Căn Phòng Của Jacob

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Chín

❊ ❊ ❊

Nữ Bá tước Rocksbier ngồi một mình ở đầu bàn với Jacob. Được bồi bổ bằng sâm banh và gia vị suốt ít nhất hai thế kỷ (bốn, nếu bạn tính theo dòng dõi phía bên mẹ), nữ Bá tước Lucy trông có vẻ béo tốt. Bà có một cái mũi nhạy bén đối với các thứ mùi, và dài, như thể để truy tìm chúng; môi dưới của bà trề ra như một cái kệ hẹp màu đỏ; mắt bà nhỏ, với cặp lông mày hung đỏ, và cằm bà hơi xệ. Phía sau bà (cửa sổ mở ra quảng trường Grosvenor) là Moll Pratt, đứng trên vệ đường, đang chào bán hoa păng-xê; và bà Hilad Thomas đang nhấc cao váy chuẩn bị băng qua đường. Một người đến từ Walworth; người kia từ Putney. Cả hai đều mang tất đen, nhưng bà Thomas mặc áo lông. Sự so sánh nghiêng về phía Phu nhân Rocksbiers. Moll vui tính hơn, nhưng hung dữ, ngu xuẩn nữa. Hilda Thomas hay nói năng quanh co. Tất cả những cái khung ảnh bằng bạc của Phu nhân Rocksbier đều dựng nghiêng; những cái chén đựng trứng trong phòng khách; và những cửa sổ có màn che. Bất kể tiểu sử của Phu nhân Rocksbier có thiếu sót gì, bà từng là một tay thợ săn với chó tài ba. Bà vừa khéo léo dùng dao để xẻ thịt gà vừa cáo lỗi với Jacob.

“Người đang ngồi xe ngang qua là ai vậy?” Bà hỏi Boxall, viên quản gia.

“Xe của Phu nhân Firtlemere, thưa bà,” câu đáp nhắc bà nhớ phải gửi một tấm thiệp để hỏi thăm sức khỏe ông chủ của ông ta.

Một vị phu nhân già thô lỗ, Jacob nghĩ. Rượu vang rất tuyệt. Bà tự gọi mình là “một bà già” - “Anh rất tốt bụng khi chịu ngồi ăn trưa với một bà già” - câu đó khiến anh cảm thấy được tâng bốc. Bà nói về Joseph Chamberlain, người bà từng quen biết. Bà bảo rằng Jacob phải tới và gặp ông ta - một trong bốn nhân vật nổi tiếng của chúng ta. Tiểu thư Alice bước vào với sợi xích dắt theo ba con chó, và Jackie, kẻ chạy tới để hôn bà nó, trong lúc Boxall mang vào một bức điện tín, và Jacob được tặng một điếu xì gà ngon.

Vài giây trước khi một con ngựa nhảy qua vật cản, nó giảm tốc độ, rùng thấp xuống, rồi phóng vọt lên như một làn sóng lớn, và đáp xuống phía bên kia. Những bờ giậu và bầu trời lao vào nhau trong một hình bán nguyệt. Như thể lúc đó cơ thể bạn nhập làm một với cơ thể con ngựa và đôi chân của bạn hòa lẫn vào đôi chân trước của nó, bạn nhảy vọt lên, lao qua không trung, mặt đất nảy lên, hai cơ thể trở thành một khối, thế nhưng bạn cũng có quyền điều khiển, với thân hình thẳng bất động, mắt phán xét một cách chính xác. Rồi những đường cong kết thúc, chuyển thành những nhát búa bổ xuống, gây chấn động; và bạn dừng lại với một cú nảy; hơi ngửa người ra sau, tóe lửa, nhói đau, băng phủ trùm lên những động mạch đập thình thịch, thở dốc: “Ah! Ho! Hah!” Hơi nước tỏa ra từ những con ngựa khi chúng chen nhau ở những giao lộ, nơi có những tấm biển chỉ đường, và người phụ nữ đeo tấm tạp dề đứng ở cửa nhìn ra. Người đàn ông cũng rời mắt khỏi đám cải bắp để nhìn.

Cứ thế Jacob phi ngựa qua những cánh đồng của vùng Essex, lọt tõm xuống vũng bùn, lạc khỏi đội săn, và vừa một mình phi ngựa vừa ăn bánh xăng-uých, nhìn qua những bờ giậu, nhận thấy những màu sắc như thể mới được quét lên, nguyền rủa vận may của mình.

