Tập San Sử Địa 12

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUNG QUANH VẤN-ĐỀ VIẾT SOẠN TIỂU-SỬ NGUYỄN-TRUNG-TRỰC CŨNG NHƯ CÁC NHÂN-VẬT LỊCH-SỬ KHÁC

❊ ❊ ❊

Bức thư để ngỏ gởi cho

ban Chủ-nhiệm Tập San Sử-địa

VƯƠNG HỒNG-SỂN

Nước Việt ta gẫm lại, cái chi cũng lớn lối, mật ít ruồi nhiều.

Xưng « phú hữu tứ hải », mà nhai cơm viện-trợ.

Xưng « bốn ngàn năm văn-hiến », mà học nhờ viết mướn.

Và không phải đợi đến hôm nay mới nói, trong xứ có cái nhà chứa đồ xưa, còn thua xa nhiều nhà các nước lân cận, lại lớn lối kẻ chữ vàng trên bảng hiệu « VIỆN bảo-tàng » và ông chủ nhà xưng « Giám-đốc ».Trong khi một nước khác, có tánh ưa khoe cái gì của nước mình cũng là « vĩ-đại » kỳ nầy lại khiêm tốn quá mức, bởi rứa, cái nhà chứa đồ cổ xứ họ lại dè dặt xưng « Bác-vật-quán » và ông chủ nhà vẫn xưng « quán-trưởng ». Cho hay lão quán cơm trong Lục-Vân-Tiên tài học hơn xa các Trịnh Hâm, các Bùi Kiệm đương thời.

Vô phước hơn nữa là khi nhắc đến sự tích một người chết, chết cho nước, chưa quá một trăm năm (1968-1868), thì sự tích đã lu mờ, muốn tưởng niệm đến diện mạo cũng không đâu còn ghi vẽ lại. Có vẽ lại chạm khắc lại chăng thì toàn là mặt mốc nịnh thần. Ngoài Bắc có chơn tượng Cụ Hoàng ở Thái-Hà-ấp (Cụ đặt). Vùng Huế có chơn dung Nguyễn Thân, sanh tiền xưng « cọp miền Trung » (cọp đặt). Trong Nam để lại một Tổng-đốc Cái-Bè, họ Trần giết dân như chém chuối, khi chết dặn chôn đứng, không hiểu ý muốn nói gì. Một ông nữa, còn tên trên một con đường thị-tứ (đường Tổng-đốc Phương).

Ông này, lúc công danh tột độ, làm choảnh treo một câu đối trước ngõ, thách thức : « TRONG CHỢ-LỚN, có NHÀ HỌ ĐỖ, ĐỖ MỘT NHÀ NGŨ PHƯỚC TAM ĐA ».

Một anh học trò khó, thấy chướng mắt, một hôm lén dán câu đáp lại : « CÙ-LAO RỒNG, CÓ LŨ THẰNG PHUNG, PHUN MỘT LŨ, CỬU TRÙNG BÁT NHà».

Khỏi nói sáng ngày, câu đối và câu đáp được chủ nhà dẹp luôn… Và viết đến đây, tôi bỗng nhớ lại mà ganh cái sức giàu tài-liệu của nước Pháp chẳng hạn. Thử lật chơi cuốn tự-điển nhỏ « Petit Larousse » của họ, tuy nhỏ mà đủ làm gương răn mình. Nơi phần lịch-sử, mỗi trang đều có chưng hình hấp dẫn : không kể hình vua chúa của họ, để dành từ hình vua Clovis chết từ năm 511 Tây-lịch, đến vua Louis XVI chết trên đoạn-đầu-đài, thậm chí con mụ ái-phi vua Louis XV cũng có hình nhí-nhảnh cho hậu sanh ngắm nghía. Ai tọc mạch muốn xem nhiều nữa, thì chỉ cho : trong cuốn Petit Larousse, bản in năm 1959, nơi :

- Trương 1521, có hình chúa-tể nước Trung-Hoa đỏ, Mao Tsé-Toung (Mao Trạch-Đông).

- Trương 1426, có tiểu-sử gãy gọn làm bảy hàng, nhưng không để hình, của Bác, của cụ Hồ ngoài Bắc.

