Rải rác đây đó trong đống bản thảo chưa xuất bản thuộc tập Nhật ký và Tự truyện đồ sộ này của tôi, mai sau rồi người ta sẽ tìm thấy những chương viết về các "Kẻ đòi quyền"—những nhân vật đòi quyền vốn khét tiếng trong lịch sử: Satan, Kẻ đòi quyền; Bê Vàng, Kẻ đòi quyền; Tiên Tri Trùm Khăn vùng Khorassan, Kẻ đòi quyền; Louis XVII, Kẻ đòi quyền; William Shakespeare, Kẻ đòi quyền; Arthur Orton, Kẻ đòi quyền; Mary Baker G. Eddy, Kẻ đòi quyền—và những kẻ khác nữa. Những Kẻ đòi quyền kiệt xuất, những Kẻ đòi quyền thành công, những Kẻ đòi quyền thất bại, những Kẻ đòi quyền hoàng tộc, những Kẻ đòi quyền bình dân, những Kẻ đòi quyền khoa trương, những Kẻ đòi quyền nhếch nhác, những Kẻ đòi quyền được kính trọng, những Kẻ đòi quyền bị khinh gét, tất cả lấp lánh như muôn vàn vì sao qua màn sương lịch sử, truyền thuyết và dân gian—và ôi, cái bộ tộc đáng yêu ấy mới huyền bí và lãng mạn làm sao! Chúng ta đọc về họ với niềm say mê sâu sắc, bàn luận về họ với sự đồng cảm mến thương hoặc niềm oán giận cay nghiệt, tùy thuộc vào việc ta đứng về phe nào.
Xưa nay loài người vẫn thế. Chẳng có Kẻ đòi quyền nào mà không tìm được người lắng nghe, cũng chẳng có kẻ nào không chiêu mộ được một lực lượng tín đồ cuồng nhiệt, dù cho yêu sách của hắn có mỏng manh và rõ ràng là giả mạo đến đâu đi nữa. Lời quả quyết của Arthur Orton rằng mình chính là vị baronet Tichborne thất lạc sống lại cũng mỏng manh chẳng kém gì lời bà Eddy cho rằng bà viết cuốn *Khoa học và Sức khỏe* (Science and Health) từ lời đọc trực tiếp của Thượng đế; ấy thế mà ở nước Anh gần bốn mươi năm trước, Orton đã sở hữu cả một quân đoàn tín đồ cuồng nhiệt và những kẻ theo đuổi cố chấp. Nhiều người trong số họ vẫn khăng khăng không chịu tin ngay cả khi gã thần tượng béo any của họ đã bị vạch mặt là kẻ mạo danh và tống giam vì tội man khai. Ngày nay, lực lượng theo đuổi bà Eddy không chỉ đông đảo mà còn gia tăng từng ngày về cả số lượng lẫn sự nhiệt thành. Orton từng có nhiều trí thức và người học rộng trong số những kẻ theo mình, và bà Eddy cũng sở hữu những trí thức như thế ngay từ đầu. Giáo hội của bà cũng được trang bị đầy đủ về những mặt đó chẳng kém gì bất kỳ giáo hội nào khác. Những Kẻ đòi quyền luôn có thể trông cậy vào lực lượng người theo đuổi, bất kể họ là ai, họ đòi hỏi điều gì, hay họ đến cùng với bằng chứng chứng minh hay không. Mọi chuyện từ xưa đến nay vẫn vậy. Ngược dòng quá khứ đã xa xôi, băng qua vực thẳm thời gian, nếu lắng nghe, bạn vẫn có thể nghe thấy đám đông cuồng tin đang reo hò ủng hộ Perkin Warbeck và Lambert Simnel.