Anh uống trà ở Hội quán; và tất cả bọn họ đang ở đó, vỗ tay, giậm chân, và nói liến thoắng, cộc lốc, vui vẻ: “Mời anh uống trước”; mặt ai cũng đỏ như mào gà lôi và họ thoải mái chuyện trò cho tới khi bà Horsefield và cô Dudding, bạn của bà ta, xuất hiện ở cửa với váy vén cao và mái tóc rủ xuống từng vòng. Sau đó Tom Dudding gõ chiếc roi vào cửa sổ. Một chiếc ô tô nổ máy xình xịch ngoài sân. Các quý ông sờ soạng túi tìm diêm quẹt, bước ra ngoài, và Jacob bước vào tiệm rượu với Brandy Jones để hút thuốc với những người nhà quê. Có già Jevons bị hỏng mất một mắt, với bộ y phục màu bùn, túi đeo sau lưng và trí khôn nằm sâu cả bộ trong lòng đất, giữa những cọng rễ hoa păng-xê và tầm ma; Mary Sanders với cái thùng gỗ của cô ta; và Tom gọi bia, anh là đứa con trai khờ khạo của người kéo chuông nhà thờ - tất cả những người này ở trong phạm vi cách London ba mươi dặm.

Bà Papworth, nhà ở phố Endell, Covent Garden, giúp việc cho Bonamy ở Hội quán Lincoln[1], Quảng trường Mới, và trong khi đang rửa ráy chén đĩa trong phòng rửa chén bà nghe thấy tiếng trò chuyện của các quý ông trẻ tuổi trong căn phòng kế bên. Cậu Sanders lại có mặt ở đó; ý của bà là cậu Flanders; và nếu có kẻ tò mò vì sao người phụ nữ lớn tuổi này nhớ lầm tên, có cơ hội nào để bà thuật lại một cách chân thật một cuộc tranh luận cơ chứ? Trong lúc đưa những cái đĩa vào dưới vòi nước rồi sau đó xếp chúng bên dưới cái vòi ga kêu xì xì, bà lắng nghe: nghe thấy Sanders đang nói to với giọng khá hống hách: “tốt,” cậu ta nói, và “tuyệt đối”, “công lý” và “sự trừng phạt”, và “ý chí của đa số”. Rồi cậu chủ của bà đốt tẩu thuốc, bà đứng về phía cậu ta trong cuộc tranh luận với Sanders. Thế nhưng Sanders là một chàng trai tốt bụng (những lớp mỡ bẩn xoáy tròn quanh cái bồn, được cọ rửa ra khỏi bát đĩa bởi đôi bàn tay tím tái hầu như không có móng của bà.)

“Những người phụ nữ” - bà nghĩ, và tự hỏi Sanders cùng cậu chủ của mình đã làm gì theo cách thức đó, một mí mắt sụp xuống thấy rõ trong lúc bà ngẫm nghĩ, bởi bà là mẹ của chín đứa con, ba bị chết non và một câm điếc bẩm sinh. Khi đặt những cái đĩa lên giá bà lại nghe thấy tiếng Sanders lần nữa (“Cậu ta không cho Bonamy cơ hội nào hết,” bà nghĩ). “Một tính chất khách quan nào đó,” Bonamy nói; và “lý lẽ thông thường” và một cụm từ gì đó khác - tất cả đều là những từ rất dài, bà nhận thấy. “Học hành sách vở gây ra điều đó,” bà tự nhủ, và trong lúc thọc hai cánh tay vào trong áo khoác bà nghe thấy vật gì đó - có lẽ là cái bàn nhỏ cạnh lò sưởi - ngã xuống, và sau đó tiếng giậm chân rầm rầm - như thể họ đang cãi nhau - quanh căn phòng, khiến những cái đĩa nhảy tưng tưng.

“Món điểm tâm của ngày mai, thưa cậu,” bà nói, mở cửa ra; và kia là Sanders và Bonamy, trông như hai con bò mộng xứ Bashan[2] đang đuổi nhau vòng vòng, tạo nên một cảnh tượng huyên náo, và tất cả những cái ghế nằm lăn lóc giữa đường đi. Họ không bao giờ để ý tới bà. Bà cảm thấy có một tình cảm mang tính chất mẫu tử đối với họ. “Món điểm tâm của cậu đây, thưa cậu,” bà nói, khi họ tới gần. Và Bonamy, tóc tai rối bù và cái cà vạt bay phấp phới, dừng lại, đẩy Sanders vào cái ghế bành, bảo Sanders đã làm vỡ cái ấm cà phê và cậu ta đang dạy cho Sanders một bài học...

