Ngày dài nhất trong cuộc đời tôi bắt đầu khá muộn. Tôi dậy trễ, ngâm nga quá lâu trong nhà tắm nên kết quả là phải thưởng thức bữa sáng trong chiếc minivan của mẹ vào hồi 7:17 sáng thứ Tư đó.
Thường ngày tôi quá giang thằng chiến hữu thân nhất, Ben Starling, nhưng hôm ấy Ben đã vi vu đến trường đúng giờ, cho nên tôi hết trông cậy được vào nó. “Đúng giờ” đối với tụi tôi là ba mươi phút trước lúc vào học, vì nửa giờ vàng ngọc trước hồi chuông đầu tiên chính là điểm sáng trong lịch trình xã giao của chúng tôi: tụ tập tán chuyện bên ngoài cửa phụ của phòng tập và biểu diễn nhạc. Đa phần bạn bè tôi chơi nhạc cụ, và đa phần thời gian rảnh ở trường của tôi được nướng trong phạm vi dăm bảy mét quanh phòng tập nhạc. Nhưng tôi không chơi nhạc cụ gì cả, vì tôi bị một chứng điếc thanh điệu, nói chung là có liên quan đến bệnh điếc thực sự. Hôm nay tôi sẽ bị muộn hai mươi phút, tức là về mặt kĩ thuật mà nói, tôi vẫn đến trước giờ vào lớp chục phút.
Vừa lái xe mẹ vừa hỏi tôi về trường lớp, thi cử và dạ hội tốt nghiệp.
“Con có bao giờ khoái dạ hội đâu mẹ,” tôi nói trong khi mẹ rẽ ở một góc phố. Lập tức, tôi điệu nghệ trở nghiêng món ngũ cốc cho cân bằng với trọng lực. Trò này tôi diễn nhiều rồi.
“Ờ, đi cùng một người bạn thì có sao đâu con. Chắc chắn con có thể mời Cassie Hiney mà.” Dám là tôi mời Cassie Hiney lắm chứ, một cô bạn thực sự dễ mến, thân thiện và xinh lung linh, nhưng ngặt nỗi bạn ấy lại mang một cái họ vô địch về độ nhạy cảm[1].
“Không chỉ vì con không khoái dạ hội. Con không khoái cả những người khoái dạ hội,” tôi cố giải thích, dù thẳng thắn mà nói thì cũng chẳng phải. Ben mới là thằng rối rít bấn loạn về dạ hội này.
Mẹ rẽ vào trường, tôi giữ chặt cái bát sắp hết bằng cả hai tay khi đi qua mấy con lươn giảm tốc. Tôi liếc nhanh ra bãi đỗ xe cho học sinh năm cuối. Con Honda màu bạc của Margo Roth Spiegelman đỗ ở chỗ quen thuộc. Mẹ tấp xe vào một đoạn cụt ngay gần phòng tập nhạc và hôn lên má tôi tạm biệt. Tôi nhác thấy Ben và mấy thằng khác đứng giăng thành một đường bán nguyệt.
Tôi đi đến chỗ chúng nó, vòng bán nguyệt lập tức giãn ra để thêm tôi vào. Chúng nó đang nói đến bạn gái cũ của tôi, Suzie Chung, cô nàng chơi cello và rõ là đã khuấy động dư luận khi cặp với một anh cầu thủ bóng chày tên là Taddy Mac. Tôi cũng chẳng biết đó có phải là tên thật của anh ta không nữa. Dù gì thì Suzie cũng đã quyết định đến dạ hội với Taddy Mac. Thêm một nạn nhân.
“Êu ông ơi,” Ben đứng đối diện tôi và gọi. Nó gật đầu ra hiệu rồi đi. Tôi theo nó ra khỏi đám, đi vào phòng tập. Một gã nhỏ người da ngăm ngăm đã qua tuổi dậy thì nhưng chưa bao giờ kết thúc cái tuổi ấy một cách hoành tráng, Ben là thằng bạn chí cốt với tôi từ hồi lớp năm, khi cả hai rút cục đành thừa nhận rằng chẳng thằng nào đủ sức kiếm được đứa khác làm bạn thân. Cơ mà, nó đã rất cố gắng, và tôi khoái như vậy–phần lớn thời gian.
“Sao thế ông?” tôi hỏi. Chúng tôi đã an toàn trong phòng nhạc, những người xung quanh đang nói đủ để lấp đi câu chuyện của bọn tôi.
