Không Lạc Lối Ở Birmingham

Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Birmingham, kỷ vật từ cuộc chiến

❊ ❊ ❊

B

irmingham nằm ở miền Trung nước Anh về phía Tây, là thành phố lớn thứ hai chỉ sau London. Nơi ấy thật khác lạ so với những thành phố châu Âu tôi từng đến, bởi lẽ Birmingham là một trong những thành phố đã trải qua công cuộc công nghiệp hóa nặng nề vào thế kỷ thứ 18 tại Anh. Vì thế, nét đẹp yêu kiều mà chúng ta thường mường tượng khi nghĩ đến châu Âu không xuất hiện nhiều ở thành phố này. Có chăng chỉ phảng phất đâu đó trên những bức tường gạch đỏ trường Đại học Birmingham hay trên mặt nước mát lạnh của con kênh chảy dài qua từng góc phố mà thôi.

Lần đầu tiên tôi đi thăm trường Đại học Birmingham là lúc tôi chuẩn bị kết thúc A-level. Tôi nhớ ngày ấy mình đã dậy thật sớm bắt chuyến tàu lúc 5 giờ 45 sáng từ Cambridge đến Birmingham. Tôi đã háo hức cả chuyến tàu dài, chỉ mong nhìn ngắm được thành phố mà rồi đây sẽ lưu trữ những năm tháng tuổi trẻ ngây thơ của tôi. Thế nhưng khi đến nơi, sự háo hức ấy bị thay thế bởi những cảm xúc đối lập đan xen lẫn nhau. Tôi vừa choáng ngợp trước ngôi trường trăm năm tuổi cổ kính đứng sừng sững như những tòa lâu đài san sát nhau, vừa bần thần trước sự cằn cỗi của vạn vật chung quanh. Đi dọc những con đường, lướt qua những vỡ vụn gạch đá từ các nhà kho và xưởng may bị bỏ hoang, hay những ngọn đồi hoang vu gần trường đại học, tôi không khỏi xót xa khi thấy tàn dư của một thành phố trước đây đã cống hiến hết cả tài nguyên của mình cho nền công nghiệp nước Anh vững mạnh.

img349

Một góc quảng trường lớn tại trung tâm thành phố.

img351

Con kênh Birmingham.

Dù thành phố ấy không lãng mạn như Cambridge, cũng chẳng hào nhoáng như London, nhưng cũng đã giữ chân tôi suốt ba, bốn năm trời tại đó. Đối với tôi, nếu Birmingham là một con người, đó chắc chắn là một thương binh già đầy kinh nghiệm, cả đời lặng thầm chinh chiến cho đất nước yêu thương của mình mà không đoái hoài một huy chương hay sự vinh danh nào cả. Và vì thế, sau một khoảng thời gian ngắn sống tại đó, tôi nhận ra vẻ đẹp không nhất thiết phải là sự đồng điệu hoàn hảo, mà chính là những vết sẹo kinh nghiệm, những vỡ vụn gạch đá tàn phế, hay những tàn tích bom đạn từ hai cuộc Thế chiến liên tiếp. Những điều đó đã làm nên vẻ đẹp thật thà và đơn giản lạ kỳ tại Birmingham.

Nếu nhìn chung, thì có lẽ, điểm sáng giá nhất ở đây chính là trường đại học nổi tiếng tọa lạc tại ngoại ô Edgbaston. Từ sân ga New Street trung tâm, nếu bạn bắt chuyến tàu hướng Longbridge của công ty đường sắt London Midlands, thì chỉ cần ngồi hai chặng ngắn là đến trạm dừng University. Đó là ga tàu của trường đại học tôi. Được thành lập từ năm 1828 với tên gọi đầu tiên là Queen’s College Birmingham, đến năm 1900 trường chính thức đổi tên thành University of Birmingham, và trở thành trường đại học gạch đỏ (Red Brick) đầu tiên được trao tặng Hiến chương Hoàng gia (Royal Charter). Ngày nay, trường đại học của tôi vẫn luôn được lấy làm ví dụ tiêu biểu khi người ta nhắc đến top 24 trường danh giá tại Anh quốc.

Giữa trường có một cái tháp đồng hồ. Bên dưới là một cổng vòm, nhưng không học sinh nào dám đi luồn qua đó cả. Bởi có một tin đồn dị đoan từ xưa rằng nếu người xui xẻo nào đang đi dưới chân tháp ngay lúc đồng hồ điểm giờ “Boong! Boong!” thì đó là điềm báo sinh viên ấy sẽ rớt bằng cử nhân. Vào những ngày trời sương mù giăng kín, nếu nhìn từ cửa sổ phòng trọ của tôi ra khuôn viên nhà trường, sẽ thấy những hai ông trăng; một ông trăng treo lơ lửng tít trên vũ trụ, ông còn lại là mặt đồng hồ của trường soi sáng cho những sinh viên về khuya sau những đêm miệt mài thư viện. Tôi vẫn thường nhấp một ngụm trà nóng nhìn xuống những con đường tối tăm và ướt mưa, vì thời tiết ở Birmingham tối nào cũng ủ rũ như hoài nhớ về một thời hoàng kim chinh chiến của mình.

