Những Thành Phố Giấy

Lượt đọc: 285 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4.

❊ ❊ ❊

Từ phòng tôi đều không nhìn được ra hướng cửa chính hoặc ga-ra, do vậy chúng tôi cần ngồi trong phòng khách. Ben vẫn tiếp tục cày Hồi Sinh, Radar và tôi ra phòng khách giả vờ xem ti-vi trong khi không ngừng phóng mắt qua cửa sổ, theo sát tình hình cửa chính nhà Spiegelman, phục thời điểm bố mẹ Margo ra ngoài. Chiếc Crown Victoria màu đen của thám tử Warren vẫn đỗ ở lối đi.

Được khoảng mười lăm phút, bác thám tử rời đi, nhưng suốt một tiếng sau cả cửa ga-ra lẫn cửa chính đều đóng im ỉm. Radar và tôi đang xem một phim hài khá vui trên kênh HBO, tôi bắt đầu khoái mạch phim thì Radar nói, “Cửa ga-ra.” Tôi bật khỏi xô-pha, đến sát cửa sổ xem ai ở trong xe. Cả cô và chú Spiegelman. Ruthie vẫn ở nhà. “Ben ơi!” tôi gọi lớn. Nó lập tức xẹt ra như một tia chớp. Khi cô chú Spiegelman rẽ khỏi Jefferson Way vào Jefferson Road, chúng tôi rời nhà, lao vào bầu không khí nóng ẩm bên ngoài.

Tụi tôi qua thảm cỏ đến cửa trước nhà Spiegelman. Tôi bấm chuông và nghe thấy tiếng móng vuốt của Myrna Mountweazel cào rột rột trên sàn gỗ, rồi nó bắt đầu sủa như điên, chằm chằm nhìn tụi tôi qua dải cửa kính. Ruthie ra mở cửa. Nó là một con bé ngoan, khoảng mười một tuổi.

“Chào em, Ruthie.”

“Em chào anh Quentin,” Ruthie nói.

“Bố mẹ có nhà không em?”

“Bố mẹ em vừa đi rồi,” nó đáp, “đến Target ạ.” Ruthie cũng có cặp mắt to như Margo, nhưng mang màu nâu ấm. Nó nhìn tôi, bặm bặm môi lo lắng. “Anh có gặp ông cảnh sát không?”

“Ừ, có,” tôi đáp. “Bác ấy có vẻ dễ mến.”

“Mẹ em bảo cứ coi như chị Margo đã đi học đại học sớm rồi.”

“Ừ,” tôi đáp, thầm nghĩ cách đơn giản nhất để tháo gỡ một bí ẩn là quyết định rằng không có bí ẩn nào cần tháo gỡ cả. Nhưng có lẽ đã rõ ràng rằng Margo đã để lại những manh mối dẫn đến một bí ẩn.

“Anh bảo này nhé, Ruthie, bọn anh cần xem phòng Margo một chút,” tôi nói. “Nhưng vấn đề là–giống như khi Margo ủy thác nhiệm vụ tối mật cho em ấy. Bọn anh cũng ở trong tình cảnh tương tự.”

“Chị Margo không thích người khác vào phòng chị ấy,”

Ruthie nói. “Trừ em ra. Thỉnh thoảng mẹ em nữa ạ.”

“Nhưng bọn anh là bạn của Margo mà.”

“Chị ấy không thích cho bạn vào phòng,” Ruthie khăng khăng.

Tôi cúi thấp xuống gần nó. “Năn nỉ em đó.”

“Và các anh không muốn em kể lại với bố mẹ,” con bé nói.

“Chính xác.”

“Năm đô-la ạ,” Ruthie chốt. Tôi định mặc cả nhưng Radar đã rút một tờ năm đô-la ra đưa cho nó. “Nếu thấy có xe về, em sẽ báo với các anh,” Ruthie nói với một tinh thần thông đồng đầy cao cả.

Tôi cúi xuống vỗ nựng con Myrna Mountweazel tuổi-cao-sung-sức, rồi cả lũ kéo nhau lên gác vào phòng Margo. Khi đặt tay lên tay nắm cửa, tôi chợt nhận ra mình chưa từng vào phòng cô ấy kể từ hồi mười tuổi.

