QUÁCH-TẤN, « Nước Non Bình-Định, Sài-Gòn, Nam Cường », 1967 :
Trong một loạt những địa phương chí viết gần đây, phải công nhận quyển « Nước non Bình-Định » của thi sĩ Quách-Tấn là có bề thế nhất. Học giả Nguyễn hiến Lê khi bày tỏ cảm tình nồng nhiệt trên Tân văn số 1, tháng 4-1968, đã chỉ giới hạn trong niềm thích thú văn nghệ từ tác phẩm đưa lại thôi chớ không phê bình, vì theo ông, ông « có biết chút gì về quê hương của thi sĩ Quách-Tấn đâu mà phê bình » ! Người đọc sách hôm nay tuy có hơn ông Nguyễn một chút đã sống dưới chân hòn núi Xương Cá, cũng nghe loáng thoáng chuyện ông khổng lồ ăn cá vứt xương, nhưng lớn lên trong khung cảnh loạn lạc, gặp gia biến, không đi được nhiều, đến lúc rời làng thì lại đi biệt tăm, cho nên cũng nóng lòng đón chờ và sốt sắng đọc tác phẩm của ông thầy một thuở dưới ánh đèn dầu những ngày bom đạn cũ.
Phải nói chuyện cảm tình để đáp ứng ý hướng tình cảm đã thúc đẩy công trình trứ tác in dấu khắp quyển sách. Trên 515 trang giấy, hễ có cảnh, có người nhắc tích truyện là có thơ : ca dao, thơ cảm hoài, thù tiếp của bạn bè, của chính tác giả cố tình ẩn danh nữa. Cũng vì lẽ đó, người viết đã để dành trên 2/3 sách nói chuyện lịch sử, tả cảnh núi non, ao đầm, bờ biển, sông suối… mà rõ ràng nhất, chi li nhất là chuyện quanh vùng Bình khê, quê hương tác giả. Kề bên, những đề mục « dân số », « kinh tế » lèo tèo năm ba trang như lạc loài trong một bố cục không tương ứng và tương xứng với nhau.
Thực ra, không thể nào chỉ trích gì được nhiều về tính chất pha trộn khảo cứu và văn nghệ của tác phẩm, một mặt vì chính bản thân tác giả là thi sĩ hơn là học giả, mặt khác vì xã hội hiện tại quả không thuận tiện cho một tác phẩm nghiên cứu xuất hiện, mà có phổ biến được xong cũng không tránh khỏi tiếng « khô khan ». Bởi vậy, không nên bắt ép tác giả phải thế này thế nọ. Cứ chịu dõi theo lời tác giả, ta sẽ được những tài liệu thấm nhuần một ý thức tâm lý xưa cũ mà tác giả cũng chưa thoát ra được. Tha hồ cho các nhà khảo cứu về sau chọn lựa !
Về lịch sử, chuyện tích của 3 anh em Tây-Sơn và Mai-Xuân-Thưởng nhiều và đáng chú ý nhất. Ta có thể gạt bỏ tài liệu truyền khẩu về thứ bực 3 anh em họ, nhưng chuyện về Đồng Cô Hầu chẳng hạn, thật đáng lưu giữ vì đã được xác nhận nơi khác là một địa điểm khởi quân quan trọng. Những chuyện bắt ngựa hoang, chém rắn, được kiếm đều là những bằng cớ về tin tưởng và mối tương giao xã hội trong vùng thời đó…
Nhưng lề lối giải thích sự kiện lịch sử do nguồn tin từ dân chúng chỉ được chấp nhận sau khi giải quyết mâu thuẫn này : một mặt trí nhớ dân chúng rất là kém cỏi, một mặt truyền thống lại có tính cách bền vững. Vấn đề đặt ra vì có tính cách phương pháp luận. Gọi trí nhớ dân chúng kém là cũng có bằng cớ : « Hầm Rùa ăn sâu vào núi… » (tr.102) không phải là một cổ tích gì cả. Đó chỉ là một loại hầm bí mật mà dân các xã quanh Kỳ sơn góp công, góp của – trong đó có người viết những dòng này – đào vào những năm 1952, 53 gì đó. Hiện nay nghe đâu du kích quân đang sử dụng những hầm đào dọc theo núi chớ không phải xuyên ngang nữa ! Vì lẽ đó, Hang chàng Lía (tr. 192-94) thực cũng đáng nghi là có bàn tay người Phù cát, An nhơn nhúng vào !
