực – rút ở lưng một cái búa to xán lên đầu viên xếp, chú rể phụ rút đoản-kiếm lụi tên bồi hô to « Xáp chiến ! »

Từ cả đoàn ghe, lột áo rộng ra, mỗi người chỉ còn một chiếc quần tà-lỏn, rút mác thong, mã-tấu dưới chiếu ngồi, nhảy bổ lên tàu, tha-hồ chém giết. Bọn lính Tây và Ma-ní đương cởi trần ngủ trưa, chỉ còn 5, 3 tên may lắm là thảy được đòn dài, xuồng nhỏ xuống sông rồi nhảy theo bơi, lội. Mấy bà phá mâm trầu, trút ché rượu : đèn chai, dầu rái, con cúi, hỏa-mai được ném tua-tủa lên tàu. Lửa phát đỏ trời. Ai nấy thót xuống ghe, túa lên bờ, cùng dân làng giựt lá lên trên mái nhà dọc theo sông mà phóng xuống. Lửa càng cao ngọn. Đạn dược tiếp nổ kinh-hồn. Một cảnh-tượng : « hỏa hồng oanh thiên địa » !

Đồng-thời, nghĩa quân đột-ngột từ tứ phía tấn-công bọn lính mã-tà, chẳng để sót một mống…

Triều-đình phong Cụ Nguyễn chức Phó-quản-cơ, nên người Pháp nhiều khi gọi Cụ là « Quản-Chơn » hay « Quản Lịch ». [20]

*

Courrier de Saigon thì tôi có trọn bộ (chỉ thiếu số 1), đóng bìa cứng cẩn-thận để giữ được lâu, nhưng đã mất cả trong biến cố 1945. Các Phúc-trình nói trên thì trước 1940, tôi được đọc tại Văn phòng – chỉ được phép đọc tại Văn phòng – viên Quản thủ thơ-viện Quốc-gia. Tôi nhớ trong Phúc-trình của viên tham biện Tân-An, nói về nghĩa-quân, có đoạn viết :

« Tôi biết bọn phiến-loạn (rebelles) thường tới lui vùng ấy, ngày cũng như đêm. Tôi hứa sẽ thưởng nhiều tiền-bạc hay chức tước cho ai mật-báo tin-tức về sự hoạt-động của chúng. Nhưng vô-ích. Tôi hăm-dọa bỏ tù, xử-tử hay đốt nhà kẻ nào yêm-ẩn bọn chúng. Nhưng cũng vô ích. Thật là lạ-lùng khó hiểu !… Viên tham-biện Trà-Vinh thì báo-cáo : « Thật là lạ quá ! Nó (tên phiến-loạn) coi bộ nghèo-nàn ngu-dốt, bị đưa đi hành-quyết, vẫn thản-nhiên, không tỏ chút sợ sệt… »

Nhờ đọc các Phúc-trình đó, tôi « phát-minh » được một chuyện là-lạ ngay trên tỉnh nhà :

« Đêm đã khuya, tôi – lời viên tham-biện Bến-Tre – dắt tên thông-ngôn tuần-kiểm việc canh-phòng. Đi ngang chỗ giam bọn đã bị kết-án tử-hình chờ ngày ra pháp trường, chúng tôi dừng chơn vì nghe có tiếng rên. Tên thông-ngôn nghiêng tai nghe chăm-chúi, chút-chút lại gật đầu. Không phải tiếng rên mà là tiếng nói nho-nhỏ khi cao khi thấp, khi dứt ngắn khi kéo dài. Tôi hỏi : Nó nói gì đó ? – Bẩm, nó hát (nguyên văn : il chante) – Nó hát làm sao ? – Bẩm, nó hát như vầy : « Quand je suis en ce monde, je suis déjà mandarin, je n’ai pas honte envers les fleuves et les montagnes. Si à l’enfer, on connaîtra mon héroïsme, là-bas, je serai mandarin plus haut encore ».