Chắc chắn rồi, cái ấm cà phê nằm vỡ toang trên tấm thảm trước lò sưởi.

“Bất cứ ngày nào trong tuần này ngoại trừ ngày Thứ Năm,” cô Perry viết, và đây không phải là lời mời đầu tiên ở bất kỳ ý nghĩa nào. Có phải mọi tuần của cô Perry đều trống rỗng trừ Thứ Năm, và mong ước duy nhất của bà là gặp con trai của bạn mình không? Thời gian được ban phát cho những quý cô già chưa chồng giàu có trong những dải ruy băng dài trắng. Họ cuộn những dải này thành từng vòng, từng vòng, được trợ giúp bởi năm người hầu gái, một viên quản gia, một con vẹt Mexico xinh đẹp, những bữa ăn thường ngày, thư viện của Mudie, và những người bạn ghé qua. Trước đó, bà đã cảm thấy hơi tổn thương vì Jacob chưa ghé tới.

“Mẹ cậu là một trong những người bạn lâu năm nhất của tôi,” bà nói.

Cô Rosseter, đang ngồi cạnh lò sưởi, giữ tờ Spectator[3] giữa gò má và ngọn lửa, khước từ có một tấm bình phong tốt, nhưng cuối cùng cũng chấp nhận nó. Họ đang thảo luận về thời tiết, bởi thể theo ý của Parkes, kẻ đang mở những cái bàn gấp nhỏ ra, những vấn đề nghiêm trọng hơn được hoãn lại. Cô Rosseter lưu ý Jacob về vẻ đẹp của cái tủ ngăn.

“Rất đỗi thông minh trong việc chọn các thứ,” bà nói. Cô Perry đã tìm thấy nó ở Yorkshire. Họ thảo luận về miền Bắc nước Anh. Khi Jacob nói, cả hai đều lắng nghe. Cô Perry đang nghĩ phải nói điều gì đó phù hợp và nam tính thì cánh cửa mở ra và người hầu báo có ông Benson tới. Hiện giờ có bốn người đang ngồi trong căn phòng đó. Cô Perry 66 tuổi; cô Rosseter 42; ông Benson 38; và Jacob 25.[4]

“Anh bạn cũ của tôi trông vẫn ổn như trước giờ,” ông Benson nói, vỗ vào những thanh nan của cái lồng vẹt; cùng lúc đó cô Rosseter khen món trà; Jacob trao nhầm đĩa; và cô Perry ra hiệu cho anh tới gần hơn. “Những anh em của cậu,” bà bắt đầu một cách mơ hồ.

“Archer và John,” Jacob nói đỡ cho bà. Sau đó bà vui mừng nhớ ra tên của Rebecca; và một ngày nọ, “khi tất cả các cậu đều là những cậu bé, đang chơi đùa trong phòng khách...”

“Nhưng cô Perry có miếng lót quai ấm,” cô Rosseter nói, và quả thật cô Perry đang cài nó ở trước ngực. (Hồi đó bà có yêu cha của Jacob không nhỉ?)

“Rất thông minh” - “không tốt như thường lệ” - “tôi nghĩ nó bất công nhất”, ông Benson và cô Rosseter nói, thảo luận về tờ Saturday Westminster[5]. Họ có thường xuyên dự thi vì những giải thưởng hay chăng? Không phải ông Benson đã ba lần thắng được một đồng ghi-nê, và cô Rosseter đã có lần thắng được mười siling sáu xu hay sao? Tất nhiên Everard Benson bị bệnh yếu tim, tuy vậy ông vẫn thắng giải, nhớ những con vẹt, xu nịnh cô Perry, xem thường cô Rosseter, tổ chức những bữa tiệc trà trong những căn phòng của mình (vốn theo phong cách của Whistler[6], với những cuốn sách xinh xinh trên những cái bàn), tất cả những điều này khiến ông ta trở thành một gã ngốc đáng khinh, Jacob cảm thấy thế dù chưa biết nhiều về ông ta mấy. Còn về phần Rosseter, bà bị mắc bệnh ung thư, và hiện đang vẽ tranh màu nước.

“Bỏ về sớm thế?” Cô Perry nói mơ hồ. “Tôi ở nhà mỗi chiều, nếu cậu không có gì tốt hơn để làm - trừ những ngày Thứ Năm.”

“Tôi chưa từng biết cậu bỏ rơi những phu nhân già bạn cậu lần nào,” cô Rosseter đang nói, và ông Benson đang cúi người trên cái lồng vẹt, còn cô Perry đang tiến về phía cái chuông...