Và phương diện thổ tục học, ngoài những sự kiện trên còn có những điều có thể khai triển dưới ánh sáng của luận lý, hay theo một tầm mức ghi chép rộng rãi hơn : công tác khai phá, xã hội của các sư nơi những chùa hẻo lánh (sư chùa Linh Phong, nhà sư niệm kinh đưa người qua truông ở Màn Lăng…) sinh hoạt đặc biệt về một làng trên sông nước, lối thầu tư nhân trong hệ thống dẫn thủy nhập điền (đắp đập, thu hoa lợi vùng được hưởng nước), lối giải trí, ăn ở…
Mỗi thứ một ít trong một cuốn địa phương chí mà căn bản khảo sát là một nền tảng đất đai, cho nên địa lý có dấu vết lớn ở đây. Những khu vực núi non, những vùng đồng bằng, các ao đầm, hải đảo, chi tiết bờ biển mơ mộng lãng mạn va chạm với những con số thống kê khô khan về dân số, về sản lượng hoa màu, diện tích đất đai, đầu người ôm chân giáo chủ…
Tác giả không thể làm hơn được. Những con số chắc chắn đã được chính quyền địa phương ghi dùm. Qua tới địa lý hình thể thì được những câu tả cảnh tô vẽ thêm. Đến địa chất thì nhờ dân chúng che phủ bằng hoang đường : cái tombolo làm lấp cửa Cách Thử – sòng tát của ông Khổng lồ – núi Xương cá – cũng của ông Khổng lồ – hình như được thành lập nhờ vào một sức đẩy đứng từ dưới lên trên của vỏ quả đất ven bờ biển Đông ; dấu chân ông Khổng lồ – lại ông Khổng lồ ! – ở Hầm hố, Suối Đá trải hình như chỉ là các dấu nước xoáy ; giếng Tiên tạo bởi gốc cây Trầm hương đổ còn lại trên núi Cong có lẽ là một hồ nước miệng hỏa sơn cũ…
Quan niệm địa lý của tác giả – thu nhận của người xưa – là một quan niệm phong thủy : Nguyễn Nhạc bốc mộ ông thân táng vào huyệt của ông thầy Tàu, Nhạc bị thầy Tàu bịp bảo đào sông quanh thành Đồ bàn làm cắt đứt long mạch… Quan niệm phong thủy chi phối tư tưởng tác giả rõ rệt ngay ở lúc không phải kể chuyện xưa mà là lúc tả các hướng núi nối tiếp, quây quần với nhau :
« …Long mạch xuống hướng đông đến hòn Mạ Thiên sơn… thì hồi cố… Những ngọn núi chung quanh đều xây mặt về triều cũng như các vị đại thần đứng chầu một đấng anh quân. Còn gò đống kia là quần thần ». (tr. 50, 51)
Thực ra, chúng ta có thể rộng rãi đối với một quan niệm địa lý học như vậy.Trong quá khứ ở nước ta, có hai cách viết địa lý phù hợp với hai giai đoạn của một khoa học. Giai đoạn miêu tả ở các bài ca vè trong dân chúng (của ông Kiều ở Phù mỹ, của bài vè các chợ Phú-Yên…) Đám nho sĩ viết về địa lý cũng tả cảnh núi sông, nhưng tiến đến giai đoạn giải thích sự kiện và cố gắng thực hiện theo một ý hướng duy-lợi trong quan niệm địa lý phong thủy.
Do đó, ta không lấy làm lạ về sự lủng củng mới cũ pha trộn trong « Nước non Bình-Định ». Về khuyết điểm này, có lẽ ông Nguyễn-Văn-Tư (Non nước Phú-Yên, Tiền-Giang xuất bản, 1967) đã tránh được một ít. Có điều là mớ ý thức đạo đức lộ liễu hướng dẫn các địa phương chí trên, cũng như những sách đồng loại đang xuất hiện (Vĩnh-Long xưa và nay, Cần-Thơ xưa và nay… của Huỳnh-Minh) chỉ có thể biện hộ cho thiện chí người viết thôi. Mong mỏi của mỗi người là được thấy một địa phương chí trình bày một cách quân bình, sâu sắc, hay nếu muốn là một địa chỉ thì ít ra phải sàn sàn với quyển Le thanh hoa của Ch. Roberquain xuất bản từ 1929 ! Nhưng điều kiện khách quan của sự xuất hiện đó trước hết là một nền hòa bình vững bền để tạo được điều kiện phát triển văn hóa thì lại vẫn còn trong vòng mong mỏi. Cho nên hãy chờ vậy.