Tôi đi vào. Ngăn nắp hơn tôi hình dung, nhưng có thể do mẹ Margo vừa dọn dẹp lại. Ở bên phải, một tủ ních đầy quần áo đến mức như sắp banh ra đến nơi. Trên mặt sau cánh cửa, một cái giá với khoảng vài chục đôi giày, từ giày búp bê Mary Janes đến giày cao gót. Trông có vẻ tủ quần áo không bị thiếu đi gì nhiều.

“Tôi mò máy tính coi,” Radar nói. Ben kéo kéo tấm rèm. “Bức áp-phích được dính lên,” nó nói. “Chỉ là băng dính bình thường. Không phải là dính không gỡ nổi.”

Bất ngờ lớn chính là mảng tường cạnh bàn máy tính: giá sách cao bằng tôi và rộng gấp đôi, xếp đầy các đĩa than. Hàng trăm đĩa như vậy. “Tình yêu tối thượng của John Coltrane nằm trong máy quay đĩa,” Ben nói.

“Chà, đó là một album xuất sắc,” Radar nói, mắt vẫn không rời máy vi tính. “Margo cũng có gu ra phết.” Tôi không hiểu, nhìn sang Ben thì nó giải thích, “John Coltrane là nghệ sĩ thổi kèn saxophone.” Tôi gật, đã hiểu.

Vừa gõ lên bàn phím, Radar vừa nói, “Không tin được là Q chưa từng nghe Coltrane. Theo nghĩa đen, tiếng kèn của Trane là minh chứng xác tín nhất mà tôi từng biết, cho thấy Chúa trời thực sự tồn tại.”

Tôi bắt đầu nhìn qua dãy đĩa. Tất cả đều được sắp xếp theo bảng chữ cái và theo tên nghệ sĩ, tôi bèn dò tìm phần chữ G. Dizzy Gillespie, Jimmie Dale Gilmore, Green Day, Guided by Voices, George Harrison. “Hình như Margo có tất cả các nhạc sĩ ca sĩ trên thế giới, trừ Woody Guthrie,” tôi nói. Rồi tôi quay lại và bắt đầu từ phần chữ A.

“Tất cả sách giáo khoa của Margo còn ở đây,” tôi nghe thấy Ben nói. “Có thêm vài cuốn ở trên bàn cạnh giường. Không có báo chí gì.”

Nhưng bộ sưu tập nhạc của Margo thu hút tôi hơn. Cô ấy thích mọi thứ. Tôi chưa từng tưởng tượng được Margo đã nghe hết tất cả những đĩa nhạc cũ kĩ kia. Tôi đã thấy cô ấy vừa nghe nhạc vừa chạy, nhưng chưa bao giờ ngờ đến niềm say mê lớn thế này. Phần lớn các ban nhạc tôi chưa từng nghe tên, và tôi lấy làm lạ là đĩa than vẫn còn được sản xuất cho những đĩa nhạc mới.

Tôi đi dọc từ A đến B–qua Beatles, Blind Boys of Alabama và Blondie–tôi bắt đầu lướt nhanh hơn, nhanh đến mức hình như tôi không xem bìa sau Đại lộ Mĩ Nhân Ngư của Billy Bragg cho đến khi nhìn sang Buzzcocks. Tôi dừng lại, quay ngược, kéo đĩa Billy Bragg ra. Mặt trước là ảnh mấy tòa nhà mặt phố đều tăm tắp. Nhưng ở mặt sau, Woody Guthrie đăm đăm nhìn tôi, điếu xì gà bập hờ trên môi, cùng cây guitar có dòng chữ CHIẾC MÁY NÀY DIỆT PHÁT-XÍT.

“Xem này,” tôi nói. Ben nhìn sang.

“Chèn đét ơi,” nó thốt lên. “Mát tay tìm kiếm đấy.” Radar xoay ghế lại và nói, “Rất ấn tượng. Có gì ở trong vậy ta?”

Nhưng rủi là chỉ có một đĩa than bên trong. Cái đĩa trông đúng là một cái đĩa than. Tôi đặt nó vào máy quay đĩa của Margo, rút cục cũng mò được cách bật và đặt kim xuống đĩa. Giọng một ca sĩ khác hát các ca khúc của Woody Guthrie, nghe hay hơn chính Woody Guthrie hát.