Ngọn lửa cháy sáng giữa hai cột đá hoa xanh xanh, và trên mặt lò sưởi là một cái đồng hồ màu lục được canh gác bởi một người lính Anh tì người lên chiếc giáo. Còn về phần những bức tranh - một phụ nữ đội một cái mũ to trao cho một quý ông mặc y phục thời thế kỷ mười tám một bó hoa hồng qua cổng vườn. Một con chó tai cụp nằm duỗi dài sát một cánh cửa mòn vẹt. Những tấm kính cửa sổ phía dưới là kính mờ, và những tấm màn che, được móc một cách chính xác, may bằng vải nhung lông và cũng toàn màu lục.

Laurette và Jacob ngồi trong hai cái ghế to bọc vải nhung lông màu lục, với những ngón chân nằm cạnh nhau trên tấm chắn lò sưởi. Cái váy của Laurette ngắn củn cởn, đôi chân của nàng dài, ốm, và được che phủ bằng một lớp tất trong suốt. Những ngón tay của nàng đang vuốt ve hai mắt cá chân.

“Không chính xác là tôi không hiểu họ,” nàng đang trầm ngầm nói. “Tôi phải đi và cố lần nữa.”

“Cô sẽ tới đó lúc nào?” Jacob hỏi.

Nàng nhún vai.

“Ngày mai?”

Không, không phải ngày mai.

“Thời tiết này khiến tôi nhớ quê hương,” nàng nói, ngoái nhìn quang cảnh những ngôi nhà cao ở phía sau qua cửa sổ.

“Tôi ước gì cô ở với tôi vào Thứ Bảy,” Jacob nói.

“Tôi thường cưỡi ngựa,” nàng nói. Nàng đứng lên, duyên dáng, bình thản. Jacob cũng đứng lên. Nàng mỉm cười với anh. Khi nàng đóng cửa lại, anh đặt rất nhiều đồng siling lên mặt lò sưởi.

Hoàn toàn là một cuộc đối thoại hợp lý nhất; một căn phòng đáng trọng nhất; một cô gái thông minh. Chỉ bản thân Madame Laurette, khi tiễn chân Jacob, có cái liếc mắt dâm dật đó, cái vẻ dâm ô đó, sự chấn động của bề mặt đó (hiển hiện chủ yếu trong đôi mắt), đe dọa đánh đổ toàn bộ cái giỏ đựng rác, vốn được giữ với sự khó khăn, trên vệ đường. Nói tóm lại, có gì đó không ổn.

Cách đây không lâu lắm những người thợ đã mạ vàng chữ “y” cuối cùng trong tên của Ngài Macaulay[7], và những cái tên trải dài trong một dãy liên tục quanh mái vòm của Viện bảo tàng nước Anh. Ở một độ sâu đáng kể bên dưới, nhiều trăm người sống ngồi trên những cái nan hoa của một cái bánh xe ngựa, sao chép vào những cuốn bản thảo từ những cuốn sách in; thỉnh thoảng đứng lên để thảo luận về danh mục, rón rén ngồi xuống lại, trong khi vào lúc này lúc khác một người đàn ông im lặng lại bổ sung thêm cho những ngăn chỗ ngồi của họ.

Có một tai họa nhỏ. Chồng sách của cô Marchmont mất thăng bằng và rơi vào ngăn của Jacob. Những việc như thế cứ xảy ra với cô Marchmont. Cô đang tìm kiếm cái gì qua hàng triệu trang giấy, trong chiếc váy nhung lông cũ của mình, và mái tóc màu rượu vang đỏ, với những viên đá quý và những khoảnh da bị cước tấy đỏ? Đôi khi thứ này, đôi khi thứ khác, để xác nhận triết lý của cô rằng màu sắc là âm thanh - hoặc, có lẽ, nó có liên quan tới âm nhạc. Cô không bao giờ nói được hoàn toàn, dù không phải vì thiếu cố gắng. Và cô không thể mời bạn quay trở lại phòng của mình, vì nó “không được sạch sẽ cho lắm, tôi e là vậy,” thế nên cô phải tiếp bạn ở hành lang, hoặc tìm một chỗ ngồi trong công viên Hyde để giải thích triết lý của mình. Nhịp điệu của linh hồn phụ thuộc vào nó - (“những đứa bé trai đó thật thô lỗ!” cô nói), tiếp đến cô nói về chính sách Ái Nhĩ Lan của ông Asquith[8] “và về Shakespeare và hoàng hậu Alexandra[9] rất mực khoan dung từng tỏ lòng biết ơn đối với một cuốn sách mỏng của tôi”. Cô oai vệ xua tay đuổi đám nhóc tì đi chỗ khác. Nhưng cô cần những khoản trợ cấp để xuất bản cuốn sách của mình, bởi “những tay chủ nhà xuất bản là những tên tư bản - những tay chủ nhà xuất bản là những tên hèn.” Và thế là cô thúc cùi chỏ vào đống sách của mình, khiến nó đổ ầm xuống.