“Radar sẽ đi dạ hội,” Ben nhấm nhẳng. Radar là chiến hữu oách của bọn tôi. Nó bị gọi là Radar vì trông nó y chang một thằng thấp bé nhẹ cân đeo đít chai tên là Radar trong xê-ri M*A*S*H trên truyền hình ngày xưa, ngoại trừ 1. Radar trên ti-vi da không đen, và 2. Vào một lúc nào đó sau khi đã bị gán tên, Radar của bọn tôi cao thêm khoảng mười lăm phân nữa và bắt đầu đeo kính sát tròng, nên tôi nghĩ rằng 3. Nó trông không còn giống chú em trong M*A*S*H nữa, nhưng 4. Còn ba tuần rưỡi nữa là tốt nghiệp, chúng tôi chẳng buồn đặt tên mới cho nó nữa.
“Con bé Angela ấy hả?” tôi hỏi. Radar chả bao giờ hé gì về chuyện tình êu tình báo của nó cả, nhưng như thế cũng chẳng ngăn được bọn tôi bàn ra tán vào.
Ben gật, rồi nói, “Ông biết kế hoạch vĩ đại của tôi chứ? Lôi một em thỏ non đến dạ hội vì chỉ có các em thỏ mới không hề hay biết sự tích về chàng Ben Bỉ Bựa.” Tôi gật gật.
“Chậc,” Ben nói tiếp, “thế mà sáng nay có một nhóc thỏ non xinh xinh lớp chín tìm tôi hỏi có phải tôi chính là Ben Bỉ Bựa không, tôi phải giải thích rõ ràng đó là chứng nhiễm trùng thận, con nhóc ấy khúc khích rúc rích cười rồi chạy đi luôn. Hết chuyện.”
Hồi lớp mười, Ben từng phải nhập viện vì bị nhiễm trùng thận, nhưng Becca Arrington, bạn thân của Margo, đã châm ngòi tin đồn rằng nguyên nhân thực sự khiến Ben tiểu ra máu là do nó đã thủ dâm vô độ. Dù vô căn cứ về mặt y học nhưng từ đó những đồn đại cứ bám dính lấy Ben. “Khiếp quá,” tôi không biết nói gì hơn.
Ben bắt đầu vạch kế hoạch để chăn được một em, nhưng tôi nghe tai nọ ra tai kia, vì phóng mắt qua những người là người mỗi lúc một đông đúc ở hành lang, tôi đã thấy Margo Roth Spiegelman. Cô ấy đứng bên ngăn tủ đựng đồ, cạnh bạn trai của cô ấy, Jase. Margo mặc váy trắng dài đến đầu gối, áo xanh dương có in hình. Tôi thấy được hai bên xương quai xanh của cô ấy. Margo đang cười như nắc nẻ về chuyện gì đó–hai vai so về trước, đôi mắt to anh ánh nước ở khóe, khuôn miệng mở rộng. Nhưng hình như không phải cười vì điều gì Jase nói, vì cô ấy không nhìn Jase mà đưa mắt qua hành lang nhìn một dãy tủ đựng đồ khác. Tôi theo ánh mắt ấy và thấy Becca Arrington đang bám nhằng lấy một anh chàng bóng chày, cứ như nàng là vật trang trí và chàng là cây thông Giáng Sinh vậy. Tôi mỉm cười nhìn Margo, dù tôi biết cô ấy không thấy tôi.
“Ông rồ ga lấn tới đi chứ. Mặc kệ thằng Jase. Trời ơi, đúng là một nàng thỏ bọc đường mà,” Ben lảm nhảm. Chân đi nhưng mắt tôi vẫn liếc nhìn cô ấy qua đám đông, chớp lại trong tâm tưởng những khoảnh khắc có thể làm thành một loạt ảnh với tiêu đề Cái đẹp hoàn hảo lắng đọng, chỉ những kẻ phàm bước qua. Đến gần hơn, tôi nghĩ có thể
Margo chẳng hề cười. Có thể cô ấy đã ngạc nhiên hoặc nhận được một món quà hay thứ gì đó. Hình như cô ấy không khép miệng lại được.