TẠ ĐẠI CHÍ TRƯỜNG
3-10-68.
*
NGUYỄN-THẾ-ANH, « Bán Đảo Ấn-Độ từ 1857 đến 1947 ».
(Các nét chính của sự diễn biến để tạo thành Ấn-Độ và Hồn Quốc ngày nay). Sài-Gòn, Trình Bầy, 1968.
Đối với độc giả Sử Địa, Nguyễn-Thế-Anh không phải là một người xa lạ. Có tên trong ban chủ biên nhưng đồng thời Ông cũng có bài đăng trong hầu hết các số đã phát hành. Giá trị của những bài Ông viết có thể bảo đảm một phần nào cho các sách của Ông.
Trong số trước, số 11, chúng tôi đã có dịp giới thiệu một tác phẩm sưu tầm, nghiên cứu của Nguyễn-Thế-Anh : Cuốn « Bibliographie critique sur les relations entre le Viet Nam et l’Occident » (Ouvrages et articles en langues occidentales). Cuốn này tiếc rằng viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở bên Pháp và không có bán ở Việt-Nam. Vì vậy nó khó có thể đến tay các độc giả ở Việt-Nam được. Trong số này, chúng tôi xin giới thiệu tiếp tác phẩm Bán đảo Ấn-Độ từ 1857 đến 1947, mới được xuất bản trong tủ sách Sử Địa của nhà Trình Bầy, của ông.
Đây là một tác phẩm có tính cách « giáo-khoa » và phổ thông nhiều hơn là một tác phẩm nghiên cứu, đúng như tác giả đã trình bày trong « Lời nói đầu ». Nó « chỉ là sự triển khai một bài giảng tại Đại Học Văn Khoa Huế trong niên khóa 1966-1967 mà mục đích là để hiến cho một nhóm sinh viên một khái niệm về giai đoạn lịch sử Ấn-Độ từ năm 1857 ».
Tuy nhiên nếu quan sát cách trình bày, theo dõi nội dung của tác phẩm, đồng thời đem đối chiếu nội dung này với nội dung của các tác phẩm mà ông đã dùng để tham khảo, người ta phải nói rằng Nguyễn-Thế-Anh đã rất công phu và rất sư phạm trong việc biên soạn. Toàn thể giai đoạn có thể nói là phức tạp khó giải thích của lịch sử Ấn-Độ kể trên cùng với những vấn đề của Ấn-Độ trong thời hiện đại đã được cô đọng trong 168 trang giấy. Cái khó thứ nhất của tác giả là ở chỗ đó. Gia dĩ đối với đa số độc giả Việt-Nam, kể cả các sinh viên, lịch sử Ấn-Độ tương đối hãy còn xa lạ. Trình bày giai đoạn 1857-1947, người ta không thể khởi đầu bằng năm 1857 với những biến cố chính trị mà còn phải đề cập tới những yếu tố căn bản khác như kinh tế, xã hội, văn hóa chủng tộc… của Ấn-Độ, những yếu tố rất cần thiết cho việc tìm hiểu lịch sử của Ấn-Độ. Những yếu tố này cũng được nói tới trong sách và được nói tới một cách đầy đủ, sáng sủa và không làm cho trình độ tác phẩm trở thành thấp kém. Sau đây là cách bố cục của tác phẩm :
Phần thứ nhất gần 4 chương nói về xứ Ấn-Độ dưới thời thuộc địa từ tình trạng xã hội tổ chức hành chánh, sinh hoạt nông thôn đến sự xuất hiện của những cơ cấu kỹ nghệ đầu tiên cùng với những vấn đề lớn, do những biến chuyển trong những thời gian này gây ra mà chính quyền thuộc địa phải đương đầu.
Phần thứ hai gồm 3 chương dành cho phong trào quốc gia Ấn và sự tranh đấu giành độc lập của Ấn-Độ. Một giai đoạn rất quan trọng của lịch sử Ấn-Độ hiện đại từ lúc nó mới phát sinh qua các cuộc tranh đấu của Thánh Gandhi đến thời độc lập trong qua phân.
Trong tình trạng thiếu thốn sách đọc và nhất là những sách có giá trị như hiện tại. Bán đảo Ấn-Độ từ 1857 đến 1947 chắc chắn sẽ được đón nhận và hoan nghênh.
CAO HOÀI