Jacob vẫn ngồi bất động.

Nhưng Fraser, kẻ vô thần, ở phía bên kia, ghét vải nhung lông, đã hơn một lần xáp lại bắt chuyện với những tờ truyền đơn trên tay, dời chỗ với vẻ bực bội. Anh ta ghét cay ghét đắng sự mơ hồ - Thiên Chúa giáo, chẳng hạn, và những tuyên bố của Linh mục Parker. Linh mục Parker viết sách và Fraser hoàn toàn hủy diệt chúng bằng sức mạnh của luận lý học và không cho các con của mình được rửa tội - vợ anh ta đã lén làm việc này trong chậu giặt - nhưng Fraser làm ngơ cô ta, và tiếp tục ủng hộ những kẻ báng bổ, phân phát những tờ truyền đơn, đưa ra những sự thật của mình trong Viện bảo tàng Anh, luôn diện một bộ com lê ca rô và một cái cà vạt sặc sỡ, nhưng vẻ mặt thì xanh xao, cáu kỉnh. Thật sự, đó là một công việc kinh khủng - hủy diệt tôn giáo!

Jacob chép lại cả một đoạn văn từ cuốn sách của Marlowe[10].

Cô Julia Hedge, nhà nữ quyền, đang đợi những cuốn sách của mình. Chúng chưa tới nơi. Cô nhúng bút vào mực. Cô nhìn quanh. Mắt cô bắt gặp những mẫu tự cuối trong tên của ngài Macaulay. Và cô đọc tất cả những cái tên quanh mái vòm - tên của những vĩ nhân vốn nhắc nhở chúng ta - “Ôi chết tiệt thật,” Julia Hedge nói, “vì sao họ không chừa chỗ cho một Eliot[11] hay Bronte[12] nhỉ?”

Julia không may! đang nhúng bút vào mực trong nỗi cay đắng, và bỏ mặc không cột những sợi dây giày. Khi những cuốn sách của cô tới nơi, cô miệt mài với những công việc lớn lao của mình, nhưng nhận thức qua một trong sợi dây thần kinh cáu kỉnh và nhạy cảm rằng các độc giả nam giới cần cù với công việc của họ một cách điềm tĩnh, lãnh đạm, và với mọi quan tâm như thế nào. Chẳng hạn chàng trai đó. Anh ta phải làm gì ngoài việc chép lại thơ? Còn cô thì phải nghiên cứu các số liệu thống kê. Có nhiều phụ nữ hơn đàn ông. Vâng; nhưng nếu bạn để cho phụ nữ làm việc giống như đàn ông, họ sẽ chết sạch nhanh hơn. Họ sẽ trở nên tuyệt chủng. Đó là lập luận của cô. Cái chết và mật đắng và bụi đắng cay nằm ở đầu ngòi bút của cô; và khi buổi chiều dần tàn, cái mũ đỏ ép chặt vào xương gò má và có một ánh sáng trong đôi mắt của cô. Nhưng cái gì đã khiến cho Jacob Flanders đọc Marlowe trong Viện bảo tàng Anh?

Tuổi trẻ, tuổi trẻ - một cái gì đó hoang dại - một cái gì đó có tính chất mô phạm. Chẳng hạn, có Masefield, có Bennett. Cứ dúi họ vào ngọn lửa của Marlowe và thiêu họ thành than. Không để lại mảnh xương nào. Đừng thèm cãi cọ với loại hạng hai. Ghét cay ghét đắng thời đại của chính mình. Xây dựng một thời đại tốt hơn. Và để tiến hành điều đó, hãy đọc những luận văn tẻ ngắt đến không tin nổi về Marlowe cho các bạn của bạn nghe. Vì mục đích đó người ta phải đối chiếu các phiên bản trong Viện bảo tàng Anh. Người ta phải tự làm công việc đó. Không ích gì khi tin vào những kẻ thời Victoria, vốn là những tay chuyên cắt xén, hay những kẻ đương thời, vốn chỉ là những tay rao hàng. Máu thịt của tương lai hoàn toàn phụ thuộc vào sáu chàng trai. Và vì Jacob là một trong số họ, chắc chắn trông anh phải hơi có vẻ vương giả và vênh váo trong lúc lật trang sách của mình, và khá tự nhiên là Julia Hedge không ưa anh.