“Ừ,” tôi lơ đãng trả lời Ben, nhưng thực ra không để ý nghe nó nói vì tôi đang cố gắng nhìn Margo càng nhiều càng tốt mà không tỏ ra quá lộ liễu. Thật ra không phải vì Margo xinh. Cô ấy đẹp đến sững sờ luôn, theo nghĩa đen của từng từ. Và rồi bọn tôi đã ở quá xa chỗ cô ấy, có quá nhiều người đi đi lại lại giữa Margo và tôi, thậm chí tôi đã không đến đủ gần để nghe thấy tiếng cô ấy nói, hay để hiểu điều thú vị gì đã khiến cô ấy ngạc nhiên đến vậy. Ben gục gặc đầu vì nó đã thấy tôi nhìn Margo như vậy cả ngàn lần, đến mức nó đã quá quen rồi.
“Ừ thì cô nàng nóng bỏng, nhưng không nóng bỏng đến mức ấy. Mà ông có biết ai thực sự nóng bỏng không?”
“Ai cơ?” tôi hỏi.
“Lacey,” Ben đáp, Lacey là một bạn thân khác của Margo. “Cả mẹ ông nữa. Tôi đã thấy mẹ ông hun lên má ông sáng nay. Đừng trách tôi nhé, thề có Chúa lúc ấy tôi đã trộm nghĩ: Ôi ôi, giá mà mình là thằng Q. Mà nữa, giá mà hai má mình mọc được tờ-rym thì sướng.” Tôi thúc cùi chỏ vào mạng sườn nó, nhưng tôi vẫn đang nghĩ đến Margo, vì cô ấy là huyền thoại duy nhất ở ngay cạnh nhà tôi. Margo Roth Spiegelman, cái tên dài sáu âm tiết ấy thường được nhắc đến đầy đủ, kèm theo chút thầm ngưỡng mộ. Margo Roth Spiegelman, câu chuyện về những chuyến phiêu lưu kinh điển của cô ấy có thể quét qua trường học như một cơn bão mùa hè: chẳng hạn như chuyện một ông già sống trong căn nhà đổ nát ở Hot Coffee, Mississippi, đã dạy Margo chơi guitar. Margo Roth Spiegelman, cô gái đã rong ruổi suốt ba ngày theo một đoàn xiếc–họ cho rằng cô ấy rất có năng khiếu biểu diễn nhào lộn trên dây. Margo Roth Spiegelman, cô gái đã uống một tách trà thảo mộc cùng ban nhạc The Mallionaires trong hậu trường sau một buổi biểu diễn ở St. Louis, còn họ uống rượu whiskey. Margo Roth Spiegelman, cô gái đã vào được buổi biểu diễn đó bằng cách nói với người soát vé rằng cô là bạn gái của tay guitar bass. Họ không nhận ra cô ư? Thôi nào ông anh, nói nghiêm túc nhé, tôi là Margo Roth Spiegelman, bây giờ nếu ông anh vào trong bảo anh chàng chơi guitar bass hãy nhìn tôi một cái, thì anh chàng sẽ bảo ngay với ông anh rằng tôi là bạn gái anh ta, hoặc anh ta muốn có tôi là bạn gái. Người soát vé làm như vậy thật, và tay bass đã nói “đúng bạn gái tôi đấy, để cô ấy vào đi.” Sau đó anh chàng muốn đi lại nghiêm chỉnh với Margo, và cô ấy đã từ chối tay guitar bass của The Mallionaires.
Những chuyện ấy, khi được kể đi kể lại, luôn kết thúc bằng câu Thế đấy, có tin được không ta? Thường là không thể tin nổi, nhưng đó luôn là những chuyện có thật.
Bọn tôi đến chỗ ngăn tủ cá nhân của mình. Radar đang dựa lưng vào ngăn của Ben, tay bấm bấm máy tính cầm tay.
“Vậy là ông sẽ đến dạ hội tốt nghiệp,” tôi nói với nó. Radar ngước lên rồi lập tức cúi xuống.
“Tôi đang chấn chỉnh một bài viết trong Toàn Thư Đủ Thứ về cựu Thủ Tướng Pháp. Đêm qua thằng xỏ lá nào đó đã xóa toàn bộ bài và chèn vào câu Jacques Chirac đang bị đồng tính, một điều không chính xác cả về thực tế lẫn ngữ pháp.” Radar là biên tập viên cự phách của một trang thông tin tham khảo trực tuyến do cộng đồng mạng sáng lập, tên đầy đủ là Toàn Thư Đủ Thứ. Cả đời nó tận tâm cống hiến để duy trì và phát triển kho Toàn Thư này. Đây là một trong những lí do tại sao việc nó hẹn hò đi dạ hội lại là chuyện đáng ngạc nhiên đến vậy.