Tôi nhớ chừng mà ghi lại mấy câu chữ Pháp nầy (theo lối văn dịch mộc-mạc của viên thông-ngôn ấy và theo lối chép trung-thực của viên tham-biện ấy), tưởng không đúng lắm, nhưng cũng không sai mấy, nhứt là về ý nghĩa. Ban đầu tôi cố tìm hiểu xem ông ta hát thế nào, câu hát đó làm sao. Tôi suy nghĩ mãi không ra. Tôi bỗng « phát-minh » là đây không phải HÁT mà là NGÂM THƠ. Chắc là một bài tứ-tuyệt bằng Hán-văn, và phỏng theo bản dịch chữ Pháp, tôi dịch ra quốc âm – mà đã có lần tôi cao hứng đọc rất to tiếng trước một số thính-giả « đông như nêm cối » nhơn buổi LỄ-QUỐC-SĨ 國恥 tổ-chức tại rạp hát lớn ở tỉnh-lỵ Bến-Tre – như sau :

« Sống ở dương-trần TỚ đã quan,

Thì đà không hổ với giang san ;

Diêm-đình ví biết TA trung-liệt,

Dưới ấy, THẰNG NẦY tước lớn hơn ! »[21]

Chẳng bao lâu Cụ thăng Quản-cơ và lãnh chức Thành-thủ-úy tỉnh Hà-Tiên.

Sau ngày 24-6-1867, trọn Lục-tỉnh Nam-kỳ đều thuộc Pháp. Cụ củ-hợp nghĩa-quân, lui vào bưng-biền lo việc đánh Tây.

Một đêm vào khoảng cuối tháng tư nhuần. Trời tối ngửa bàn tay không thấy. Cụ và các bạn quần đùi, lưng trần khắp mình tô bùn sình, bò đến sát bên đồn Rạch-Giá, nhảy xổ tới đâm chết hai tên lính gác. Tiếng còi lịnh nổi lên : nội-công, ngoại-kích…

Viên sĩ-quan cai-trị vùng nầy là một tên Tham-biện dữ như quỷ, râu tóc hoe-hoe như lông chó Phèn [22] nên dân chúng gọi lão là « Lão Chánh Phèn ». Nghe tiếng còi lịnh, tên bồi thân tín của Chánh Phèn – mà kỳ-thật là một đồng-chí trung-kiên của cụ Nguyễn – chạy a vào đấm cửa báo tin : « Ông Chánh ơi ! Quan-lớn Chánh ơi ! Có giặc ! Có cướp !… » Chánh Phèn vừa sớn-sơ sớn-sác, vừa hoảng-kinh hồn-vía hỏi lia lịa : « Giặc đâu ? Cướp đâu ? », thì bị vị nghĩa-quân khôn-khéo nầy thọc cho một dao vào bụng đến lút cán…

Mấy chục cái đầu giặc bêu mỗi cái trên một ngọn mác thong cắm dài theo bờ sông Rạch-Giá đi Long-Xuyên, với sự hoan-hô nồng-nhiệt của đồng-bào sở-tại bằng cách tranh nhau mổ heo vật trâu để làm lễ khao-quân…

Pháp đem hùng binh đến với đủ các « trung-thần kiện-tướng » Trần-Bá-Lộc, Đỗ-Hữu-Phương, Huỳnh-Công-Tấn, quyết tận-lực « tảo-thanh » Rạch-Giá. Cụ Nguyễn phải lui về Hòn-Chông, kế ra Phú-Quốc tránh mũi nhọn của giặc… như quý vị đã đọc hay sẽ đọc về giai đoạn nầy trong những bài khác cũng trong tập-san đặc-khảo nầy…