Nhưng khi đó một người đàn ông mặt bèn bẹt đẩy một tờ ghi chú về phía Jacob; và anh ngả lưng vào ghế, bắt đầu một cuộc đối thoại thầm thì khó chịu, rồi họ cùng đi ra ngoài (Julia Hedge quan sát họ), và cười to ngay khi họ bước vào đại sảnh (cô nghĩ).

Không ai cười to trong phòng đọc. Có những tiếng di chuyển, thì thầm, những cái hắt hơi áy náy, và những tiếng ho lớn, đột ngột, không chút ngượng ngùng. Giờ học hầu như đã kết thúc. Các viên trợ giáo đang thu các bài tập. Đám trẻ con lười biếng muốn duỗi chân duỗi tay. Những đứa ngoan nguệch ngoạc viết một cách cần mẫn - ôi, một ngày khác trôi qua và có quá ít thứ được hoàn thành! Và thỉnh thoảng người ta nghe thấy từ toàn thể tập hợp con người này một tiếng thở dài nặng nề, kế tiếp một ông già thiếu may mắn sẽ ho một cách không xấu hổ, và cô Marchmont hí lên như một con ngựa.

Jacob chỉ trở về vừa kịp giờ để quay lại với những cuốn sách của anh.

Hiện giờ những cuốn sách đã được đặt lại chỗ cũ. Một vài mẫu tự trong bảng chữ cái nằm rải rác quanh mái vòm. Đứng sát cạnh nhau trong một vòng tròn quanh mái vòm là Plato, Aristotle, Sophocles, và Shakespeare; văn chương của La Mã, Hy Lạp, Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư. Trang thơ này ép sát vào trang khác, một mẫu tự sáng chói nằm kề mẫu tự khác trong sự dày đặc của ý nghĩa, một khối kết hợp của vẻ đẹp.

“Giờ mà có được một tách trà thì thật đã,” cô Marchmont nói, đòi lại chiếc ô sờn rách của cô.

Cô Marchmont muốn uống trà, nhưng không thể cưỡng lại một cái nhìn cuối vào bộ sưu tập tác phẩm điêu khắc đá hoa Hy Lạp cổ điển Elgin Marbles[13]. Cô nhìn chúng từ một phía, vẫy tay và lẩm bẩm một hai từ tạm biệt, khiến Jacob và người đàn ông kia quay lại. Cô mỉm cười thân ái với họ. Tất cả đều đi vào triết lý của cô - rằng màu sắc là âm thanh, hoặc có lẽ nó có liên quan tới âm nhạc. Và sau khi hoàn thành công việc của mình, cô khập khiễng đi ra để uống trà. Đã tới giờ đóng cửa. Mọi người tụ tập trong đại sảnh để nhận lại ô của mình.

Phần lớn sinh viên chờ tới lượt họ một cách nhẫn nại. Việc đứng chờ trong lúc một ai đó kiểm tra thẻ ra vào khá dễ chịu. Cái ô chắc chắn sẽ được tìm thấy. Nhưng sự thật đã dẫn đường bạn suốt ngày qua Macaulay, Hobbes, Gibbon; qua những trang giấy khổ tám, khổ tư, khổ hai; chìm ngày càng sâu qua những trang giấy ngà và những bìa da dê thuộc vào sự đậm đặc này của tư tưởng, khối kết tập này của tri thức.

Chiếc gậy chống của Jacob cũng giống như tất cả những chiếc gậy khác; có lẽ chúng đã nằm lẫn lộn trong những ngăn tủ.

Trong Viện bảo tàng Anh có một trí tuệ khổng lồ. Xét tới việc Plato ở đó vai kề vai với Aristotle; và Shakespeare với Marlowe. Trí tuệ vĩ đại này được tích trữ bên ngoài khả năng thủ đắc của bất kỳ trí tuệ đơn lẻ nào. Tuy nhiên (trong lúc họ mất một thời gian khá lâu để tìm gậy) người ta không thể không nghĩ người ta có thể tới đó với một cuốn sổ tay, ngồi ở một cái bàn giấy, và chăm chú đọc nó như thế nào. Một người đàn ông uyên bác là kẻ khả kính nhất trong tất cả - một người như Huxtable ở Trường Trinity, kẻ đã viết tất cả những lá thư của mình bằng tiếng Hy Lạp, họ bảo, và có thể thực hiện phần việc của mình với Bentley. Và còn có khoa học, những bức tranh, nghệ thuật kiến trúc - một trí tuệ vĩ đại.