“Vậy là ông sẽ đến dạ hội tốt nghiệp nhỉ,” tôi nhắc lại.
“Xin lỗi nhé,” nó nói mà chẳng buồn nhìn lên. Thằng nào cũng biết là tôi ớn vụ dạ hội. Hoàn toàn và tuyệt đối không có gì về cái dạ hội ấy hấp dẫn được tôi–nhảy điệu slow ư, nhảy nhạc bốc ư, váy vóc xúng xính ư, bộ vét đuôi tôm đi thuê ư, không gì sất. Đi thuê vét đuôi tôm đối với tôi là cách hoàn hảo để bị lây nhiễm một thứ bệnh kinh khủng nào đó từ người từng mặc bộ quần áo ấy, và tôi không ham là chàng trai trong trắng duy nhất trên thế gian này chăn trên mình cả một bầy rận mu.
“Này ông,” Ben nói với Radar, “các em thỏ non bé bỏng đã biết hết chuyện Ben Bỉ Bựa rồi.” Rút cục Radar chịu cất cái máy cầm tay đi, gật gật đầy thông cảm và thấu hiểu. “Dù sao,” Ben tiếp tục, “hai chiến thuật còn lại của tôi là vào Internet rao quảng cáo cần tìm người đi dạ hội cùng, hoặc bay đến Missouri bắt cóc một nàng thỏ ngon ngon, ngoan ngoan, ngu ngu nào đó về vậy.” Tôi từng cố nói với Ben rằng “nàng thỏ non” nghe có vẻ phân biệt giới và yếu đuối quá, không có chút cá tính nào cả, nhưng nó vẫn không chịu thay đổi thói quen. Cả mẹ nó cũng bị nó gọi là thỏ. Thật đúng là hết thuốc chữa với thằng này.
“Tôi sẽ hỏi Angela xem có biết ai không,” Radar nói. “Cơ mà cua được một em chịu đi dạ hội với ông còn khó hơn cả chuyện luyện chì thành vàng.”
“Cua được một em chịu đi dạ hội với ông là chuyện khó nhằn đến mức riêng giả thuyết ấy thôi đã đủ sức rắn cắt được kim cương rồi,” tôi bồi thêm.
Radar khẽ đấm hai cú vào ngăn tủ để bày tỏ sự tán thành, và tiếp tục đi đến kết luận. “Ben này, cua được một em chịu đi dạ hội với ông là chuyện gian nguy đến mức Chính phủ Hoa Kì tin rằng vấn đề không thể giải quyết được bằng đường ngoại giao, mà phải viện đến vũ lực.”
Tôi đang nghĩ dở vế tiếp theo thì cả ba thằng cùng trông thấy cái bình đựng hoóc-môn tăng cơ có hình dạng con người tên là Chuck Parson đang hằm hằm tiến lại phía chúng tôi. Chuck Parson không chơi trong đội thể thao nào cả vì như thế sẽ làm xao nhãng mục tiêu to tát của đời nó: một ngày nào đó được kết tội giết người. “Này, mấy thằng ái kia,” nó gọi.
“Chào Chuck,” tôi đáp, dàn hòa cầu thân hết mức có thể. Mấy năm nay Chuck không xích mích gì nghiêm trọng với bọn tôi–có đứa trong đám có máu mặt đã phán rằng như thế là bọn tôi được yên thân. Thế nên khi chính Chuck bắt chuyện với bọn tôi thì điều này có vẻ kì kì.
Có thể tại tôi đã mở miệng, hoặc cũng có thể không phải vậy, nhưng Chuck đã đấm uỳnh hai nắm tay lên cánh cửa tủ đựng đồ, găm tôi ở giữa, gí mặt sát lại đến mức tôi có thể tha hồ suy đoán xem nó đã dùng loại thuốc đánh răng nào. “Mày biết gì về Margo và Jase?”
“Ờ,” tôi đáp, trong đầu nghĩ đến mọi thứ tôi biết về hai người đó: Jase là bạn trai nghiêm túc đầu tiên và duy nhất của Margo Roth Spiegelman. Cả hai bắt đầu hẹn hò hồi cuối năm ngoái. Sang năm cả hai sẽ cùng đến Đại học Florida. Jase được học bổng vì sẽ chơi trong đội bóng chày của trường. Hắn chưa bao giờ ở lâu trong nhà cô ấy, trừ phi đến đón Margo. Cô ấy chưa bao giờ tỏ ra là thích hắn đến mức ấy, nhưng cô ấy cũng chưa bao giờ tỏ ra thích bất cứ ai đến mức ấy. “Chả biết gì cả,” rút cục tôi nói.