- Trương 1315 có tiểu-sử bốn hàng, nhưng không để hình, của Ngô-Đình-Diệm, mất chữ lót còn vỏn vẹn Ngô Diệm. Và còn không hơi đâu mà kể cho hết…

Họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Trần đều có hình. Trái lại nhơn vật đáng có hình để lưu hậu-thế thì vẫn không : Định, Huân, Nguyễn-Tri-Phương, Nguyễn-Trung-Trực… Nực cười nữa, xin kể cho trót, tuy ngoại đề là tỷ dụ hình của một hoàng-đế da đen nước láng-giềng. Nguyên thuở nọ triều-đình nước ấy có gởi thơ qua Pháp-triều đặt đúc một tượng đồng của ông vua vừa thăng hà của xứ họ. Sẵn lúc ấy bên Pháp họ vừa lật đổ và truất phế hoàng-đế Napoléon III, chưa kịp đập phá bức tượng đồng của ông tạc hình một soái-quan mình ngồi ngựa mạnh, nay thợ căn dặn lập tượng hoàng-đế nhưng muốn tạc hình vận âu-phục cho thêm oai nghi, nên thợ Pháp bèn mót tượng Napoléon III ra xài nữa. Cựu hoàng có chơn chức Soái-hàm trong đạo quân Lê-dương của Pháp, Napoléon III và cựu hoàng vẫn phốp pháp mập mạp như nhau và ngựa nào như ngựa nấy, nên trá hình dễ quá. Thợ bèn cưa đầu vua Pháp lấy ra rồi đúc một cái đầu khác thật giống cựu hoàng nọ ráp vào cho đội trên mớ tóc hoa râm một cái kim-khôi hình Tháp bảy từng, rồi chở qua xứ bạn láng giềng, dựng lên trên một bực cao bằng đá trắng, nghiễm nhiên tượng đức vua lẫm lẫm oai phong đằng đằng sát khí, đố ai mà truy thấu sự trá hình kia : cũng cỡi tuấn-mã, cũng mặc triều-phục tước-phẩm như nhau, đố ai ngày nay biết được. Lâu ngày chim cò đến đậu và phóng uế làm hoen ố tượng đồng, nhơn dân thấy vậy giận sao chim hỗn, bèn xây thêm một cái nóc thật cao che trên toàn diện, để giữ gìn và truyền tử lưu tôn tượng một ông vua Pháp chắp, mình thì mình Tây, đầu thì đầu một ông vua da đen nước bạn. Ai không tin, hãy xin giấy thông hành qua bên xứ ấy nhìn xem cho thật kỹ thì biết.

Vài thí dụ khác, tỷ như trong trọn bộ sử Việt, đố ai biết nước ta lưu lại chơn dung nhơn vật lịch sử được mấy người ?

Theo tôi biết, chỉ có vỏn vẹn những nhơn vật sau đây :

1) Như hình vua Quang-Trung do thợ Tàu đời Kiền-Long vẽ năm 1790 ngặt nỗi sau rõ lại, đó là hình dung giả, của người khác đi thế vua Quang-Trung sang Tàu, như vậy không thể gọi đó là tượng vua Quang-Trung được (xem Đông-Thanh tạp-chí số 1 ngày 1-7-1932).

2) Hình Nguyễn-Trãi do thợ Tàu vẽ, có in lại trong Nam-Phong năm nọ.

3) Hình vua Gia-Long đội mão tròn, nhớ như còn treo ở Tôn-nhơn-phủ, Huế.

4) Hình đức vua Hàm-Nghi, chít khăn đen mặt ngó nghiêng.

5) Hình đức Thành-Thái ngồi xe song mã, vận âu-phục, đầu đội nón trắng (casque colonial). Hai hình 4 và 5, tôi thấy năm 1958 tại phủ thờ Thân-Trọng-Huề tại Huế, không biết nay còn chăng ?

6) Hình ba ông sứ-thần sang Pháp chuộc ba tỉnh Nam-kỳ : Phan-Thanh Giản, Phạm-Phú-Thứ và Ngụy-Khắc-Tuần. Ba hình nầy rõ nhứt, vì mới đây, do thợ Tây chụp và các sách báo sau nầy có họa lại nhiều lần.

7) Hình vua Duy-Tân lúc còn nhỏ, trong tập « Huế pittoresque » của tôi còn giữ kỹ tại nhà.

8) Hình vua Đồng-Khánh, trong tập Đô-thành hiếu-cổ có đăng.

9) Các hình khác chưa kể được lại nữa không quan trọng, tỷ như hình các quan Thượng gần đây (Tôn-Thất-Hân, Nguyễn-Hữu-Bài, v.v…) Chung qui hình cũ sót lại đếm không đầy mười đầu ngón tay. Đến như một mình vua Tự-Đức in trong đại-họa-báo Tây « L’Illustration » năm xưa, thì tôi lấy làm ngờ, vì vua ta (Tự-Đức) có tiếng là bịnh hoạn yếu đuối có đâu vạm vỡ to lớn như hình tôi thấy được. Theo tôi, đó cũng là giả tạo, và chụp hình vua lưu lại, duy có từ vua Đồng-Khánh mà thôi.