*

Một điều mà chắc ít ai nhắc đến – nếu những tác-giả đó theo đúng sử-liệu của Pháp – là một đội chiến-thuyền Pháp đậu ngoài khơi, cứ nã trọng-pháo vào vùng cố-thủ của Cụ Nguyễn. Thỉnh-thoảng, đinh-ninh rằng nghĩa-quân đã bị thiệt-hại nặng-nề, ắt đã tê-liệt, bọn lính Pháp, lính Ma-ní, lính mã-tà xuống tàu nhỏ tiến vào đổ bộ. Mà lần nào chúng cũng bị bắn rơi lũm chũm nên phải thối lui. Rốt cuộc, theo kế-hoạch của Lãnh-binh Tấn, Pháp cho tàu dàn ngang ngoài biển và cho cả trăm lính mã-tà lên bộ, đóng một « vòng-đai » rộng-lớn – vì không dám xáp lại gần – cốt để tuyệt đường lương-thực của nghĩa-quân.

Cả bọn Việt-gian đến bọn sĩ-quan Pháp đều không rõ nghĩa-quân hiện có bao nhiêu người – chắc là đông lắm – và tại sao trọng-pháo bắn ầm-ầm ào-ào mà nghĩa-quân vẫn tỏ ra không hề-hấn gì.

Đó là diệu-phương thần-kế của ông Cai-tổng Hà-Tiên, người dám bỏ địa-vị, bỏ sản-nghiệp, quyết theo Cụ Nguyễn tới cùng.

…Từ Hòn-Chông, Cụ Nguyễn cho nghĩa-quân phân-tán vào dân chúng để chờ-đợi thời-cơ thuận-lợi. Cụ cùng ông Cai-tổng và lối 3, 4 mươi người nữa lui ra Phú-Quốc. Ông Cai-tổng biết tàu chiến Pháp sâu lườn, không thể nào vào gần bờ được, chúng sẽ từ ngoài xa bắn đại-bác vào để diệt quân ta. Ông cho đi xin của đồng-bào những tấm bồ, những cà-tăng, lại cho đi đốn tre đốn nứa về bện rất nhiều phên liếp vừa rộng vừa dài. Ông cho đóng cọc săng, dùng dây cóc ken phên, liếp, bồ, cà-tăng che khắp phía trên và phía dưới (day ra biển) chỗ nghĩa-quân đóng núp. Tàu Pháp bắn vào ; phên liếp hứng đạn. Đạn phóng vào mạnh, phên liếp thụng xuống. Nhờ sức mềm-dẻo, phên liếp không bao giờ lủng (thủng). Hết sức thụng xuống, phên liếp bung lên ; đạn rơi qua bên cạnh hoặc tung ra biển… như chẳng có việc gì xảy ra.

Ngặt có điều chúng vây nhặt quá, trên bộ cũng như ngoài khơi. Nghĩa quân cạn lương thực !

Cụ Nguyễn phải giải-quyết vấn-đề, bàn với anh em :

- Giặc chỉ oán một mình tôi, chỉ lo về một mình tôi. Tôi ra cho chúng bắt thì chúng sẽ không để ý làm hại anh em.

Ông Cai-tổng nắm áo Cụ – Ông Nghè Mô viết rõ – và cãi :

- Úy không nên làm như vậy. Chúng tôi thề cùng sống chết với Úy.

Nhưng Cụ Nguyễn ung-dung nói :

- Giặc không giết được ta, song cạn lương thực thì rồi sẽ chết hết. Mà chết hết, chết đói cả lúc nầy thì có ích gì cho mai sau ? Giặc được tôi thì mừng lắm, sẽ không làm hại anh em, anh em hãy cố sống mà tiếp-tục báo-quốc. Anh em nào phải úy tử tham sanh, phải can-đảm liệu cách xuất-xử !

Cụ liền viết mấy hàng, cho người đưa đến sĩ-quan Pháp, đại-để nói :

- Nếu quân đội Pháp hứa không làm hại những người vì thương vì sợ mà theo tôi ở đây thì tôi sẽ ra tay không đến dinh-trại Pháp.

Ông Nghè còn nhắc cho biết hai chuyện hay-hay.