Chiếc gậy chống được đẩy ngang qua quầy. Jacob đứng bên dưới cổng vòm của Viện bảo tàng Anh. Trời đang mưa. Phố Great Russell lấp loáng ánh đèn - nơi này vàng, nơi kia, mé ngoài tiệm thuốc, đỏ và xanh lơ nhạt. Mọi người hối hả bước gần bức tường; những cỗ xe ngựa ầm ĩ lăn bánh một cách khá hỗn loạn trên đường phố. Vâng, nhưng một cơn mưa nhỏ không gây hại cho ai cả. Jacob đi bộ khá nhiều như thể anh đang ở miền quê; và khuya hôm đó anh ngồi ở bàn mình, với ống vố và cuốn sách.

Mưa rơi như trút nước. Viện bảo tàng Anh đứng sững trong một khối lớn lù lù, rất nhợt nhạt, rất mượt mà trong mưa, cách anh chưa tới một phần tư dặm. Trí tuệ vĩ đại đó được bao phủ bởi đá; và mỗi ngăn trong những chiều sâu của nó đều an toàn và khô ráo. Những người gác đêm, khi soi đèn lồng trên lưng của Plato và Shakespeare, thấy rằng vào ngày hai mươi hai tháng Hai không ngọn lửa, con chuột hay tên trộm nào sẽ xâm phạm những báu vật này. Họ là những người nghèo, rất khả kính, với những bà vợ và những gia đình ở thị trấn Kentish, gắng làm việc hết sức suốt hai mươi năm để bảo vệ Plato và Shakespeare, và sau đó được chôn cất ở Highgate.

Đá nằm vững chắc bên trên Viện bảo tàng Anh, như xương nằm điềm tĩnh trên những viễn tượng và nhiệt độ của bộ não. Chỉ ở đây bộ não mới là bộ não của Plato và Shakespeare; bộ não đã tạo ra những nồi niêu và những pho tượng, những sắc lệnh vĩ đại và những món đồ trang sức nhỏ bé, và không ngừng băng qua dòng sông của cái chết theo lối này lối khác, tìm kiếm một bến bờ nào đó; lúc quấn quanh thân thể suốt giấc ngủ dài của nó; lúc đặt một đồng xu lên đôi mắt; lúc thận trọng xoay những ngón chân về phương Đông. Trong lúc đó, Plato tiếp tục cuộc đối thoại của mình, bất chấp cơn mưa; bất chấp tiếng còi xe; bất chấp người phụ nữ trong khu trại nuôi ngựa phía sau phố Great Ormond, kẻ đã trở về nhà say mèm và kêu la suốt đêm dài. “Cho tôi vào! Cho tôi vào!”

Những tiếng nói trên con đường bên dưới vọng lên căn phòng của Jacob.

Nhưng anh tiếp tục đọc. Bởi nói cho cùng Plato vẫn điềm tĩnh tiếp tục. Và Hamlet thốt lên lời độc thoại của mình. Và những tác phẩm điêu khắc Elgin Marbles nằm đó, suốt đêm dài, cái đèn bão cũ hiệu Jones’s đôi khi nhắc tới Ulysses, hoặc một cái đầu ngựa; hoặc đôi khi một tia lóe sáng của vàng, hoặc gò má vàng ệch lõm sâu của một cái xác ướp. Plato và Shakespeare tiếp tục; và Jacob, khi đang đọc Phaedrus[14], nghe thấy mọi người la hét quanh cột đèn, và người phụ nữ đập cửa và la lên, “Cho tôi vào!” như thể một hòn than đã rơi khỏi đống lửa, hoặc một con ruồi, bị lật ngửa ra khi rơi xuống từ trần nhà và không đủ sức để lật úp trở lại.

Tác phẩm Phaedrus rất khó. Và vì thế, khi cuối cùng người ta đọc thẳng tới trước, lần dò từng bước, hành tiến, trở thành (có vẻ là như thế) một bộ phận tạm thời của năng lượng lăn tròn, điềm tĩnh này, vốn đã đẩy lùi bóng tối phía trước nó kể từ khi Plato bước trong Vệ Thành, việc nhìn thấy ánh lửa là bất khả.