Thời sinh viên, tôi rất thích đi phiên chợ đồ cổ được tổ chức mỗi năm chỉ vài lần, tại sảnh lớn của tòa thị chính thành phố. Dù rơi vào mùa Đông giá lạnh hay mùa Hè nóng ẩm, tôi vẫn thấy người ta xếp hàng rất dài để vào ngắm nghía những món đồ không còn sản xuất nữa. Người bán buôn ở đó chẳng phải những thương gia, chuyên gia đồ cổ, họ chỉ đơn thuần là những người dân bản xứ với đam mê về thời quá khứ mà thôi. Thông thường, họ sẽ đem những món đồ cũ kỹ như chén, bát sứ được sản xuất tại Anh hoặc Pháp, những chai nước hoa hình thù lạ mắt đã ngưng sản xuất, những loại nữ trang ngọc trai, gương lược bằng đồng, hoặc áo quần từ những năm 1960 – 1980 trong nhà của mình ra trưng bày. Những phiên chợ ấy là một nét văn hóa đặc trưng rất đáng yêu của người Anh, mà đến giờ khi đã an cư tại Canada, tôi vẫn nhớ mong được một lần đi lại những phiên chợ đồ cổ, và được sống trong không khí hoài niệm ấy.

img355

Tháp đồng hồ vào chiều tà.

img357

Hình chụp mẹ tôi trước tòa thị chính của Birmingham.

img359

Tòa thị chính của Birmingham.

img362

Chợ đồ cổ được tổ chức trong tòa thị chính của thành phố.

Trong một lần đi dạo chợ, tôi dừng lại trước sạp bán hàng của một cặp vợ chồng lớn tuổi, chắc đã 70. Người chồng cao ráo, tóc chỉ còn lơ thơ vài sợi bạc trắng. Ông mặc một chiếc áo sơ-mi ngắn tay, bên ngoài là chiếc áo ghi-lê bằng len với họa tiết ca-rô. Người vợ nhỏ người nhưng tròn trịa, trông bà vẫn còn tinh anh khi đeo cặp kiếng đồi mồi, cầm cây viết hí hoáy ghi chép điều gì đó vào cuốn sổ tay. Điều khiến tôi lấy làm thú vị ở sạp bán của hai ông bà là giữa những chiếc đồng hồ lên dây bằng đồng, những cái chuông nhỏ không biết họ sưu tầm từ đâu, có một chiếc nón bê-rê màu đỏ với huy hiệu của Không quân Việt Nam. Cầm chiếc nón ấy lên tôi không khỏi ngạc nhiên. Nhìn hai ông bà Tây, tôi tự hỏi sao họ lại có chiếc mũ đến từ Việt Nam thế này.

img364

Những món đồ trang sức cổ được bày bán.

“Chiếc nón này ta chỉ để trưng chứ không bán.” – Ông lão lên tiếng khi thấy tôi mân mê chiếc nón, rồi với chất giọng khàn khàn, ông nói thêm – “Ngoài ra, ta đều bán hết. Cháu có thích cái đồng hồ này không? Nó vẫn còn chạy được đấy.”

Bà lão kéo cặp kiếng xuống sống mũi cao cao, ngước lên nhìn chồng mình rồi nói với tôi: “Chồng bà quý cái nón ấy lắm. Ông ấy mang về từ chiến tranh Việt Nam đấy.”

Nghe tới đó, tôi liền nói: “Cháu sinh ra ở Việt Nam, và sang Anh du học. Cháu là người Việt Nam. Ông đã từng tham gia vào chiến tranh ở Việt Nam sao?”.

Từng lớp da trĩu nặng trên mí mắt ông lão bỗng nhướng lên đầy hứng khởi: “Cháu là người Việt Nam sao?”. Nói đoạn, ông chống hai tay trên chiếc ghế bố mình đang ngồi, lom khom đứng dậy, rồi đưa một bàn tay xéo lên trán, sắc mặt nghiêm nghị chào tôi như thể tôi cũng là một người lính đang đứng trước ông. Cặp mắt xanh của ông nhìn về xa xôi bỗng trở nên linh hoạt như đó là cặp mắt của một cậu thanh niên trẻ ái quốc vừa ghi danh vào quân đội.

Tôi nghe tiếng vợ ông nói: “Ông ấy đã từng tham gia trong chiến tranh Việt Nam. Cái mũ này là của một người bạn Không quân Việt Nam mà ông ấy gặp trong thời kỳ loạn lạc ngày ấy ở đất nước của cháu”.

“Phải!” – Ông tiếp lời – “Năm 1962, Anh quốc gởi quân đội sang Việt Nam hỗ trợ nước Mỹ. Và ta năm đó chỉ mới 20 tuổi.”