…Cụ Nguyễn bị giải lên Sài-Gòn. Pháp-soái muốn biết mặt mũi Cụ, một người đã giết hại quan quân Pháp nhiều nhứt, và cũng muốn làm sao cho Cụ quy-hàng. Cụ cám ơn nhưng cứ xin MỘT CHẾT !

Thấy dụ-hàng không được, Pháp-soái bực-tức nói :

- Ông Lịch nè, dầu ông hay chết, binh-lực Pháp cũng sẽ tận-diệt quân phiến-loạn ở xứ nầy.

Cụ Nguyễn mỉm cười, đưa tay chỉ ra sân xanh cỏ và ôn tồn đáp :

- Thưa Pháp soái, chúng tôi chắc rằng chừng nào Ngài trừ cho hết cỏ trên mặt đất thì chừng đó Ngài mới may ra trừ tiệt được những người ái-quốc của xứ-sở nầy mà Ngài giận-dữ gọi là quân phiến-loạn.

…Trước khi đao-phủ quân hạ-thủ, Cụ Nguyễn-Trung-Trực kêu Cụ Nguyễn-Văn-Điền mà bảo rằng :

- Anh Điền, tôi với anh mới thật là sanh tử chi giao !

Cụ Nguyễn-Văn-Điền tươi-tỉnh đáp :

- Thiệt đúng như vậy ! [23]

LÊ-THỌ XUÂN

❀ ❀ ❀

[1] Ông Chưởng là Chưởng-dinh Lễ-thành-hầu Nguyễn-Hữu-Cảnh, người có công lập dinh chia huyện cho đất Đồng-Nai nầy từ cuối thế-kỷ XVII.

[2] Vua lấy tên Thoại-Ngọc-Hầu mà đặt cho kinh và núi nầy. (立, chữ Lập đọc nôm là Sập : Núi-Sập ; vì hai chữ Lập và Khâu 丘 (hay Khưu, tên húy của Khổng-phu-tử) giống nhau nên có sách chép ra Việt-văn là Khâu-Sơn.

[3] Ông Lương, từ khi mới quen nhau, kêu tưng tôi như vậy, thay tiếng « em ».

[4] Tiếng kêu tắt Thủ-chiến-sai : chỗ mà khi nhỏ, tôi thường nghe ông chủ trại cưa gần nhà nói đến « Chợ Thủ » (không phải Thủ-dầu-một) để « kiếng » cây.

[5] Tôi đã có đôi phen gặp Bà Cụ tại nhà ở Cần-Thơ. Bà Cụ là người biết rất nhiều chuyện xưa và cũng rất ưa nghe tích cũ nước-nhà. Hơn nữa, Bà Cụ thuộc dòng-dõi của Đức-quốc-công Phạm-Đăng-Hưng – thân-phụ của Từ-Dũ Hoàng-thái-hậu – sanh-trưởng tại Gò-công, nên đã thuật cho tôi nghe lắm điều về Cửa-Khâu, Trại-Cá, Truông-Cóc, Gò-Rùa của Cụ Lãnh-binh Trương-Định. Chính Bà Cụ là người đã « chỉ lén » cho tôi biết mộ Cụ Lãnh-binh « nằm » trên phần đất của ai, gần nhà của ai, tấm mộ bia bị « băm » làm sao (như tôi đã thuật trong Sử-Địa số 3-1966 ; đặc-san về Trương-công Định), và Lãnh-binh Tấn bị Cụ Trương-Định « vật » hộc máu ra thế nào…