Một người bạn vừa gửi cho tôi một cuốn sách mới từ Anh quốc—tác phẩm *Đặt lại vấn đề Shakespeare* (The Shakespeare Problem Restated)—được trình bày rất hay và luận chứng chặt chẽ; thế là niềm say mê suốt năm mươi năm qua của tôi đối với đề tài này—vốn đã ngủ yên trong ba năm qua—lại một lần nữa bùng cháy. Đó là niềm say mê được khơi nguồn từ cuốn sách của Delia Bacon—tận thời xa xưa ấy—năm 1857, hoặc có lẽ là 1856. Khoảng một năm sau, hoa tiêu trưởng của tôi, ông Bixby, chuyển tôi từ tàu vượt sông của ông sang tàu Pennsylvania và giao tôi dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo của George Ealer—người đã qua đời nhiều, rất nhiều năm về trước. Tôi đã bẻ lái cho ông suốt nhiều tháng trời—với nghĩa vụ khiêm nhường của một hoa tiêu tập sự: đứng gác ca ban ngày và quay bánh lái dưới sự giám sát và uốn nắn nghiêm khắc của người thầy. Ông là một tay chơi cờ tướng cừ khôi và là một kẻ sùng bái Shakespeare đến mê muội. Ông sẽ chơi cờ với bất kỳ ai; thậm chí với cả tôi, dù điều đó làm tổn hại chút ít đến phẩm giá cấp trên của ông. Ngoài ra—dù chẳng ai mượn—ông còn đọc Shakespeare cho tôi nghe; không phải đọc qua loa, mà đọc hàng giờ liền mỗi khi đến ca gác của ông và tôi đang cầm lái. Ông đọc rất hay, nhưng chẳng bổ bói gì cho tôi, bởi ông cứ liên tục chèn các khẩu lệnh lái tàu vào giữa văn bản. Điều đó làm bài thơ bị xé lẻ, đảo lộn, rối tung rối mù—đến mức nếu chúng tôi đang ở một đoạn sông hiểm trở, một người không biết chuyện đôi khi chẳng thể phân biệt nổi đâu là lời của Shakespeare và đâu là lời của Ealer. Chẳng hạn như:
Kẻ nào dám, ta đây cũng dám!
Tiến lại gần xem nào mày đang thả dây dọi làm cái quái gì đấy? cái ý tưởng quái quỷ gì thế này! như con gớm ghiếc xả lái ra một chút, xả ra! gấu Nga hung tợn, tê giác bọc thép hay là nó kìa! giữ lái, giữ lái! mày không biết ép sát quá thì nó sẽ ngửi thấy dải đá ngầm à? hổ Hyrcan; hãy mang bất kỳ hình dạng nào khác và lòng kiên định của ta nó sắp lao vào bụi cây đến nơi rồi! dừng máy bên hữu! tiến mạnh máy bên tả! lùi máy bên hữu! . . . Được rồi; tiến máy bên hữu; thẳng hướng mà đi, đừng bao giờ run sợ: hay sống lại lần nữa và thách ta ra mạc đỗ quỷ tha ma bắt không biết tránh cái vùng nước xoáy bẩn thỉu đó ra à? đè lái xuống! giật mạnh! giật trụi đầu nó đi! với thanh kiếm của ngươi; nếu ta run rẩy đứng đây, thả dây dọi xuống!—không, chỉ bên hữu thôi, để yên bên kia, cứ bảo ta là đứa trẻ ranh. Cút đi hỡi bóng ma kinh hoàng! tám tiếng chuông rồi—gã gác ca lại ngủ gật rồi chắc, tự xuống mà gọi Brown đi, đồ giả mạo vô hình, cút đi!
Ông ấy quả thực là một người đọc thoại xuất sắc, đầy truyền cảm, dạt dào khí thế và đậm chất kịch tính, nhưng điều đó lại gây hại cho tôi, bởi kể từ đó về sau tôi không bao giờ còn có thể đọc Shakespeare một cách bình thản và tỉnh táo được nữa. Tôi không sao xua tan được những lời chèn vào đầy bộc phát của ông, chúng cứ chen ngang khắp nơi với những câu vô thưởng vô phạt như "Mày đang làm cái quái gì thế! Đè lái xuống! Nữa! Nữa!—Được rồi, cứ giữ vững hướng đi," cùng những lời ngắt lời hỗn loạn khác luôn chực trào ra từ miệng ông. Giờ đây khi đọc Shakespeare, tôi vẫn có thể nghe thấy chúng mồn một như vào thời xa xưa ấy—năm mươi mốt năm về trước. Tôi chưa bao giờ coi những buổi đọc sách của Ealer là có tính giáo dục. Thực sự thì chúng chỉ làm hại tôi.
Những lời đóng góp của ông vào văn bản hiếm khi làm nó hay hơn, nhưng trừ chi tiết đó ra thì ông là một người đọc giỏi, tôi có thể công nhận cho ông chừng đó. Ông không cần dùng sách và cũng chẳng cần đến nó; ông thuộc Shakespeare như Euclid thuộc bảng cửu chương vậy.