Quả thật hình kỷ niệm cổ-nhơn của nước nhà không dễ gì tìm. Luôn đây cho phép tôi nói một chuyện rất gần, kể về sự đi tìm tài-liệu và hình ảnh những nhơn vật lịch-sử. Trong Nam, lúc tôi còn nhỏ, rất thịnh hành sự nói thơ, quảng cáo ngầm cho kháng-chiến do người mù đàn độc huyền, phần nhiều là người xứ Quảng, trình bày hát dạo :

1) Thơ Cậu Hai-Miêng, tức con của Lãnh-binh Huỳnh-Công-Tấn : cha đầu Tây giúp Tây, bắt giết người chống đối với họ, còn con thì trái lại, bỏ sở thôi làm việc cho Pháp, và chuyên nghề tế khốn phò nguy, giúp kẻ yếu, trừng trị bọn gian tà bọn ỷ chúng hiếp cô, nhứt là thích đánh Tây cho bõ ghét mà Tây không làm gì Cậu được vì còn nhớ công của cha là Tấn. Có bài vè Cậu Hai-Miêng (Minh), tặng Cậu là « lưu linh miễn tử » và vì Cậu đi đến tỉnh nào hụt tiền thì vào mượn quan Tham-Biện tỉnh ấy nên dân phong cho Cậu danh « đáo xứ hữu tiền » như Lý-Thái-Bạch thuở xưa.

2) Thơ Sáu Trọng, một tên bồi làm cho Tây, có vợ là con Hai-Đẩu, rồi Trọng bị vợ phụ phàng và cắm sừng, lấy Tây ; Trọng giết Tây, bị gươm máy chém đầu. Tuy chết dữ nhưng dân làng dao búa lại xem đó là gương nên bắt chước.

3) Thơ Thầy Thông Chánh, bắn Biện-lý ở Trà-Vinh, giữa đám vui đua ngựa. Năm 1966, dịp may tôi tìm được trong một cuốn sách Pháp tàng trữ tại thơ-viện Hội Cổ-Học Ấn-Hoa (ở đậu trong viện bảo-tàng) hai bức hình chụp, một bức Thầy Thông Chánh ngồi ghế đẩu, chung quanh có lính mã-tà chụp chung, một bức nữa chụp lúc Thầy Thông Chánh bị đưa ra pháp trường cho gươm máy chặt đầu. Hai tài-liệu nầy rất quan trọng, vì tôi nhờ đó biết được :

a) cứ xem hình chụp Thầy Chánh không ốm, thì tích đồn Tây cho y uống thuốc làm cho rụng răng để Thầy không tự tử được trong khám giam, là nói dóc.

b) Tây không bụng khinh dễ Thầy Chánh, mặc dầu Thầy giết một đồng bào của chúng, vì dưới hai bức ảnh, Tây gọi « exécution de l’Annamite CHÁNH » (cuộc xử tử hình người An-Nam tên CHÁNH), thế là không khi dễ ; hình khác lại để « CHÁNH, assassin de M. Jaboin, Procureur de la République à Tra Vinh » (CHÁNH, kẻ ám-sát ông Jaboin, quan biện-lý ở Trà-vinh) ; vào đời Tây mới qua đây, hống hách là thường, thế mà câu văn viết như vậy là không khinh bạc và đã nể mình lắm chớ ? Hỏi kỹ lại, Thầy Chánh giết Biện-lý Tây là vì lão nầy, hết chỗ chơi, nhè vợ thầy mà mò. Thầy chết bị gươm máy chém, mà dân không sợ và hiểu trái ngược ý muốn của Tây. Dân xem gương Thầy Chánh là người hùng, dám ăn dám làm, không như nhiều người, vợ cho Tây, cho Mẽo mượn món đồ-chơi, lại còn hãnh diện. Tôi bắt được tài-liệu về Thầy Chánh, lại biết chắc năm xảy ra sự việc, tôi mừng quá, lật đật ôm sách đến nhờ một bạn thân và chuyên môn lành nghề, chụp cho tôi hai kiểu ảnh mỹ-thuật, y hệt trong sách cũ, tôi định phen nầy sẽ làm một cú « xăng-xa-xio-nen » (sensationnel), là sẽ trình bày lại kỹ càng khoa học vụ án « Thầy Thông Chánh, dám bắn Biện-lý Tây », vừa có hình minh chứng, vừa có thơ có vè ngâm nga và đọc chơi, và vừa có tài-liệu đích xác là bổn án Tòa để dò xem cách đối xử của Tây xưa… Nhưng cái hứng của tôi, vừa tới đây, đã tịt ngòi.