[6] Năm nọ, tôi đi xe đạp từ Vĩnh-Long đến Mân-thít để biết chỗ quân Tây-sơn đại-chiến với quân Nguyễn-Phúc-Ánh, và Châu-Văn-Tiếp bị đâm chết. Kế đó, tôi mướn xuồng băng sông cái qua Cù-lao Dài để viếng mấy ngôi mộ cổ của gia-quyến họ CHÂU và lót chữ VĨNH, mà con cháu vẫn còn đông. Thoại-Ngọc-Hầu phu-nhân tên là Tế và thuộc dòng họ CHÂU-VĨNH nầy. Bởi thế, khi Thoại-Ngọc-Hầu Nguyễn-Văn-Thoại đôn-đốc đào xong con kinh to từ Châu-Đốc thông qua Hà-Tiên, nhơn thấy địa-hạt khởi đầu con kinh có chữ CHÂU đứng trước trùng với họ CHÂU của phu-nhân, vua dạy lấy tên VĨNH-TẾ của phu-nhân mà đặt tên kinh nầy là « Vĩnh-Tế-hà » để ghi tạc công-lao Thoại-Ngọc-Hầu.

[7] Vì người đương thời gọi ông là « Ông Nghè » nên có sách chép « ông đỗ tiến-sĩ ». Thật sự thì tiếng « Ông Nghè » nầy không có nghĩa là tiến-sĩ như Ông Nghè Huỳnh-Thúc-Kháng, Ông Nghè Ngô-Đức-Kế… Ông Nghè Mô không phải là nhà khoa-giáp ; thân-sinh ông là một vị đường quan, cố nhiên ông là một ấm-sinh ; nhờ học rộng, qua một kỳ sát-hạch ông được hàm Hàn-lâm chi-chi đó – có thể cỡ thất, bát-phẩm – và được chức thơ-lại hay thừa-phái chi tại Huế, nên người Kinh-đô gọi tâng ông là « Ông Nghè » như nhiều Ông Nghè khác. Trước khi viết bài nầy, tôi có viết thơ về Quốc-Hội hỏi ông Trương-Gia Kỳ-Sanh vài chi-tiết về Ông Nghè – thân-phụ của ông Kỳ-Sanh – nhưng không được trả lời. Tôi chỉ hỏi ông Kỳ-Sanh về năm sanh và năm qua đời của Ông Nghè, tự và hiệu cùng tác-phẩm của Ông Nghè, chớ không hề hỏi tới nỗi lòng « tha-thiết với Nơi Nhau-Rún » và cao-hoài « làm sống Anh-Hùng Cường-Hạng NGUYỄN-TRUNG-TRỰC » của Ông Nghè, mà tôi kính-cẩn thuật ra đây hầu bạn đọc.

[8] Thuở ấy, người Đồng-Nai gọi người miền Trung (dẫu là người Bình-Phú, Thuận-Khánh cũng vậy) vào Nam bằng ghe bầu nan, là « dân Ngũ-Quảng ». Ngũ-Quảng là : Quảng-Bình, Quảng-Trị, Quảng-Đức (nay là Thừa-Thiên), Quảng-Nam và Quảng-Nghĩa.

[9] Miền Nam chia làm sáu tỉnh là : Biên-Hòa, Gia-Định, Định-tường, Vĩnh-Long, An-Giang và Hà-Tiên.

[10] Xe tờ là xe ngựa đi trạm, chuyển-đạt tờ-trát (công-văn).

[11] Công-văn luôn-luôn phải gởi « Mật », bỏ vào một hay nhiều cái ống bằng thiếc, có nắp đậy trùm cho khỏi ướt và có niêm-phong cẩn-thận. Sáng đi, xế tới Hương-Điểm, đợi chiều lại đò Bến-Tre vào thì « đổi ống » : gởi ống công-văn Bảo-Thuận (Bảo-An) ra Bến-Tre và nhận lãnh ống công-văn Bến-Tre đem về Bảo-Thuận vào bữa hôm sau (phải nghỉ ngựa một đêm).

[12] Em tôi, Bác-sĩ Lê-Văn-Ngôn, có nhiều dịp đến Rạch-Giá (quê vợ) nên biết nhiều hơn tôi về Cụ Nguyễn-Trung-Trực tại vùng nầy. Lại thêm ông Mã-Sanh-Long, Thanh-tra Tiểu-học Kiên-Giang, trước kia cùng chung hoạt-động hăng-hái cho Hội Khuyến-học Cần-Thơ, giúp nhiều tài liệu.