“Đừng hòng lừa tao,” Chuck gầm lên.
“Tôi hầu như chẳng hiểu gì về Margo cả,” tôi nói, và đúng là như vậy.
Nó cân nhắc câu trả lời của tôi trong chốc lát, còn tôi cố hết sức nhìn thẳng vào hai tròng mắt sát nhau của nó. Chuck gật đầu rất khẽ, rời dãy tủ đựng đồ và vào lớp học môn tiết một của nó: Chăm sóc và dinh dưỡng cho cơ ngực. Hồi chuông thứ hai reo. Còn một phút trước giờ vào lớp. Radar và tôi có giờ giải tích, còn Ben có giờ toán tổ hợp. Các phòng học san sát cạnh nhau, bọn tôi vào lớp, ba thằng giăng hàng ngang, tin rằng lũ bạn sẽ dạt ra đủ rộng cho chúng tôi qua, và đúng như vậy.
Tôi nói:
“Cua được một em chịu đi dạ hội với ông là chuyện khó xảy ra đến mức một ngàn con khỉ gõ một ngàn cái máy chữ trong một ngàn năm cũng không một lần gõ dòng Tôi sẽ đi dạ hội với Ben.”
Ben không thể kìm nén khỏi suy sụp. “Viễn cảnh đi dạ hội của tôi thảm đến mức bà của Q cũng chẳng thèm đi với tôi. Bà bảo bà đang đợi Radar mời bà đi kìa.”
Radar từ tốn gật đầu. “Đúng đấy, Q. Bà của ông khoái các chiến hữu mà.”
Dễ như bỡn thế là đã quên được Chuck, để say sưa bàn tán về buổi dạ hội dù tôi chẳng mảy may quan tâm đến nó.
Cái sự đời sáng ngày hôm ấy: chẳng có gì thực sự quá hệ trọng, cả chuyện tốt lẫn chuyện xấu. Chúng tôi bận mỗi việc mua vui tiêu khiển cho nhau, và chúng tôi đã ung dung hào phóng một cách rất chính đáng.
Ba giờ đồng hồ tiếp theo tôi ở trong lớp, cố không nhìn lên đám đồng hồ treo trên những tấm bảng đen, rồi nhìn đồng hồ, rồi tá hỏa nhận ra mới có mấy phút trôi qua kể từ lần cuối tôi xem giờ. Tôi đã có gần bốn năm kinh nghiệm xem đồng hồ, nhưng tốc độ rùa bò ì ạch đó chưa bao giờ khiến tôi hết ngạc nhiên. Giả sử chỉ được sống thêm một ngày, tôi sẽ lao ngay đến những hành lang hun hút của trường Winter Park, nơi ai cũng biết một ngày kéo dài như cả ngàn năm.
Hoặc dài như môn vật lí ở tiết thứ ba tưởng chừng không bao giờ đi đến hồi kết, nhưng cuối cùng nó cũng đã kết thúc, và rồi tôi vào căng-tin với Ben. Radar ăn bữa trưa vào tiết năm với hầu hết những đứa khác, thế nên nhìn chung Ben và tôi một mình ngồi cạnh nhau, có một đôi ngồi giữa chúng tôi và một nhóm trong đội kịch mà bọn tôi quen. Hôm nay, hai thằng bọn tôi đều ăn pizza xúc xích cay.
“Pizza ngon tuyệt,” tôi nói. Ben lơ đãng gật đầu. “Có chuyện gì vậy?” tôi hỏi.
“Khùng cú giừ,” Ben trả lời bằng một miệng đầy bánh. Nó nuốt đánh ực. “Tôi biết ông nghĩ trò này rất lố, nhưng tôi muốn đi dạ hội.”
“1. Đúng là tôi thấy trò này lố; 2. Nếu ông thích thì cứ việc đi; 3. Nếu tôi không nhầm, ông đã ngỏ lời mời ai đâu.”
“Trong giờ toán tôi đã hỏi Cassie Hiney. Tôi viết giấy hẳn hoi.” Tôi trợn mắt lên đầy nghi hoặc. Ben thò tay vào túi quần lôi ra tờ giấy gấp dày cui đưa cho tôi. Tôi mở giấy ra:
Ben,
Tớ cũng muốn đi dạ hội cùng cậu, nhưng tớ đã đồng ý sẽ đi với Frank rồi. Xin lỗi nhé!