“Thế là thế nào, chẳng lẽ chỉ là trùng hợp dẩm dớ thôi sao?”

Ben đang cầm bìa album. “Nhìn này,” nó nói, chỉ vào danh mục bài hát. Tên bài “Cháu gái của Walt Whitman” được khoanh tròn bằng nét mực đen mảnh.

“Thú vị đấy,” tôi nói. Mẹ Margo bảo rằng những manh mối của Margo chẳng bao giờ dẫn đến đâu, nhưng giờ tôi biết cô ấy đã tạo ra cả chuỗi manh mối–và hình như cô ấy đã để lại chúng cho tôi. Lập tức tôi nhớ lại lúc ở trong tòa nhà SunTrust, Margo đã nói rằng tôi ổn hơn khi tôi thể hiện tự tin. Tôi lật mặt đĩa và bật lên. “Cháu gái của Walt Whitman” là bài đầu tiên ở mặt hai. Thực ra nghe không tệ.

Đúng lúc đó tôi thấy Ruthie trên ngưỡng cửa. Con bé nhìn tôi. “Có manh mối gì cho bọn anh hả Ruthie?” Con bé lắc đầu. “Em đã tìm rồi,” giọng nó nghe buồn buồn. Radar nhìn tôi và hất đầu về phía Ruthie để ra hiệu.

“Em trông chừng bố mẹ em hộ bọn anh được không?” tôi hỏi. Con bé gật đầu rồi đi. Tôi đóng cửa lại.

“Có gì thế?” tôi hỏi Radar. Nó vẫy bọn tôi lại phía máy vi tính. “Trong tuần trước khi bỏ đi, Margo đã sục kha khá vào Toàn Thư Đủ Thứ. Tôi biết vì dựa vào số phút đăng nhập bằng tên của Margo, và cậu ấy đã lưu mật khẩu lại máy. Nhưng Margo đã xóa toàn bộ lịch sử tìm kiếm, do vậy không thể biết được cậu ấy đã tìm thông tin gì.”

“Này, Radar, tra xem Walt Whitman là ai,” Ben nói.

“Đó là một nhà thơ,” tôi đáp. “Thế kỉ mười chín.”

“Tuyệt,” Ben thốt lên, mắt đảo tròn. “Thi ca.”

“Có gì không ổn sao?” tôi hỏi.

“Thi ca chỉ tổ nát cõi lòng,” Ben đáp. “Ôi, đau đớn. Đau đớn. Rơi hoài rơn rớn. Mảnh hồn tôi.”

“Ờ, tôi chắc chắn đó là thơ Shakespeare,” tôi nói, không chấp nó. “Whitman có cô cháu gái nào không?” tôi quay sang hỏi Radar. Nó đã vào trang viết về Whitman trong Toàn Thư Đủ Thứ. Một người đàn ông vạm vỡ với hàm râu khổng lồ. Tôi chưa từng đọc Whitman, nhưng trông ông ta cũng có vẻ ra dáng nhà thơ.

“Ờ, không có ai nổi tiếng. Trong này nói ông ta có mấy người anh em trai, nhưng không nói họ có con hay không. Có thể tôi sẽ tra được thông tin này nếu ông muốn.” Tôi lắc đầu. Có vẻ không phải hướng này. Tôi lùi lại nhìn quanh căn phòng. Hàng dưới cùng của giá đĩa có mấy cuốn sách–các kiểu kỉ yếu trường phổ thông cơ sở, cuốn Những kẻ ngoài vòng đã sờn cũ–và vài ấn bản in lại các tạp chí thanh thiếu niên. Không có gì liên quan đến cháu gái của Walt Whitman, chắc chắn vậy.

Tôi nhìn lại những cuốn sách trên bàn cạnh giường. Không có gì đáng chú ý. “Chắc Margo phải có cuốn thơ nào của ông ấy chứ nhỉ,” tôi nói. “Nhưng hình như không thấy.”

“Có đấy!” Ben reo lên. Tôi đến chỗ nó đang quì bên giá sách, và thấy cuốn sách. Tôi đã bỏ qua một cuốn mỏng ở tầng dưới cùng, nằm kẹp giữa hai tập kỉ yếu. Walt Whitman. Những cánh cỏ. Tôi kéo cuốn sách ra. Có một bức ảnh Whitman trên bìa sách, đôi mắt sáng của ông ấy đăm đăm nhìn tôi.