[13] Ông Phan-Công-Tòng là người Giồng-Gạch (gần Ba-Tri), vừa chịu tang mẹ được ba tháng đầu đội bích-cân cầm quân đánh giặc và bị tử trận (do Ông Nguyễn-Đình Chiêm thuật cho chúng tôi nghe), nên Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu mới có câu : « Đầu tang ba tháng trời riêng đội ». Nhiều người lầm Phan-CÔNG-Tòng với Phan-THANH-Tòng tức Phan-Thanh-Liêm (con Cụ Phanh-Thanh-Giản), cũng là người khởi binh chống Pháp ở vùng Ba-Tri.

[14] Chợ nầy do ông Hương-chủ Trần-Văn-Điểm lập ra, nên gọi là chợ Hương-Điểm.

[15] Ông Mã-Sanh-Long cho biết ngày giỗ Cụ Nguyễn tại Rạch-Giá là ngày 28 tháng 8 âm-lịch (vậy thì nhằm 13-10-1868). Nhưng căn-cứ theo tài-liệu của VIAL mà Abrégé de l’Histoire d’Annam chép lại, thì Cụ thọ-hình ngày 27-10-1868, là nhằm ngày 12 tháng 9 năm mậu-thìn. – Còn tên của Cụ Nguyễn-Văn-Điền thì không được nhớ rõ lắm, nhưng không phải là Cụ Nguyễn-Hiền-Điều mà ta quen gọi tắt là « Phó-cơ Điều ».Chưa ai biết được mộ của Cụ Nguyễn-Trung-Trực tọa lạc tại đâu.

[16] Quân Pháp một mặt do Bảo-định-hà (Arroyo de la Poste) từ chợ Vũng-Gù (tức chợ Tân-An ngày nay, hồi ấy thuộc tỉnh Định-Tường qua Bến-Tranh, Lương-Phú đánh rốc tới Chợ-cũ Mỹ-Tho, một mặt do đường biển vào Cửa-Tiểu đánh thẳng lên ; viên Hộ-đốc Nguyễn-Công-Nhàn, chỉ huy đạo binh Hùng Dõng trấn-giữ Định-Tường nghe tin giặc tới bèn bỏ chạy, nên thời-nhân có bài thơ chế-nhạo, lại khéo vẽ rõ đường đi của Tây, tôi chỉ nhớ 4 câu trên :« Nguyễn-Công-Nhàn ! Nguyễn-Công-Nhàn !Hùng-Dõng sao mà lại nhát gan ?Giặc tới Bến-Tranh run lập-cập.Tàu vô Cửa-Tiểu chạy bò càng ».

[17] Theo lời người bà con của anh Trọng-Toàn Nguyễn-Văn-Kiêm, sanh trưởng tại Tân-An, thì chợ Nhựt-Tảo ngày nay thuộc xã An-nhựt-tân, do ba làng An-Lái, Nhựt-Tảo và Tân-MINH sáp-nhập lại. – Trong Gia-Định-thành thông-chí của Trịnh-Hoài-Đức viết vào khoảng đầu thế-kỷ 19, thì ở đây có « thôn » Bình-Nhựt, « xã » Tân-An, và ghi rõ « xã » Tân-An thì đông giáp « phường » An-Lái (chưa có tên Nhựt-Tảo). Còn theo Tổng thôn danh-hiệu mục-lục bằng Hán-văn, chép năm nhâm-thìn (1892) thì : « tổng Cửu-cư-hạ, thuộc Tân-An-hạt, gồm 13 thôn, trong có An-Lái, Nhựt-Tảo và Tân-NINH ».Vậy trước trận đốt tàu Espérance (1861) đến sau năm 1892, Nhựt-Tảo là tên một làng riêng-biệt.