Tôi muốn tìm lại bài vè, nguyên văn bài thơ lục bát, lúc nhỏ tôi đã được nghe đầy lỗ tai, do mấy anh mù đờn độc huyền ngồi nói thơ tại chợ Sóc-Trăng, nơi các ngã tư hay gần các tiệm hút, kể lại rành rọt sự tích Thầy Thông Chánh nầy. Tôi tổ chức một bữa tiệc tại nhà. Các anh em có mặt, trong số có một ông ở Bến-Tre, một ông nữa ở Trà-Vinh, và một ông còn nhỏ tuổi, gốc gác người Rạch-Giá, nay mỗi tuần vẫn nghe tiếng nói trên Đài Phát-Thanh, ba ông đều hứa tìm giùm bổn thơ tôi đang cần dùng. Nhưng cho đến hôm nay, nước vẫn chảy dưới cầu, mà việc đâu còn đó, tại số Thầy Thông Chánh chưa đi đầu thai được. Bổn thơ nói về thầy, tôi nhớ lấy tôi được vài câu khởi đầu :

« Nhựt trình VĨNH-KÝ đặt ra,

Chép làm một bổn để mà xem chơi,

Trà-Vinh nhiều kẻ kỳ tài,

Có Thầy Thông Chánh thiệt người lớn gan… »

Nhớ tới đây rồi hết. Tôi không nhớ được, mà các bạn của tôi, duy khi nào có rượu có động dao động thớt thì mới thấy mặt. Cái câu : « Anh Vương cứ yên tâm. Để đó cho các em. Anh đừng lo. Hễ tôi về tới xứ sở, tôi hỏi lại kỹ rồi tôi chép ngay gởi lên anh tức thì ». Câu ấy tôi còn nghe văng vẳng bên tai, nhưng tôi đã biết dư và không lấy làm lạ lắm. Bạn tôi ba người, có đứa mắc lo « gả chị vợ », đứa bận lo « nuôi vợ người ta đẻ », đứa chót không lo gì hết, nhưng có làm gì có ích đâu, ngoài việc đi nhóm đi hội, trông mong tiền xúp.

Bỏ chuyện đi tìm bài vè, nhớ lại muốn có một bản sao lục án tòa để giải thích nguyên do Thầy Thông Chánh trở nên người sát nhơn, tôi hy vọng tràn trề và nghĩ trong bụng cửa công, nhứt là quan tòa, làm gì cũng đúng đắn hơn mấy anh bạn trời đánh. Muốn lên Pháp-đình, tôi phải lôi trong tủ bộ đồ lớn mốc meo ra, thắt cà-vạt sắm từ đời mồ ma ông Diệm còn làm Tổng-Thống, chơn mang giày đen có cột dây hẳn hoi, đoạn lễ phép lên xin ra mắt ông Chưởng-lý tòa phá án, có tiếng là hiền, công minh và rất cao cờ. Ông tiếp tôi quả có niềm nở thật, nhưng khi tôi trình bày câu chuyện đưa tôi đến làm rộn ông, ông nắm tay gục gặc đưa tôi ra khỏi cửa phòng với câu dè dặt thường lệ trên miệng quan : « Hãy về, tôi sẽ cho tìm… » Tìm cách này mà một tháng trôi qua rồi hai rồi ba, tôi đếm đủ đầu ngón tay hai bàn… Kế ông cao cờ về hưu thâm niên, và bản án chữ đại-tự (tôi muốn nói cái grosse) vụ xử đại hình Thầy Thông Chánh cho đến nay, nước cứ trôi qua cầu, tôi vẫn chưa thấy mặt :

- Hoặc bản án nầy đã lạc mất, bị mối ăn hay có kẻ chọt rồi. Như vậy thì số phận văn khố Pháp-đình không hơn gì số phận văn khố quốc-gia. Và lỗi tại ai ?

- Hoặc vẫn còn đó, nhưng để ở một chỗ nào, lâu năm quá, nay không còn biết mà cũng không muốn biết tới nữa. Vì bụi bặm, vì sợ vi trùng, vì lịnh ông quan sắp về hưu đã mất hiệu lực, nên ông giữ kho trả lời phứt « không có » để chôn luôn.

Không chịu khó tìm là không làm hết phận sự. Nếu chờ có cục xà-bông rửa tay, chai dầu gió khử vi trùng và chút lễ mễ, thì là việc khác. Đây là Pháp-đình, tôi xin gạt vấn-đề nầy và ý nghĩa nầy ra ngoài. Nhưng nếu có chút ấy mà xong việc thì, theo tôi tưởng tôi sẵn lòng, còn hơn giữ nét liêm mà làm việc nhận chìm xuồng. Ông bạn Tuần-Lý nghĩ sao ?

Nhưng mãn sa đà, mà suýt lạc đề. Trở lại tiểu-sử Nguyễn-Trung Trực, phải nhìn nhận thật là khó viết cho đầy đủ. Chánh-phủ Nam-triều không để lại tài-liệu nào. Chánh-phủ Pháp thì tài-liệu rời rạc.

Vào thời đó, 1868, quan cai-trị vừa là quan Tòa. Hết võ quan hải-quân cầm quyền sanh sát, đến lượt quan tham-biện vừa làm bên bố vừa kiêm bên niết, sau đó mới có phân chia quyền cai-trị quyền xử-đoán ra riêng biệt. Rồi sau nữa tách ra thêm sở liêm-phóng, sở công-an, sở cảnh-sát, v.v… khiến cho một tài-liệu cỏn con thuộc về lớp trước, nay muốn tra tầm, phải dày công sao lục, và còn tùy ở nhiều sự may rủi :

- Văn-khố Bộ Thủy-binh Pháp giữ một mớ (archives du Ministère de la Marine française).