–C
Tôi gập giấy lại và trượt trả nó qua mặt bàn. Tôi vẫn nhớ đã từng chơi bóng đá bằng giấy trên những mặt bàn kiểu này. “Chán thế,” tôi nói.
“Ừa, chán gì đâu.” Những bức tường âm thanh dường như khép lại quanh chúng tôi, hai thằng ngồi lặng ngắt một lúc, rồi Ben nhìn tôi vẻ nghiêm trọng và nói, “Vào đại học tôi sẽ quậy tưng trường cho coi. Tôi sẽ được ghi vào Sách Kỉ Lục Guinness ở mục ‘Người chiều được nhiều thỏ non nhất.’”
Tôi cười phá lên. Còn đang mải nghĩ chuyện bố mẹ Radar đã thực sự được đưa vào Sách Guinness như thế nào, tôi chợt nhận thấy có một cô bạn người gốc Phi trông rất xinh với những lọn tóc tinh nghịch đang đứng trước mặt mình. Mất một lúc tôi mới nhận ra đó là Angela, theo-phỏng-đoán-của-tôi là bạn gái Radar.
“Chào,” cô ấy lên tiếng với tôi.
“Chào cậu,” tôi đáp. Tôi đã học chung lớp với Angela nên cũng biết sơ sơ, nhưng tôi và cô ấy chưa từng chào nhau ở hành lang hay đại loại như vậy. Tôi nhích sang một bên nhường chỗ cho Angela ngồi. Cô ấy lách qua ghế ngồi xuống phía đầu bàn.
“Hình như các cậu là những người hiểu Marcus nhất,” Angela vào đề, dùng tên thật của Radar. Cô ấy nghiêng người về phía bọn tôi, khuỷu tay tì lên mặt bàn.
“Một sứ mệnh chán òm, nhưng cũng phải có ai đó chịu trận chứ,” Ben đáp, nhe răng cười.
“Các cậu có nghĩ cậu ấy, ừm, xấu hổ vì tớ không?” Ben cười phá lên. “Cái gì cơ? Không đâu,” nó nói.
“Thật ra thì,” tôi thêm thắt, “chính cậu thấy xấu hổ vì cậu ta mới phải.”
Cô ấy tròn mắt chớp chớp và mỉm cười. Một cô nàng quen được khen ngợi đây. “Nhưng dù gì cậu ấy chưa bao giờ, thế nào nhỉ, rủ tớ tụ tập cùng các cậu.”
“Ồồồ...,” rút cục tôi đã hiểu ra vấn đề. “Tại cậu ta xấu hổ vì bọn tớ chứ sao.”
Angela bật cười. “Các cậu có gì quái đản đâu.”
“Cậu chưa chứng kiến cảnh Ben hít Sprite bằng mũi rồi phì ra đằng mồm đấy thôi,” tôi nói.
“Lúc đó trông tớ như một đài phun nước có ga đang trong cơn cuồng nộ ấy,” Ben nói tỉnh rụi.
“Nhưng nếu là các cậu thì các cậu có lo không? Bọn tớ hẹn hò được năm tuần rồi mà cậu ấy chưa bao giờ đưa tớ đến nhà cả.” Ben và tôi liếc nhau một cái kiểu biết-ngay-mà, mặt tôi như muốn rúm lại vì nhịn cười. “Sao thế?” Angela hỏi.
“Không sao,” tôi đáp. “Tớ nói thật, Angela ạ, nếu cậu ta bắt cậu tụ bạ với bọn tớ và suốt ngày đưa cậu đến nhà cậu ta...”
“Thì như vậy đứt đuôi con nòng nọc là cậu ta không thích cậu chút nào đâu,” Ben kết thúc vấn đề.
“Bố mẹ cậu ấy dị lắm à?”
Tôi chật vật tìm cách trả lời câu hỏi ấy một cách thành thực. “Ừm, không đâu. Hai bác ấy hay phết. Cơ mà tớ nghĩ hai bác cưng cậu ta hơi kĩ thôi.”
“Ờ, cưng hơi kĩ,” Ben đồng ý phắt luôn, một cách hơi bị quá nhanh.
Angela mỉm cười đứng dậy, nói là phải đi kiếm ai đó trước khi hết giờ ăn trưa. Ben đợi cô ấy đi khuất rồi mới thốt lên, “Một cô nàng hơi bị được!”
