Khi Shakespeare qua đời vào năm 1616, các kiệt tác văn học mang tên ông đã xuất hiện trên văn đàn London và được công chúng tán thưởng nồng nhiệt suốt 24 năm. Thế nhưng, cái chết của ông lại chẳng phải một sự kiện lớn. Nó không gây ra một gợn sóng dư luận, cũng chẳng ai bận tâm chú ý. Có vẻ như những văn nghệ sĩ kiệt xuất cùng thời với ông không hề nhận ra một nhà thơ lừng lẫy vừa mới giã từ cõi đời. Phải chăng họ chỉ biết có một diễn viên kịch hạng quàng biến mất, chứ chưa từng coi người đó là tác giả của những văn kịch kinh điển? Ta "hoàn toàn có cơ sở để suy đoán" như vậy.
Sự ra đi của ông thậm chí còn chẳng gây một chút xao động nào tại thị trấn nhỏ Stratford. Điều này liệu có nghĩa là đối với người dân Stratford, ông chưa từng là một nhân vật danh tiếng?
Chúng ta "có đặc quyền suy đoán" — không, đúng hơn là bắt buộc phải chấp nhận — rằng thực sự là như vậy. Ông đã sống khoảng 22 hay 23 năm đầu đời ở đó, lẽ đương nhiên là biết mặt thuộc tên tất cả mọi người trong trấn thời bấy giờ, và ngược lại ai ai cũng biết ông, kể cả chó mèo hay ngựa nghẻ. Ông cũng sống 5 hoặc 6 năm cuối đời tại đây, miệt mài buôn bán đủ mọi thứ lớn nhỏ miễn là sinh lời; vì thế ta buộc phải cho rằng nhiều người dân ở đó thời ấy biết rõ ông, số còn lại cũng biết mặt nghe tên. Nhưng có ai xem ông là một danh nhân không? Rõ ràng là không. Bởi vì chẳng mấy hồi, ai nấy đều quên sạch mọi lần tiếp xúc hay kỷ niệm liên quan đến ông. Hàng chục người dân trong trấn còn sống — những người từng biết ông hoặc nghe danh ông trong hơn hai mươi năm đầu đời đó — cũng rơi vào tình trạng mất trí nhớ tương tự: nếu có biết chuyện gì về thời kỳ đó của ông, họ cũng chẳng buồn kể lại. Liệu họ có kể nếu được hỏi không? Rất có thể chứ. Nhưng họ có được hỏi không? Xem ra là không. Tại sao lại không? Một giả thuyết vô cùng hợp lý là chẳng ai ở đó hay ở bất kỳ đâu quan tâm muốn biết.
Suốt bảy năm sau khi Shakespeare qua đời, hình như chẳng một ai hoài công bận tâm đến ông. Rồi tập sách Quarto xuất bản, Ben Jonson mới bừng tỉnh sau cơn thờ ơ dài dẵng, viết một bài thơ ca ngợi đặt ngay đầu cuốn sách. Thế rồi, màn đêm im lặng lại bao trùm.
Màn đêm ấy kéo dài suốt sáu mươi năm. Sau đó, người ta mới bắt đầu tìm hiểu về cuộc đời Shakespeare ở Stratford bằng cách đi hỏi cư dân bản địa. Hỏi những người từng quen biết hay tận mắt thấy Shakespeare ư? Không. Vậy có hỏi những người từng gặp các nhân chứng đã thấy Shakespeare không? Cũng không. Người ta chỉ đi phỏng vấn những người dân Stratford thuộc thế hệ sau, những kẻ tới sinh sống khi Shakespeare đã qua đời; và những gì họ biết được chỉ là nghe kể lại từ những người chưa từng giáp mặt Shakespeare; những điều đó cũng chẳng được xem là sự thật lịch sử mà chỉ là giai thoại — những giai thoại mờ nhạt, nhạt nhòa và mơ hồ; kiểu giai thoại lặt vặt như chuyện mổ thịt bê, chẳng đáng để ghi nhớ dù dưới danh nghĩa lịch sử hay hư cấu.