Liệu người hoa tiêu sông Mississippi sùng bái Shakespeare này có điều gì để nói về cuốn sách của Delia Bacon không? Có chứ. Và ông đã nói; nói suốt nhiều tháng trời—trong ca gác sáng, ca gác đêm, ca gác chiều; và có lẽ ông còn nói cả trong giấc ngủ. Ông mua mọi tài liệu về cuộc tranh luận ngay khi chúng vừa xuất bản, và chúng tôi bàn luận về nó suốt một nghìn ba trăm dặm đường sông, đi qua đi lại bốn lần mỗi ba mươi lăm ngày—khoảng thời gian cần thiết để con tàu tốc hành đó hoàn thành hai chuyến khứ hồi. Chúng tôi bàn đi, bàn lại, và tranh cãi, tranh cãi, tranh cãi; dù sao thì ông mới là người tranh cãi, còn tôi chỉ chêm vào được một hai từ mỗi khi ông lỡ nhịp và có khoảng trống. Ông tranh luận bằng sự nhiệt thành, năng lượng và bạo liệt; còn tôi tranh luận với sự dè dặt và chừng mực của một kẻ cấp dưới không muốn bị hất văng ra khỏi cabin hoa tiêu vốn nhô cao bốn mươi bộ trên mặt nước. Ông trung thành mãnh liệt với Shakespeare và chân thành khinh bỉ Bacon cùng mọi sự đòi hỏi của những người theo phe Bacon. Tôi cũng vậy—mới đầu là thế. Và lúc đầu ông rất vui vì thái độ đó của tôi. Thậm chí còn có những dấu hiệu cho thấy ông ngưỡng mộ điều đó; những dấu hiệu tuy bị làm mờ bởi khoảng cách giữa độ cao chót vót của một hoa tiêu trưởng và sự khiêm tốn của tôi, nhưng tôi vẫn nhận ra được; nhận ra và dịch nó thành một lời khen—lời khen ban xuống từ trên đường băng tuyết và chưa kịp tan hết trên đường đi, cũng chẳng thể làm bùng cháy bất cứ điều gì, kể cả sự tự cao của một hoa tiêu tập sự; nhưng đó vẫn là một lời khen có thể nhận biết và vô cùng quý giá.
Tự nhiên điều đó nịnh hót khiến tôi càng thêm trung thành với Shakespeare—nếu có thể—hơn cả trước đây, và càng định kiến với Bacon—nếu có thể—hơn trước. Và thế là chúng tôi thảo luận và thảo luận, cả hai cùng đứng về một phe, và rất hạnh phúc. Trong một thời gian. Chỉ trong một thời gian ngắn. Chỉ trong một thời gian vô cùng, vô cùng ngắn. Rồi bầu không khí bắt đầu thay đổi; bắt đầu nguội lạnh đi.
Một người tinh nhanh hơn có lẽ đã nhận ra rắc rối là gì sớm hơn tôi, nhưng tôi thấy nó cũng đủ sớm cho mọi mục đích thực tế. Bạn thấy đấy, ông ấy là người có tính thích tranh luận. Cho nên ông chỉ mất một thời gian ngắn là chán ngấy việc tranh luận với một kẻ luôn gật đầu đồng ý với mọi điều ông nói, và do đó chẳng bao giờ cho ông một cái cớ để bùng nổ và phô diễn những gì ông có thể làm khi bước vào một cuộc lập luận rõ ràng, sắc bén, đanh thép, được gọt giũa tỉ mỉ và lấp lánh như kim cương trăm mặt. Đó là cách ông gọi nó. Tựa đề đó kể từ đó đã được áp dụng một cách tự mãn thêm vài lần nữa trong cuộc ẩu đả giữa phe Bacon và Shakespeare. Về phía phe Shakespeare.
Rồi điều đã xảy ra với nhiều người khác chứ không riêng gì tôi cũng tới, khi nguyên tắc và lợi ích cá nhân xung đột với nhau và người ta buộc phải lựa chọn: tôi từ bỏ nguyên tắc và bước sang phe bên kia. Không phải đi trọn con đường, nhưng đủ xa để đáp ứng yêu cầu của hoàn cảnh. Nghĩa là, tôi đưa ra thái độ này, cụ thể là: Tôi chỉ *tin* rằng Bacon đã viết các tác phẩm của Shakespeare, trong khi tôi *biết* Shakespeare thì không. Ealer hài lòng với điều đó, và cuộc chiến bùng nổ. Sự nghiên cứu, luyện tập và kinh nghiệm trong việc xử lý phần việc của mình sớm giúp tôi coi lập trường mới của mình gần như nghiêm túc; ít lâu sau là hoàn toàn nghiêm túc; ít lâu sau nữa là với sự yêu mến, biết ơn và tận tụy; cuối cùng: mãnh liệt, cuồng nhiệt và không bao giờ thỏa hiệp. Sau đó, tôi đã gắn chặt vào đức tin của mình, về mặt lý thuyết tôi sẵn sàng chết vì nó, và tôi nhìn xuống với sự cảm thương lẫn chút khinh bỉ đối với đức tin của bất kỳ ai khác không khớp với mình. Đức tin đó, vốn được áp đặt cho tôi bởi lợi ích cá nhân trong cái ngày xa xưa ấy, vẫn là đức tin của tôi hôm nay, và trong đó tôi tìm thấy sự an ủi, niềm khuây khỏa, sự bình yên và niềm vui không bao giờ cạn. Bạn thấy đấy, nó mang tính giáo lý một cách kỳ lạ làm sao. Kẻ "tín đồ vì gạo" ở Phương Đông cũng trải qua đúng những bước như thế khi hắn đuổi theo hạt gạo còn nhà truyền giáo thì đuổi theo hắn; hắn đến vì gạo, và ở lại để thờ phụng.