“Khá đấy,” tôi nói với Ben.

Nó gật. “Ừa, bây giờ ra khỏi đây được chưa? Cứ cho là tôi bảo thủ đi, nhưng tôi không muốn lúc bố mẹ Margo về vẫn thấy bọn mình lởn vởn ở đây đâu.”

“Liệu có sót gì không nhỉ?”

Radar đứng lên. “Có vẻ rõ ràng là Margo đã đi một đường khá mạch lạc, ắt sẽ tìm thấy gì đó trong cuốn sách. Kể ra cũng lạ–tôi nói không có ý gì đâu, nhưng nếu Margo luôn để lại manh mối cho bố mẹ, sao lần này cậu ấy lại để lại cho ông?”

Tôi nhún vai. Tôi không có câu trả lời, nhưng tất nhiên tôi nuôi hi vọng: có lẽ Margo muốn thấy sự tự tin của tôi. Có thể lần này cô ấy muốn được tìm thấy, và được tôi tìm thấy. Có thể–cũng giống như cô ấy đã chọn tôi trong cái đêm dài nhất ấy, lần này cô ấy lại chọn tôi. Và có thể kho báu bí mật đang chờ người tìm ra cô ấy.

Không lâu sau khi quay lại nhà tôi, xem một lượt qua cuốn sách và không tìm thấy manh mối rõ rệt nào, Ben và Radar cũng về. Tôi lấy suất lasagna trong tủ lạnh ra ăn trưa và mang Walt về phòng. Cuốn Những cánh cỏ đó là bản in lần đầu của nhà xuất bản Penguin Classics. Tôi đọc một ít từ lời giới thiệu rồi lật tiếp từng trang. Có một số câu được đánh dấu màu xanh da trời, tất cả đều nằm trong một bài thơ dài dằng dặc như sử thi tên là “Tự khúc.” Hai dòng trong bài thơ đó được đánh dấu màu xanh lá cây:

Tháo mở ổ khóa khỏi cánh cửa!

Tháo mở chính cánh cửa khỏi khung!

Tôi dành gần hết buổi chiều cố hiểu hàm ý câu đó, thầm nghĩ có lẽ đó là cách Margo bảo tôi hãy mạnh mẽ táo bạo hơn hay đại loại thế. Nhưng tôi cũng đọc đi đọc lại từng dòng thơ được đánh dấu xanh da trời:

Ngươi sẽ không nhận từ bàn tay thứ hai hay thứ ba nữa... không nhìn qua đôi mắt của người chết nữa... không ăn những bóng ma ám ảnh trong những trang sách nữa.

Ta dấn mình vào chuyến đi miên viễn

Tất thảy đều nảy sinh lan tỏa... và không gì co tụ lại,

Và chết chẳng giống những gì người ta huyễn tưởng, và thêm phước phận.

Nếu không ai khác trên thế gian này diệu ngộ, ta ngồi an nhiên, Và nếu mỗi và mọi người diệu ngộ, ta ngồi an nhiên.

Ba khổ cuối trong bài “Tự khúc” cũng được đánh dấu.

Ta trả mình về đất, nuôi những thân cỏ ta yêu, Nếu ngươi muốn ta, hãy tìm ta dưới đế ủng.

Ngươi chắc sẽ không bao giờ biết được ta là ai, ta muốn nói gì, Dẫu vậy ta sẽ luôn là sinh mạch của ngươi, Thấm lọc và mao dẫn dòng máu ngươi.

Thoạt không tìm được ta, hãy bền gan vững bước, Mất dấu ta nơi này, hãy đi tìm nơi khác, Ở đâu đó, ta dừng lại đợi ngươi.

Cả cuối tuần tôi chỉ đọc, cố gắng tìm Margo trong những mảnh thơ cô ấy để lại cho tôi. Có thể những dòng thơ sẽ chẳng dẫn tôi đến đâu cả, nhưng dù sao tôi cũng nghĩ về chúng, vì tôi không muốn làm Margo thất vọng. Cô ấy muốn tôi lần theo dây nối, tìm nơi cô ấy đã dừng lại và đợi tôi, đi theo dải vụn bánh mì cho đến khi nó kết thúc ở Margo.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của John Green

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.