- Văn-khố Bộ Thuộc-địa Pháp giữ một mớ (archives du Ministère de Colonies).

- Văn-khố Ngoại-quốc truyền-giáo-hội (Archives de la Société des mission étrangères), về các việc như bắt đạo, truyền bá đạo Thiên-chúa, v.v…)

- Văn-khố Toàn-quyền Đông-Dương Pháp, sau nầy là văn khố Quốc-Gia Việt-Nam, trước ở Hà-Nội, sau dời về Sài-Gòn và từ ngày trụ-sở Bộ Văn-Hóa nhường chỗ cho Phủ Thủ-Tướng, thì phiêu lưu không biết ở đâu mà chỉ cho trúng (xem bài kêu ca trong tập san Nghiên-cứu văn học số 7-8 năm 1968).

- Văn-khố tàng trữ tại số 34 đường Gia-Long, Sài-Gòn (trước Nam-kỳ sau gọi Nam phần Việt-Nam).

Và nhiều văn khố nữa, như văn khố đường Nguyễn-Du, số 72 [1] sau bị đuổi, đồng cảnh ngộ Văn-khố quốc-gia, nay không biết đùm đậu nơi đâu. Trong các văn khố có văn khố sở Liêm-Phóng (Mật thám Catinat) phong-phú nhứt, vì tàng trữ tài-liệu, sách báo lâu đời (từ Nguyễn-An-Ninh đến các nhà cách-mạng khác), sau nhập về kho sở Thông-tin Báo chí Tuyên-truyền Pháp (Service-Information-Presse-Propagande, viết tắt I.P.P., nay không biết về đâu) ?

*

Nếu nay tôi viết lại soạn lại (nhưng tôi đã già và không có thì giờ nữa rồi) tiểu-sử Nguyễn-Trung-Trực, tôi sẽ tìm cách sưu tầm và khai thác những tài liệu chung quanh vấn-đề chánh, như kiếm và đọc lại :

- Hồ sơ Huỳnh-Công-Tấn (nếu có ở các văn-khố kể trên)

- Hồ-sơ Đỗ-Hữu-Phương (n.t.)

- Hồ-sơ Trần-Bá-Lộc (n.t.)

- Hồ sơ các nhơn-vật Pháp đồng thời (Luro, Vial, v.v…)

Một tài liệu nhỏ, tập hồ sơ các người nhập Pháp-tịch, được thăng thưởng, được « mề-đay » có khi một cách bất ngờ cho ta một chi tiết quan trọng về nhơn vật ta muốn viết tiểu-sử.

Các tài-liệu trong Schreiner, de la Barrière, v.v… đã được hai bạn Ngọc-Linh và Sơn-Nam khai thác để viết tập nhỏ « Nguyễn-Trung-Trực, anh hùng dân chài » (Phù-Sa xuất bản năm 1959) gần hết rồi. Theo tôi tập nhỏ nầy viết kỹ và khá đầy đủ, công-phu nhứt.

Nhưng như đã nói, viết sử soạn sử là ăn mía ngọt, nhai đi nhai lại một cái bã cũ mèm. Tôi vì liệu sức và vì thấy còn phải soạn bài khác nên không dám ôm đồm việc nầy. Tôi chỉ cho các bạn nào muốn thử viết về Nguyễn-Trung-Trực, xin đừng nhắm ngay về ông mà viết và nên đọc cho thật nhiều tài-liệu chất chứa trong các sách báo cũ, hoặc đọc được các tài-liệu văn-khố kể trên, rồi tìm cách tự nơi mình gạt bỏ những chi-tiết rườm rà vặt vãnh, giải thoát và lọc lại những đoạn cần yếu, nhấn mạnh vài chỗ quan trọng mình xét thấy được, thì tôi dám chắc, sẽ không uổng công-phu đọc khảo, chọn lọc và sưu tầm.

Riêng tôi, sẵn tánh ham khảo cổ và ham hiểu biết thêm về sử-liệu, tôi xin kể chơi lại đây hai bằng chứng trước mắt để đánh dấu tình-hình xã hội ngoài Huế-đô và trong Nam-kỳ, vào những năm chung quanh cái năm qui thần của Nguyễn-Trung-Trực : năm 1868 dương-lịch trùng với năm âm-lịch Mậu-thân đời vua Tự-Đức.