“Chứ còn gì nữa,” tôi nói. “Hay là ông với tôi đá béng thằng Radar đi để chơi với cô nàng này nhỉ.”
“Cơ mà chắc cô nàng không kì tài máy tính bằng thằng Radar đâu. Bọn mình cần người giỏi máy tính mà ông. Mới cả tôi cá là cô nàng chơi Hồi Sinh rất ấm ớ,” đó là trò chơi điện tử mấy đứa bọn tôi đều ghiền. “Mà này,” Ben nói thêm, “nói ông bà già của Radar cưng nó hơi kĩ nghe hay đấy.”
“Ờ thì tôi sao có thể bép xép gì được,” tôi nói.
“Không biết khi nào Angela sẽ được tham quan Dinh Thự Bảo Tàng Nhà Radar nhỉ,” Ben cười nhăn nhở.
Sắp hết giờ nghỉ, Ben và tôi đứng dậy đặt khay đồ ăn trưa lên băng chuyền. Chính cái băng chuyền Chuck Parson đã từng lẳng tôi lên hồi tôi mới lơ ngơ vào trường, ném tôi xuống lãnh địa ngầm đầy kinh hãi của tập đoàn tẩy rửa bát đĩa Winter Park. Bọn tôi đi đến chỗ ngăn tủ cá nhân của Radar và vẫn đứng đó khi nó xoẹt đến sau hồi chuông thứ nhất.
“Trong giờ học môn nhà nước và chính quyền, tôi đã quyết định rằng nếu phải liếm bi của lừa mà có thể được bỏ qua môn ấy cho đến hết học kì, thì tôi sẵn sàng cam tâm tự nguyện làm như vậy,” Radar làu bàu.
“Ờ, bi của lừa có thể dạy ông khối thứ về nhà nước và chính quyền đấy,” tôi nói. “Mà này, nói về những lí do có thể khiến ông ước gì mình đã ăn trưa từ tiết bốn, tụi tôi vừa ngồi ăn cùng Angela đấy.”
Ben nhếch mép với Radar và nói: “Ừa, cô nàng thắc mắc là sao chả bao giờ được đến nhà ông.”
Radar thở hắt ra một hơi dài thườn thượt trong khi quẳng một đống hầm bà lằng vào tủ đựng đồ. Nó thở dài lâu đến mức tôi tưởng nó sẽ đứt hơi ngất xỉu luôn mất.
“Mạt quá đi mất,” rút cục nó nói.
“Ông xí hổ chuyện gì sao?” Tôi cười cười hỏi.
“Tắt ngay,” Radar cau có thúc cùi chỏ vào bụng tôi. “Nhà ông đẹp thế còn gì,” tôi chưa tha.
“Tôi nói nghiêm túc với ông nhé,” Ben bồi thêm. “Angela thật sự dễ mến. Tôi không hiểu sao ông không cho bạn ấy gặp bố mẹ ông và xem một vòng Casa[2] Radar nhỉ.”
Radar ném nốt sách vào ngăn tủ rồi đóng lại. Không khí trò chuyện chộn rộn quanh chúng tôi tắt lịm khi Radar nhìn thẳng lên trời và hét, “ÔNG BÀ GIÀ TÔI CÓ BỘ SƯU TẬP ÔNG GIÀ NOEL DA ĐEN ĐỒ SỘ NHẤT THẾ GIỚI THÌ CÓ PHẢI LỖI TẠI TÔI QUÁI ĐÂU!”