[18] Lính Ma-ní là bọn lính da đen, thuộc giống Tagal ở đảo Lữ-Tống (Luzon, Lucon, thuở ấy bị người Y-pha-nho (Tây-ban-nha) cai-trị. Đô-thị chánh của Lữ-Tống là Manille, nên tiền nhân ta gọi « lính Tagal » của Pháp là « tụi Ma-ní » hay « Chà-Và Ma-ní ».Như về trận Cần-Giuộc 16-12-1861, quốc-âm thi-tập của P.Huỳnh-Tịnh-Của chép : « Tự-Đức thập tứ niên thập nhứt ngoại thập ngũ nhựt chi dạ… nghĩa-binh tựu Cần-Giuộc, còng-phá dương-huyện… thích-trúng dương-quan tri-huyện tịnh Chà-Và Ma-ní đẳng… »Và như trong bài « Văn-tế điếu Lãnh-binh Trương-Định » của Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu có câu : « …Kéo trên bờ ma-ní, mã-tà, đạn bắn như mưa vãi… »

[19] Lính mã-tà là thổ-binh, lực-lượng phụ-thuộc (auxiliaires indigènes) của quân-đội Pháp (khác với thân-binh – partisan – lập ra do sáng-kiến của Trần-Bá-Lộc, hạng lính không lãnh lương nhưng được phép tha-hồ cướp của, giết người, hãm-hiếp phụ-nữ ở những vùng mà Pháp và Lộc cho rằng có « quân phiến-loạn ».Như trong bài Văn-tế Nghĩa-sĩ Cần-Giuộc của Cụ Nguyễn-Đình-Chiểu có câu : « Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã-tà, ma-ní hồn kinh… » và câu « Sống làm chi ở lính mã-tà, chia rượu ngọt, gậm bánh mì, nghe càng thêm hổ ? »Căn cứ vào ngôn ngữ Y-pha-nho và thổ âm Tagal, tôi đoán chừng « mã-tà » có hai nghĩa khác nhau :- Thổ-âm Tagal có « mata » nghĩa là « con mắt » ; vậy lính mã-tà là lính tiền-phong, dọ đường, canh-gác. - Tiếng Y-pha-nho có « matar » nghĩa là « giết » hay « kẻ giết người » (như « tuer, tueur » của Pháp ; vậy lính mã-tà là lính chuyên giết người, lính giết người giỏi. Như thế, nếu theo nghĩa chữ « mata-more » của Pháp (do tiếng Y-pha-nho : matamoro) là « tueur des Maure », là « kẻ hào kiệt tàn-sát giống Maure » giống thổ dân hắc-chủng ở Bắc-Phi, từng bị Y-pha-nho chinh-phục – Maure lại có nghĩa là Đen) thì vô-tình ta phải có chữ « mata-annamite » với nghĩa là « kẻ anh-hùng tàn-sát giống An-nam » !Mãi cho tới năm 1945, tại Nam-kỳ, Pháp có hai hạng lính ; lính tập và lính mã-tà. – Lính tập là lính quân-dịch, tới 23 tuổi, bắt thăm, nhập-ngũ, tập-luyện đánh giặc ; lính nầy – tirailleur – chơn vấn ghết (guêtre) đỏ, tức ngoài Bắc gọi « lính khố đỏ ». – Lính mã-tà là lính ứng mộ, lo việc canh-gác – kể cả « phú-lít » police, nay là cảnh-sát) – và trấn-giữ các đồn-thủ để trị trộm-cướp ; lính nầy – milicien – chơn vấn ghết xanh, tức ngoài Bắc gọi « lính khố xanh » ; lương lính nầy do tỉnh sở-tại trả với công nho làng (budget communal) ; cơ lính nầy là « Garde Civile Locale » nên trên nón và ở bâu áo có gắn ba chữ đầu bằng nhôm « G.C.L », và lính nầy rất ghét thằng dân nhà-quê nào làm bộ dốt tiếng Tây để đọc ba chữ đó ra « Gạo của Làng ».