- Bằng chứng thứ nhất là cái tô tôi tìm được tại Huế, tôi đã nhắc lại kỹ càng trong số Bách Khoa thời-đại 275 và 276 (xin tìm đọc chớ ở đây tôi không nhắc lại). CĂN CỨ THEO CÁI TÔ NẦY, DO MỘT ĐẠI-THẦN NGOÀI HUẾ ĐẶT THỢ TRUNG-HOA LÀM VÀO NĂM NƯỚC NHÀ CÓ VIỆC (1868), THÌ TÔI HIỂU CÁC QUAN NGOÀI NỚ KHÔNG QUAN TÂM VIỆC NƯỚC CHO LẮM VÀ CHỈ THỪA DỊP NÀO THUẬN TIỆN THÌ LO RIÊNG VIỆC MÌNH. (Đặt làm tô để thờ trong từ-đường gia-tộc mình). (Sắm đồ ngoạn-hảo là việc chỉ nên làm buổi thái bình).

- Trong khi ấy tại Sài-Gòn, Tây lo củng cố địa vị và bày trò chơi tiêu-khiển vui đùa cho dân quên việc nước, cũng như tạo các cầu kiều đồ sộ dân thấy lực lượng và khả năng của Tây, tỷ dụ như xây cầu Thị-Nghè gần vườn Bách-Thảo mà năm nay đúng một trăm năm thì chúng ta lại phá bỏ để xây cầu khác hợp thời-đại nầy hơn (và cũng đánh dấu một kỷ-nguyên mới).

Như vậy, theo tôi thấy, triều-đình Huế phó thác việc kháng Pháp cho dân Miền Nam tự đảm đương lấy. Trong khi ấy, vừa hèn nhát vừa hiểm độc, triều-đình còn giả bộ khiển trách và không nhìn nhận sự kháng Pháp lẻ loi của các nhóm có đầu óc ấy. Một mặt khác lại ám trợ bằng cách gởi súng lớn vào Nam cho Tây bắt được, có bằng cớ dằn mặt triều đình Huế, thật là giấu đầu lòi đuôi.

Ngón cờ của Tây thật là thâm độc. Tôi xin tóm tắt những việc quan trọng xảy ra trong những năm nầy :

Vả chăng đất Nam-kỳ lục-tỉnh của Nguyễn-triều khai phá để lại gồm :

- Ba tỉnh Miền Đông (Biên-Hòa, Gia-Định, Định-Tường), thì đã bị Tây chiếm đoạt và bắt nhượng cho chúng theo điều ước ký ngày 5-6-1862.

- Ba tỉnh Miền Tây (Vĩnh-Long, Châu-Đốc, Hà-Tiên), cũng bị Tây đánh lấy vào năm 1867.

Sau đó Lục-Tỉnh Nam-Kỳ bị Tây nuốt trọn và bị cắt nhượng hẳn cho chúng nó theo điều-ước ký ngày 15-3-1874, nhưng từ năm 1867 thì kể như không còn trong tay triều đình Huế nữa, mất rồi.

Trong khi ấy, ngày 11-8-1863, xứ Cao-Miên ký với Pháp điều-ước thỏa thuận chịu đặt dưới quyền bảo-hộ của Lang-sa.

Như vậy năm 1868 là năm thứ nhì sau khi Tây đoạt ngon lành sáu tỉnh béo mỡ Miền Nam.

Nói chí đáng, nước Nam ta lúc ấy bị cắt đất cầu hòa, thì ít nữa cũng kháng cự tận lực và oanh liệt như cô gái cô-đơn bị thằng giặc mạnh và đông người xúm bắt và cưỡng bức. Nực cười chị gái da ngâm ngâm đen – cô bạn láng giềng vú bự, chưa chi thấy oai thằng Pháp đã lật đật mở chăn váy tự hiến thân, cũng như bây giờ, lịch-sử là cuộc tái-diễn đời đời trở đi trở lại, bây giờ cũng rập rận mong việc ngoại tình ;

Dân Miền Nam nói ít làm nhiều ; Trương-Công-Định, Nguyễn-Hữu-Huân, Nguyễn-Trung-Trực, mỗi người một cách và mỗi địa-phương, chỉ biết vua nhục thì tôi nhục, vua giữ HIẾU với tổ-tiên, tôi giữ TRUNG với quân-vương thủy-thổ. Cái chết của Trực sau nầy, vì mẹ và vợ bị bắt, và cũng vì thằng bạn cũ (Huỳnh-Công-Tấn) cám dỗ gạt gẫm một phần.

Tôi có cái tật ham nói sa đà mà gần lạc đề. Nay xin trở lại kể những năm quan trọng trước cái chết của người anh hùng :

- Ngày 10-12-1861, là năm Hỏa-hồng Nhựt-Tảo, Nguyễn-Trung-Trực đốt tàu Tây, khiến Tây để ý đến Trực và theo dõi hoài hoài cho đến chết mới thôi. Năm ấy, Trực vừa hai-mươi-hai tuổi.

- Năm 1862-1863 là năm Trương-Công-Định chống Pháp kịch liệt ở Gò-Công, gây bối rối cho Tây không ít.

- Năm 1864, Trương-Công-Định đền nợ nước ở Kiển-Phước.