Ealer đã thực hiện phần lớn sự "lập luận" của chúng tôi—nếu không muốn nói là toàn bộ. Những kẻ nô lệ cho giáo phái của ông có một niềm đam mê gọi nó bằng cái tên to tát đó. Những người như chúng tôi thì không gọi các phép quy nạp, diễn dịch và suy luận của mình bằng bất kỳ cái tên nào cả. Chúng tự thể hiện bản chất của mình, và chúng tôi có thể thản nhiên tin tưởng để thế giới tự phong cho chúng một danh hiệu theo lựa chọn của riêng mình.
Đôi khi khi Ealer phải dừng lại để ho, tôi lại gom góp tài năng quy nạp của mình và tự tay thả dây dọi tranh luận: luôn đo được tám bộ, tám bộ rưỡi, thường là chín, đôi khi thậm chí là thiếu hai phân nữa tròn hai sải—theo như tôi tin; nhưng luôn nhận lại câu "không thấy đáy," như ông vẫn nói.
Tôi chỉ thắng ông ấy được đúng một lần. Tôi đã chuẩn bị trước. Tôi chép ra một đoạn văn của Shakespeare—có thể chính là đoạn tôi vừa trích dẫn lúc nãy, tôi không nhớ rõ—và chèn đầy những lời hô khoán lái tàu cuồng nhiệt của ông vào đó. Khi một cơ hội an toàn mở ra vào một ngày hè đẹp trời, khi chúng tôi đã thăm dò và cắm phao qua một đoạn luồng rắc rối gọi là "Nửa Mẫu Địa Ngục," và đã trở lại tàu rồi ông ấy khéo léo đưa con tàu Pennsylvania vượt qua đó một cách hoàn hảo mà không một lần quệt phải cát, trong khi tàu A. T. Lacey đi sau chúng tôi thì bị mắc kẹt, và ông đang cảm thấy rất vui vẻ, tôi bèn đưa nó cho ông xem. Nó làm ông thích thú. Tôi đề nghị ông đọc nó lên: đọc đi; tôi khéo léo nói thêm, đọc theo cách mà chỉ ông mới có thể đọc được thơ kịch. Lời khen đánh trúng vào điểm yếu của ông. Ông đã đọc nó; đọc với sự cuồng nhiệt và khí thế vượt trội; đọc theo cách mà sẽ không bao giờ được đọc lại lần nữa; bởi ông biết cách đưa giai điệu phù hợp vào những lời chèn bão táp đó và làm cho chúng như một phần của văn bản, làm cho chúng vang lên như thể đang bùng phát từ chính tâm hồn của Shakespeare, mỗi lời chèn là một cảm hứng vàng ngọc và không thể bỏ đi mà không làm tổn hại đến toàn thể vĩ đại và tráng lệ đó.
Tôi chờ một tuần để sự việc phai nhạt đi; chờ lâu hơn nữa; chờ cho đến khi ông nêu ra để tranh luận và phỉ báng lập trường ưa thích của tôi, luận điểm ưa thích của tôi, cái mà tôi yêu thích nhất, cái mà tôi coi trọng nhất trong kho đạn dược của mình, cụ thể là: Shakespeare không thể là tác giả các tác phẩm của Shakespeare, vì lý do người viết ra chúng có sự am hiểu vô tận về luật pháp, về các tòa án, thủ tục tố tụng, cách nói năng và thói quen của giới luật sư—và nếu Shakespeare sở hữu lượng bụi sao chi tiết vô tận tạo nên nguồn tài sản đồ sộ này, thì ông ấy lấy nó từ đâu, ở đâu và khi nào?
"Từ sách vở."