[20] Phó quản-cơ, Quản-cơ, Thành-thủ-úy là chức võ quan hàm Tòng và Chánh tứ-phẩm (4-2, 4-1). Những người cầm đầu nghĩa-quân thời ấy đều có « chức » Đội-trưởng, Cai-đội, Phó-quản-cơ… Những « chức » nầy có khi do triều-đình phong, có khi « tự-phong », có khi nhơn quyền cai-quản đồn-điền mà « xưng », như ở vùng Hương-Điểm của chúng tôi có Đội-Ba, Đội Năm, Đội-Bẩy – lạ một điều là không nghe nói tới Đội-Hai, Đội-Tư, Đội-Sáu, Đội-Tám, có thể là ở vùng nào khác rất xa.Về hoạt động và tinh-thần của nghĩa-quân trong thời các Cụ Trương-Định, Nguyễn-Trung-Trực, Nguyễn-Hữu-Huân, tôi xin giới-thiệu cùng quý-vị độc-giả hai « kho tài liệu » hiếm có, nay khó tìm hay không còn tìm được, là bộ tuần-báo (?) Courrier de Saigon (xuất-bản hồi quân Pháp mới chiếm Nam-kỳ) và Phúc-trình hàng-tháng (Rapport mensuel) (a) – viết tay, vì thưở ấy chưa có máy đánh chữ của tham-biện (inspecteur) các tỉnh gởi về Soái-phủ Nam-kỳ.

[21] Lại cũng nhờ đọc các Phúc-trình đó, tôi được thấy minh-văn bức công-điện của viên tham-biện Tân-An mừng-rỡ cấp báo về Soái-phủ Nam-kỳ ngày 19-5-1875 (nhằm rằm tháng 4 năm ất-hợi) ; và nhờ bức điện-tín quý-hóa nầy mà tôi biết chắc-chắn Cụ Thủ-khoa Huân lên đoạn-đầu-đài và tôi được lợi-thế gợi chuyện với Bà Đồ Phú-Kiết, thuật trong Sử-Địa « Đặc san về Trương-Công-Định ». Bức công điện ấy thế nầy : « Huân exécuté ce soir 4 heures à Cailôc ». (Đã hành-quyết Thủ-khoa Huân tại Cai-lộc hồi 4 giờ chiều nay).(a) L.T.S. : Gần một năm nay, chính chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm những tài liệu này tại Văn khố Quốc gia, nhưng cho tới nay vẫn không thể làm được gì vì Văn khố Quốc gia bị vô cùng xáo trộn ; từ hơn một năm nay, văn khố bị di chuyển luôn, tới nay thì không có trụ sở, tài liệu bị vung vãi, các phiếu (fiches) bị xáo trộn và thất lạc, thật vô cùng bi thảm !(b) Buổi lễ tổ-chức vào ngày 24-6 năm Nhựt vừa lật Pháp, vì ngày 24-6-1867 là ngày Hà-Tiên bị chiếm, ngày toàn cõi Nam-kỳ thuộc Pháp !

[22] Người trong Nam nuôi chó, tùy màu lông mà đặt tên : Cò, lông trắng như cò ; Mực, lông đen như mực ; Vện, lông có vằn có vện ; Phèn, lông màu vàng sặm, đỏ hoe-hoe như màu gốc cây bị tươm phèn…

[23] Tôi vẫn ngờ về tên của Cụ Nguyễn-Văn-Điền.

Đánh máy : mopie, nhungphan1204, minhf, thao nguyen, quanhoangtrung, pham_my, Mia Chan, Vỹ Trạng, thuy3098, Rùa Biển, camchuongtim, pinkie_min, ganbunma Kiểm tra chính tả : Max Phạm, Trần Trung Hiếu, Nguyễn Văn Phẩm, Nguyễn Vân Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.