- Cũng năm 1864, Nguyễn-Hữu-Huân bị đày sang đảo Réunion rồi kế được tha cho về để ở nhà Đỗ-Hữu-Phương, cảnh ngộ gần như của Cụ Nguyễn-Khuyến phải ngồi dạy học bầy con cháu Hoàng-Cao-Khải ngoài Bắc.

- Năm 1866, có bày ra cuộc đấu xảo sản phẩm canh-nông và kỹ-nghệ lần thứ nhứt tại Sài-Gòn, khai mạc 25-2-1866 ; bế mạc 3-3-1866.

Nơi triển lãm : vùng đầu cầu Thị-Nghè ngày nay ngang Vườn Thảo-Cầm phía bên đất nhà binh ngày nay (Đài phát Thanh Quân-Đội).

Người đứng khai mạc là Soái De la Grandière.

Có mặt dự lễ là quan Phan-Thanh-Giản và ông Tôn-Thọ-Tường, ông Trương-Vĩnh-Ký, v.v…

Các vật đấu xảo : đồ nữ trang vàng bạc do thợ khéo Sa-Đéc làm, ngà voi ; chưn voi bịt bạc nơi móng làm ống đựng ngũ sự, bát bửu, các thổ sản địa-phương : bạch đậu khấu, quế, trầm, hồ tiêu, sáp, mật ong, chiếu lác cạp điều, nón lông, quạt lông…

- Cũng năm 1866, Thiên-hộ Dương, sau trận Tháp Mười (tháng 4 năm 1866) không còn là lực lượng kháng Pháp đáng kể.

- Năm 1867, ngày 20 tháng sáu, De la Grandière dùng binh-lực, võ-lực, áp bức quan kinh-lược Phan-Thanh-Giản nhượng thành Vĩnh-Long, sai linh san-đá lên chiếm giữ Vĩnh-Long (đêm 21 rạng 22) sai lính đi chiếm Châu-Đốc (cũng đêm 21-22) và đi lấy Hà-Tiên (24-6-1867).

- Cũng khi ấy Tây chiếm Rạch-Giá (1867).

- Ngày 14-11-1867, Tôn-Thọ-Tường cùng đi với Đỗ-Hữu-Phương xuống Bến-Tre, đến Gảnh Mù-U [2] thuyết hòa và dụ hàng các con ông Phan-Thanh-Giản, nhưng việc bất thành.

- Ngày 25-1-1868 (mồng một tết Mậu-thìn) có một chiếc tàu của triều-đình Huế vào sông Sài-Gòn chở sứ bộ bàn lập hòa-ước Việt-Pháp định thay thế hòa-ước năm 1862, nhưng rốt cuộc hòa-ước 1868 không được Pháp-đình chuẩn y (theo Khuông-Việt, Tôn-Thọ-Tường, bản 1942, trương 62).

- Ngày 27-2-1868, Tôn-Thọ-Tường và Trương-Vĩnh-Ký được giao-phó trách nhiệm qui định lối viết tên những thị trấn của xứ Nam-Kỳ và điều hòa cách đo lường đã thông dụng của ta và phép đo lường của người Pháp (Khuông-Việt, Tôn-Thọ-Tường, tr.62). Tài-liệu nầy cho ta thấy năm ấy (1868), bề thế của Pháp tại đây đã vững chắc lắm rồi.

- Cũng năm 1868, trong khi Tôn-Thọ-Tường ngồi trấn tại quận Vũng-Liêm (thuộc Vĩnh-Long) thì có Nguyễn-văn-Chắt (một cụ già ngoài 60 tuổi) khởi nghĩa tại Vĩnh-Long và có Lê-Công-Thành, Phạm-Văn-Đồng, Lâm-Lễ, Âu-Dương-Lân, khuấy rối các tỉnh Vĩnh-Long, Long-Xuyên, và Cần-Thơ (Khuông-Việt, Tôn-Thọ-Tường, tr.68).

- Ngày 16-6-1868, Nguyễn-Trung-Trực đánh úp Rạch-Giá, giữ được đến ngày 21-6.

- Năm 1868, sau trận Rạch-Giá, Trực lui về cố thủ tại Phú-Quốc. Mẹ và gia-đình bị phe Tây bắt. Binh tàn, thế tận, Trực chán nản tự sai bộ-hạ trói mình đem nạp cho Tấn và Tấn khoe bắt sống được Trực. Việc xảy ra sau đó và việc Trực thọ hình, tôi không biên vì quá đau đớn cho người liệt sĩ và đã có người khác biên chép thế tôi. Nguyễn-Trung-Trực bị hành hình tại Rạch-Giá ngày 27-9-1868, tuổi vừa ba-mươi. « Mạng ấy đoản mà danh ấy thọ » nay ông hưởng hương khói làng Vĩnh-Thanh-Vân (Rạch-Giá) ngàn thu. Không hổ với hai anh hùng đời xưa : Hạng Võ và Hàn Tín đều mất năm ba-mươi-hai tuổi.