Từ sách vở! Lúc nào cũng là cái ý tưởng đó. Tôi trả lời như những gì việc đọc tác phẩm của các nhà vô địch về phe tôi trong cuộc tranh luận lớn này đã dạy tôi: rằng một người không thể sử dụng một cách trôi chảy, dễ dàng, thoải mái và thành công thuật ngữ của một nghề mà bản thân chưa từng làm qua. Hắn sẽ mắc lỗi; hắn sẽ không thể, và không bao giờ có thể nắm chính xác các cụm từ chuyên môn; và ngay khoảnh khắc hắn chệch khỏi thói quen của nghề đó dù chỉ một chút, người đọc vốn là người trong nghề sẽ biết ngay người viết chưa từng làm nghề đó. Ealer không chịu bị thuyết phục; ông nói một người có thể học cách sử dụng chính xác những sự tinh tế, bí ẩn và quy tắc ngầm của bất kỳ nghề nào bằng cách đọc và nghiên cứu kỹ lưỡng. Nhưng khi tôi bảo ông đọc lại đoạn văn Shakespeare có chèn các khẩu lệnh lái tàu, chính ông cũng nhận ra rằng sách vở không thể dạy cho một học viên vô số các cụm từ hoa tiêu một cách thấu đáo và hoàn hảo đến mức ông ta có thể nói ra trong sách, kịch hay trò chuyện mà không phạm phải sai lầm mà một hoa tiêu sẽ phát hiện ra ngay lập tức. Đó là một chiến thắng dành cho tôi. Ông im lặng một lúc, và tôi biết điều gì đang xảy ra: ông đang mất bình tĩnh. Và tôi biết ông sẽ sớm kết thúc buổi tranh luận bằng chính luận điểm cũ kỹ vốn luôn là chỗ dựa và sự hỗ trợ của ông trong lúc cần thiết; vẫn luận điểm cũ đó, cái mà tôi không thể đáp lại—vì tôi không dám: luận điểm rằng tôi là một kẻ ngốc, và tốt nhất là nên ngậm miệng lại. Ông đưa ra luận điểm đó, và tôi tuân theo.
Ôi trời ơi, chuyện đã xảy ra từ bao giờ rồi—thật đáng thương làm sao khi thời gian đã trôi qua quá lâu! Và giờ đây tôi ở đây, già nua, bị bỏ rơi, cô đơn và lẻ loi, đang chuẩn bị nhận lại luận điểm đó từ một ai đó.
Khi một người có niềm đam mê với Shakespeare, lẽ tự nhiên là ông ta cũng đọc các tác giả kinh điển khác. Ealer luôn có vài cuốn sách cao cấp trong phòng hoa tiêu, và ông đọc đi đọc lại những cuốn đó mà không buồn đổi sang những cuốn mới mẻ hơn. Ông chơi sáo rất giỏi và rất thích nghe chính mình thổi. Tôi cũng vậy. Ông có một ý nghĩ rằng cây sáo sẽ giữ được độ bền tốt hơn nếu bạn tháo nó ra khi không đứng ca; và vì thế, khi không làm nhiệm vụ, nó nghỉ ngơi, bị tháo rời, trên kệ la bàn bên dưới tấm bảng ngực. Khi tàu Pennsylvania bị nổ tung và trở thành một đống đổ nát trôi dạt chở đầy những linh hồn tội nghiệp bị thương và đang hấp hối (trong đó có em trai Henry của tôi), hoa tiêu Brown đang trong ca nghỉ dưới khoang, và có lẽ đang ngủ nên chẳng bao giờ biết điều gì đã giết chết mình; nhưng Ealer thì thoát chết mà không bị thương. Ông và phòng hoa tiêu của ông bị bắn vọt lên không trung; rồi họ rơi xuống, và Ealer chìm qua cái hang nham nhở nơi từng là boong thượng và boong nồi hơi, rơi xuống một đống đổ nát trên boong chính, ngay trên đỉnh một trong những nồi hơi chưa nổ, nơi ông nằm sấp trong một màn hơi nước sôi nồng nặc và chết người. Nhưng không lâu. Ông không mất bình tĩnh: việc quen thuộc lâu ngày với nguy hiểm đã dạy ông phải giữ được sự tỉnh táo trong mọi tình huống khẩn cấp. Ông dùng một tay áp ve áo vào mũi để ngăn hơi nước, và tay kia bới móc xung quanh cho đến khi tìm thấy các khớp của cây sáo, sau đó ông mới thực hiện các biện pháp để tự cứu sống mình, và đã thành công. Tôi không có mặt trên tàu. Tôi đã bị Thuyền trưởng Klinefelter đưa lên bờ ở New Orleans. Lý do—dù sao thì tôi cũng đã kể tất cả trong cuốn sách có tên *Một thời trên sông Mississippi* (Old Times on the Mississippi), và dù sao thì điều đó cũng không quan trọng, chuyện đã xảy ra quá lâu rồi.