Có bao giờ xảy ra chuyện một danh nhân sống đúng một nửa đời người tương đối dài của mình tại chính ngôi làng nơi sinh ra và lớn lên, đến khi nhắm mắt xuôi tay lại có thể lặng lẽ rời bỏ thế gian, để lại đằng sau một ngôi làng hoàn toàn im lìm, không một lời bàn tán xôn xao? Hoàn toàn lặng câm, hoàn toàn không một lời đồn đại? Và vĩnh viễn là như thế? Tôi không tin có trường hợp nào như vậy ngoài Shakespeare. Và điều đó sẽ không bao giờ, không thể nào xảy ra nếu như vào thời điểm trút hơi thở cuối cùng, ông được xã hội công nhận là một danh nhân.
Hãy thử nhìn vào trường hợp của chính tôi — hãy thử phân tích xem sao, để thấy những gì rất dễ xảy ra, cực kỳ dễ xảy ra, và chắc chắn sẽ xảy ra đối với một nhân vật nổi tiếng, một ân nhân của nhân loại. Giống như tôi đây chẳng hạn.
Cha mẹ đưa tôi đến làng Hannibal, tiểu bang Missouri, bên bờ sông Mississippi khi tôi mới hai tuổi rưỡi. Tôi đi học năm năm tuổi, và trải qua nhiều ngôi trường khác nhau trong làng suốt chín năm rưỡi. Rồi cha tôi qua đời, để lại gia đình trong cảnh túng bấn gieo neo; con đường học vấn sách vở của tôi vì thế dứt đoạn vĩnh viễn. Tôi trở thành thợ học việc ở nhà in, được nuôi ăn và cấp quần áo, đến khi chủ không cấp quần áo nữa thì tôi nhận một cuốn sách thánh ca thay thế. Có lẽ là để mặc cho mùa hè. Tôi sống ở Hannibal tổng cộng mười lăm năm rưỡi, rồi bỏ đi bụi, đúng theo phong cách của những kẻ có hoài hoài hoài hoài trở thành người nổi tiếng. Từ đó tôi không bao giờ quay lại sống ở đó nữa. Bốn năm sau, tôi trở thành thợ tập sự trên một con tàu hơi nước chạy tuyến St. Louis - New Orleans trên sông Mississippi. Sau một năm rưỡi miệt mài học tập và làm việc gian khổ, các giám định viên Hoa Kỳ đã sát hạch tôi gắt gao qua hai buổi thi kéo dài, rồi công nhận rằng tôi thuộc lòng từng inch trên chiều dài một ngàn ba trăm dặm của dòng Mississippi — cả trong đêm tối lẫn ban ngày — thuần thục như đứa trẻ thuộc đường tìm về dòng sữa mẹ. Thế là họ cấp giấy phép hoa tiêu cho tôi — có thể coi như phong tước hiệp sĩ vậy — và tôi bước ra với đầy thẩm quyền, một viên chức có trách nhiệm của chính phủ Hoa Kỳ.
Bây giờ hãy so sánh xem. Shakespeare mất khi còn trẻ — ông mới năm mươi hai tuổi. Ông đã sống ở quê nhà khoảng hai mươi sáu năm. Ông chết trong danh vọng đỉnh cao (nếu bạn tin tất cả những gì ghi trong sách vở). Vậy mà khi ông qua đời, chẳng ai ở đó hay nơi nào khác bận tâm; và suốt sáu mươi năm sau, không một người dân nào trong trấn nhớ ra để kể bất cứ điều gì về ông hay cuộc sống của ông tại Stratford. Đến khi có người đi tìm hiểu, ông ta chỉ thu lượm được vỏn vẹn một thông tin — không, một giai thoại — mà lại là nghe qua tay thứ hai, từ một kẻ cũng chỉ nghe đồn đại chứ chẳng dám nhận đó là sáng tác của mình. Kẻ đó cũng chẳng thể nhận được, vì thời điểm xảy ra chuyện đó còn có trước cả khi hắn ra đời. Thế nhưng chắc chắn vào lúc ấy, tại Stratford vẫn còn không ít người thời trẻ từng giáp mặt Shakespeare gần như mỗi ngày trong năm năm cuối đời ông, và họ hoàn toàn có thể kể cho người tìm hiểu những câu chuyện mắt thấy tai nghe, nếu như trong những ngày cuối đời ông thực sự là một danh nhân được dân làng quan tâm. Tại sao người đi tìm hiểu lại không săn đón và phỏng vấn họ? Việc đó không đáng giá sao? Chuyện đó không đủ quan trọng sao? Hay người tìm hiểu bận đi xem một trận chọi chó nên không xếp nổi thời gian?