Bà lão gật gù: “Lúc đó, bà chỉ mới 18 tuổi, chuẩn bị vào Đại học Birmingham. Trước khi đi, ông hứa rằng khi quay về, chúng ta sẽ tổ chức đám cưới”.

“Vậy ông ở Việt Nam bao lâu?” – Tôi hỏi.

“Ta ở đó đến năm 1965 thì về.” – Ông trả lời, từ từ ngồi xuống ghế – “Ba năm đó, ta đã học được rất nhiều điều từ con người ở đất nước của cháu. Họ cho ta thấy thế nào là dũng cảm để bảo vệ đất nước của mình. Bên cạnh đó, con người ở đất nước cháu còn có một trái tim thật rộng lượng và đầy tình cảm.”

Nghe tới đó, tự nhiên không hiểu vì sao tôi lại rơi nước mắt. Từ ngày sang Anh đến lúc bấy giờ, đó là lần đầu tiên tôi nghe một người bản xứ nói về Việt Nam, gốc gác của tôi, với ánh mắt nhớ nhung và mến mộ đến như vậy. Bà lão thốt lên: “Ơ kìa, sao cháu lại khóc? Bà chưa một lần được đặt chân đến Việt Nam, nhưng bà đã nghe ông kể rất nhiều câu chuyện hay về đất nước ấy. Cháu chắc hẳn phải rất tự hào là một người Việt”.

Tôi gật lấy gật để, quẹt những giọt nước mắt hạnh phúc khi có người ca ngợi đất nước nhỏ bé của mình. Rồi ông lão cầm chiếc nón bê-rê lên vuốt ve: “Sau khi về nước, với những bộn bề để bắt đầu lại cuộc sống, ta chẳng có cơ hội trở về Việt Nam hay đưa vợ ta đến thăm.

Kỷ vật duy nhất ta có chính là chiếc mũ này của sĩ quan Trần, một người bạn của ta mà sau chiến tranh ta chưa bao giờ gặp lại”.

Cuộc gặp gỡ tình cờ đã đưa tôi đến gần hơn với gia đình ông bà người Anh thân thiện ấy – ông và bà Parker, và qua đó, tôi hiểu hơn những nét văn hóa ở Anh quốc. Ông bà mời tôi đến nhà của họ ở đường Belfeild để ăn sáng vào chủ nhật kế tiếp. Tôi còn nhớ đó là một sáng se lạnh đầu tháng 11. Khi tôi vừa đến nhà, ông bà ra đón tôi rất niềm nở, và họ đưa cho tôi một bông hoa anh túc đỏ (red poppy), bảo tôi cài lên ngực áo. Ông Parker hỏi tôi: “Cháu có hiểu vì sao chúng ta cài hoa anh túc đỏ trên ngực áo vào tháng 10 và tháng 11 không?”.

Tôi đáp: “Dạ biết, để tưởng nhớ những chiến sĩ vô danh đã chết trong hai cuộc Thế chiến và những cuộc chiến tranh khác. Và thường hoa anh túc sẽ được đeo vào ngày 11 tháng 11, chính là ngày Đình Chiến (Armistice Day)”.

Ông bà Parker nhìn tôi đầy ấn tượng, vì nghĩ làm sao một con bé đến từ Việt Nam xa xôi lại nói vanh vách được những điều này. Và họ lấy làm tâm đắc khi biết được ngày mới sang đây du học, tôi đã theo học môn Văn học Anh và mến mộ nền văn hóa nước họ.

Bà Parker đọc cho tôi chép lại một bài thơ mang tên “In Flanders Fields”, được viết bởi trung úy McCrae, người Canada, khi đến thăm nấm mồ người bạn thân của mình, một chiến sĩ vừa nằm xuống tại cánh đồng Flanders, nước Bỉ, nơi mùa hoa anh túc đang nở rộ đỏ rực. Từ bài thơ nọ, bà cắt nghĩa cho tôi hiểu hơn vì sao hình ảnh hoa anh túc lại trở thành loài hoa để tưởng niệm về chiến trường. Lúc ấy, tôi bỗng nghĩ đến những đau thương chiến tranh mà cả thế giới này phải trải qua, những vết sẹo tâm hồn không bao giờ lành lặn. Nhưng đâu đó trong những cơn hỗn chiến, vẫn tồn tại thứ tình cảm bằng hữu thiêng liêng của những người lính đến từ khắp nơi trên địa cầu. Nhìn ông Parker vẫn đội chiếc mũ bê-rê ngồi đằng sau cửa sổ tại Birmingham, Anh quốc, hướng mắt về xa xôi, tôi ước gì mình có thể về Việt Nam để tìm gặp ông sĩ quan họ Trần nọ, người đã trao cho ông Parker chiếc mũ của mình. Tôi muốn nói cho ông ấy biết rằng, tình cảm bằng hữu giữa ông và anh lính Anh quốc ngày nào chưa bao giờ phai nhạt, dù trái đất đã lặng lẽ quay hơn nửa thế kỷ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.