Tôi đã nghe Radar rên rẩm “bộ sưu tập ông già Noel da đen đồ sộ nhất thế giới” cả ngàn lần trong đời, và chưa bao giờ tôi nén nổi phì cười vì điều đó. Nhưng Radar không nói giỡn. Tôi vẫn nhớ lần đầu đến nhà nó. Hình như lúc ấy tôi mười ba. Hồi đó là mùa xuân, đã mấy tháng sau Giáng Sinh, thế mà vẫn có vô số những ông già Noel da đen giăng trên các bậu cửa sổ. Các ông già Noel da đen bằng giấy treo dọc tay vịn cầu thang. Những cây nến hình ông già Noel da đen đặt trang trí trên bàn ăn. Một bức sơn dầu vẽ ông già Noel da đen treo phía trên lò sưởi, còn trên bệ lò sưởi là một loạt hình nộm các ông già Noel da đen. Trong nhà có một lọ đựng kẹo hình ông già Noel da đen mua từ Namibia. Cây đèn hình ông già Noel da đen thường được đặt cạnh thùng thư ở sân trước từ lễ Tạ ơn đến Năm mới, những lúc khác trong năm đứng hiên ngang trong góc phòng tắm dự phòng, một phòng tắm có giấy dán tường tự chế với họa tiết ông già Noel da đen và miếng bông tắm hình ông già Noel. Trong mỗi phòng, trừ phòng Radar, vương quốc của ông già Noel da đen bành trướng khắp nơi nơi–trên thạch cao, chất dẻo, đá hoa, đất sét, gỗ và vải vóc. Tổng cộng, bố mẹ Radar sở hữu hơn một ngàn hai trăm ông già Noel da đen dưới mọi hình thức. Như được trịnh trọng viết trên tấm bảng nhỏ cạnh cửa chính, nhà Radar là một di tích về ông già Noel được Hiệp hội Giáng Sinh chính thức công nhận.
“Ông chỉ việc nói với Angela thôi,” tôi nói. “Đại loại như, ‘Angela này, tớ thực sự thích cậu, nhưng có điều này cậu cần phải biết: khi ở trong nhà tớ và dính lấy nhau, tụi mình sẽ được quan sát bằng hai ngàn bốn trăm con mắt của một ngàn hai trăm ông già Noel da đen.’”
Radar đưa tay cào cào mái đầu húi cua, lắc lắc. “Ừa, không nghĩ là tôi sẽ nói y chang như vậy, nhưng tôi sẽ giải quyết việc đó.”
Tôi vào lớp học môn nhà nước và chính quyền, Ben học môn tự chọn về thiết kế trò chơi điện tử. Tôi nhăm nhăm xem đồng hồ suốt hai tiết học nữa, rồi cuối cùng cơn thở phào cũng bật khỏi lồng ngực khi hết giờ–khúc cuối một ngày luôn giống như chạy việt dã đến lễ tốt nghiệp còn chưa đầy một tháng nữa.
Tôi về nhà. Ăn lót dạ hai miếng bánh mì với bơ lạc và mứt. Xem pô-cơ trên ti-vi. Bố mẹ về nhà lúc sáu giờ, ôm nhau và ôm tôi. Bữa tối nghiêm chỉnh có mì ống bỏ lò. Bố mẹ hỏi tôi về trường lớp. Về dạ hội tốt nghiệp. Bố mẹ tấm tắc rằng nuôi dạy tôi khôn lớn là một kì tích của bố mẹ. Rằng trong công việc hàng ngày bố mẹ phải xoay xở với những người lớn lên trong cảnh ít được chăm sóc chu đáo. Bố mẹ đi xem ti-vi. Tôi về phòng kiểm tra e-mail. Tôi viết một ít về cuốn Gatsby Vĩ đại cho giờ Quốc ngữ. Tôi đọc một ít Những văn bản Liên bang, chuẩn bị trước cho kì thi môn nhà nước và chính quyền. Tôi chát chíu trên mạng với Ben, một lúc sau Radar cũng vào mạng. Trong lúc tán chuyện, nó đã bốn lần nhắc đến “bộ sưu tập ông già Noel da đen đồ sộ nhất thế giới”, lần nào tôi cũng bật cười khùng khục. Tôi bảo nó rằng tôi rất mừng vì nó đã có bạn gái. Nó bảo mùa hè năm nay sẽ hay ho đây. Tôi đồng ý. Hôm nay ngày mùng năm tháng Năm, nhưng cũng chẳng quan trọng. Chuỗi ngày của tôi giống nhau một cách dễ chịu. Tôi luôn thích như vậy: nhịp sinh hoạt đều đặn. Tôi thích cảm giác chán chán. Tôi không muốn như vậy, nhưng đúng là tôi thích thế. Và như vậy mùng năm tháng Năm có thể là bất cứ ngày nào–cho đến ngay trước nửa đêm hôm ấy, khi Margo Roth Spiegelman trượt mở ô cửa sổ không có lưới chắn của phòng tôi, lần đầu tiên kể từ khi cô ấy bảo tôi hãy đóng nó lại cách đây chín năm.
[1] “Hiney” trong tiếng Anh lóng nghĩa là “cái mông”.
[2] Trong tiếng Tây Ban Nha, “casa” nghĩa là “ngôi nhà”.