Tất cả những điều này dường như muốn nói rằng ông chưa từng có danh tiếng văn học nào, dù ở đó hay ở bất kỳ đâu, và cũng chẳng có uy tín đáng kể nào với tư cách là diễn viên hay trưởng đoàn kịch.
Này nhé, giờ đây tôi đã ngả bóng về già — tuổi bảy mươi ba đã lùi lại phía sau — vậy mà mười sáu bạn học thời thơ ấu ở Hannibal của tôi vẫn còn sống, họ đã và đang kể cho những người đến hỏi hàng tá kỷ niệm thời thơ dại của chúng tôi; những chuyện xảy ra vào buổi bình minh của cuộc đời, vào thời xuân xanh phơi phới, trong những ngày tươi đẹp, những ngày thân thương, "những ngày ta sống đời du mục của ngày xưa". Hầu hết những chuyện đó đều làm sáng danh tôi. Một cô bé mà tôi từng theo đuổi khi cô năm tuổi còn tôi tám tuổi hiện vẫn sống ở Hannibal; mùa hè năm ngoái cô ấy còn vượt cả ngàn dặm đường sắt đến thăm tôi mà chẳng hề giảm bớt sự kiên nhẫn hay sức sống dẻo dai của thời trẻ. Một cô bạn nhỏ khác mà tôi từng để ý ở Hannibal năm cả hai cùng chín tuổi, hiện vẫn sống ở London — khỏe mạnh và minh mẫn chẳng kém gì tôi. Và trên vài con tàu hơi nước hiếm hoi còn sót lại — những bóng ma vất vưởng gợi nhớ về các đoàn tàu hùng hậu từng ngược xuôi dòng sông lớn thời tôi mới bắt đầu nghiệp sông nước, vốn xảy ra cách đây đúng bằng toàn bộ số năm cuộc đời của Shakespeare — người ta vẫn có thể tìm thấy hai hoặc ba bác hoa tiêu từng chứng kiến những việc làm đáng tự hào của tôi trong quá khứ xa xôi ấy; vài bác thợ máy tóc bạc phơ; vài người quản lý và bạn tàu; cùng vài anh thợ đo luồng từng thả dây dọi cho tôi và cất tiếng hô giữa đêm tĩnh mịch: "Sáu—feet—thiếu!", tiếng hô từng làm tôi giật mình run rẩy, rồi đến tiếng "M-a-r-k—twain!" [1] đập tan cơn run rẩy đó, và ngay sau đó là tiếng hô diệu kỳ "Đáy—sâu—bốn!" nâng tâm hồn tôi bay lên chín tầng mây vì sung sướng. Họ biết về tôi và có thể kể lại. Những người thợ in từ St. Louis đến New York cũng thế; các nhà báo từ Nevada đến San Francisco cũng vậy. Ngay cả cảnh sát cũng biết. Nếu Shakespeare thực sự nổi tiếng như tôi, người dân Stratford hẳn đã có vô số chuyện để kể về ông; và nếu kinh nghiệm của tôi có chút giá trị nào, thì chắc chắn họ đã kể rồi.
❀ ❀ ❀
[1] Bốn sải — tương đương hai mươi tư feet (khoảng 7,3m).