Không như Huỳnh-Công-Tấn, lót chữ « công » chi cho thêm thẹn. Lúc sanh tiền, Tây trọng vọng, khi thác, Tây dạy xây bia nhắc đời trước chợ Gò-Công, và lấy tên đặt cho chiếc tàu là « Chaloupe Lãnh-binh Tấn ». Tưởng là trường-cửu. Té ra Việt-Nam được độc lập ngày nào (1945), thì bia Huỳnh-Tấn bị phá bỏ, đến con cháu nay cũng không dám khoe danh. Tấn chết bịnh ngày 26-XI-1874 để lại danh nhỏ. Sống, thọ làm chi cho chật đất. Trực chết yểu, nhưng được thành thần. Và có gì quí cho bằng « sanh vi tướng, tử vi thần » như Trực. Lại nữa, câu thi cổ từng khuyên : « mỹ-nhân, danh-tướng chớ để cho người thấy bạc đầu » (mỹ nhân tự hữu như danh tướng, bất kiến nhơn gian đáo bạch đầu) [3]. Vua Gia-Long, vua Minh-Mạng chẳng là chúa của Lê-Văn-Duyệt. Nhưng đời hai chúa lui dần vào dĩ-vãng, trong khi ấy gương một tôi trung chói lòa cùng nhựt nguyệt. Và ông Lê-Văn-Duyệt hưởng hương khói thiên thu. Tôi không chắc Nguyễn-Trung-Trực lúc sanh tiền có yết kiến thiên nhan vua Dực-Tôn ? Nhưng Trực chết vì vua vì nước và ngày nay nhơn dân tỉnh Rạch-Giá còn sùng bái gương nghĩa-khí và lập miếu thờ.

Tái bút : Thơ gõ khá dài mà lại không sát đề. Xin ông bạn miễn chấp. Tôi chẳng qua học lỏm, thấy sao nói vậy. Một điều ân hận, luôn tiện xin nói luôn, là như cây cầu Thị-Nghè, vừa đúng một trăm tuổi thì bị phá luôn, thay cây cầu khác, cũng như những cây cổ thọ trồng hai bên lề các con đường Sài-Gòn, vừa có tàn cho bóng mát thì bị cốt bị hạ, mở con đường thêm bề rộng bề ngang, không bị đốn cũng chết ngộp vì nạn khai quang, cứ cái đà nầy tiếp diễn thì chẳng bao lâu Sài-Gòn không còn chi là cổ tích. Mả mồ xưa cũng phá, dẹp chỗ xây cao ốc, nhà xưa chê nhiều cột, đường xưa chê không đủ bề rộng cho xe tránh. Văn-minh mới dường như giá rất đắt mà kết quả ra sao, vẫn chưa thấy. Văn-minh cũ, ngày nay có người vội chê bất hạp thời, nhưng văn-minh cũ ấy từng sản xuất một Phan-Thanh-Giản trong nhóm học trò, một Nguyễn-Tri-Phương, một Trương-Công-Định trong giới cầm đao múa võ, và trong giới dân chài ít học lại có Nguyễn-Trung-Trực và biết bao nhiêu liệt-sĩ vô danh chết xiêu mồ lạc mả, chết không ai biết. Ông bạn nghĩ sao ?

Gia-Định ngày 10 tháng 10 dương-lịch 1968

VƯƠNG-HỒNG-SỂN

❀ ❀ ❀

[1] L.T.S : Trụ sở 72 Nguyễn-Du trước đây là trụ sở lưu trữ chính của Văn Khố Quốc Gia. Vì chật hẹp, nên Văn Khố Quốc Gia phải gửi nhờ ở nhiều nơi như Thư Viện Quốc Gia (34 Gia-Long), Tổng Thư Viện Quốc Gia, 1 kho của Bộ Tài Chánh tại đường Thái-Lập-Thành, v.v…

[2] Xin lưu ý : Vì cụ Phan sanh tại Gảnh Mù-U, mà bông Mù-U thì trắng khi còn búp đẹp và dân Miền Nam thường dùng thế cho bạch-mai, nên Cụ Phan lấy hiệu là « Mai-khê tiên-sanh ». Gảnh Mù-U đi lần đến Rạch Cái-Mít. Có một ông Cử dịch ra quốc-ngữ Rạch Cái-Mít là Ba-La-Đà, thật là điếc con ráy.

[3] Câu nầy tôi nhớ thuộc lòng, nếu có sai xin nhờ dạy lại. V.h.S

Đánh máy : mopie, nhungphan1204, minhf, thao nguyen, quanhoangtrung, pham_my, Mia Chan, Vỹ Trạng, thuy3098, Rùa Biển, camchuongtim, pinkie_min, ganbunma Kiểm tra chính tả : Max Phạm, Trần Trung Hiếu, Nguyễn Văn Phẩm, Nguyễn Vân Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.