Cuộc đối thoại đi tới đoạn kết. Lập luận của Plato đã hoàn thành. Lập luận của Plato lẩn trốn khỏi tâm trí của Jacob, và trong năm phút tâm trí của anh tiếp tục đơn độc tiến vào bóng tối. Sau đó anh đứng lên, vạch tấm màn che, và nhìn thấy, rõ ràng một cách đáng ngạc nhiên, gia đình Springgett ở phía đối diện đã đi ngủ ra sao; trời đã mưa ra sao; những người Do Thái và người phụ nữ nước ngoài đứng cạnh trụ thư công cộng ở cuối phố đang cãi cọ ra sao.

Mỗi lần cửa mở và những người mới bước vào, những người có mặt sẵn trong phòng hơi thay đổi cử chỉ; những kẻ đang đứng ngoái đầu nhìn lại; những kẻ đang ngồi ngưng đọc giữa những câu. Với ánh sáng, rượu vang, tiếng đàn ghita bập bùng, một điều gì đó phấn khích đã xảy ra mỗi lần cửa mở. Ai đang bước vào vậy?

“Đó là Gibson.”

“Tay họa sĩ?”

“Nhưng anh hãy nói tiếp đi.”

Họ đang nói điều gì đó quá đỗi riêng tư, đến độ không thể nói thẳng ra. Nhưng sự ồn ào của những giọng nói có tác dụng như một cái chuông đuổi chim trong tâm trí của bà Withers, xua vào không trung những đàn chim nhỏ, và sau đó chúng đậu xuống, và sau đó bà thấy e sợ, đặt một bàn tay lên mái tóc, đan cả hai bàn tay quanh hai đầu gối, và ngước nhìn Oliver Skelton với vẻ bồn chồn, và nói:

“Hãy hứa đi, hãy hứa ông sẽ không nói với người nào hết.” ... Ông ta rất chu đáo, rất dịu dàng. Bà đang trao đổi về tính cách của chồng mình. Ông ta lãnh đạm, bà nói.

Bước về phía họ từ mé trên là Magdalen xinh đẹp, da nâu, nồng ấm, áo rộng thùng thình, đi như lướt trên mặt cỏ với đôi chân mang giày có quai. Mái tóc của nàng bay chấp chới; những chiếc kim găm dường như không dính vào những lớp lụa phất phơ. Một nghệ sĩ, dĩ nhiên, và dưới chân nàng là một luồng ánh sáng miên man không dứt. Nàng chỉ nói “Bạn thân mến,” nhưng giọng nàng du dương uốn lượn giữa ngọn đèo Alpine. Và nàng ngả sóng soài ra trên sàn nhà, và hát, vì không có gì để nói, xung quanh là những tiếng ồ à trầm trồ. Mangin, nhà thơ, bước tới gần nàng, cúi nhìn nàng, rít thuốc. Cuộc khiêu vũ bắt đầu.

Bà Keymer tóc bạc đề nghị Dick Graves nói cho bà biết Mangin là ai, và bảo rằng bà đã có quá nhiều thứ này ở Paris (Magdalen đã ngồi lên gối của anh ta; và lúc này cái ống vố của anh ta nằm trên miệng của nàng) nên không hề bị sốc. “Đó là ai?” Bà nói, đôi mắt đeo kính dừng lại khi lướt tới chỗ Jacob, bởi trông anh thật sự lặng lẽ, không phải dửng dưng, mà giống như một người đang quan sát bên bờ biển.

“Ồ, anh thân mến, hãy cho em tựa vào anh,” Helen Askew thở hổn hển, nhảy lò cò trên một chân, vì sợi dây chuyền bạc trên mắt cá chân của nàng đã bị tuột ra. Bà Keyner quay lại và nhìn bức tranh trên tường.

“Hãy nhìn Jacob kìa,” Helen nói (họ đang che đôi mắt của anh lại trong một trò chơi nào đó.)

Và Dick Graves, đang hơi say, rất trung thực, và rất chất phác, nói với nàng rằng anh ta nghĩ Jacob là người đàn ông vĩ đại nhất mà anh ta từng biết. Và họ ngồi xuống, vắt chéo chân trên những tấm đệm và nói về Jacob; giọng của Helen run run, bởi dường như cả hai đều là những người hùng đối với nàng, và tình bạn giữa họ đẹp hơn nhiều so với tình bạn của những người phụ nữ. Lúc này Anthony Pollett mời nàng ra nhảy, và trong lúc nhảy, nàng ngoái đầu lại nhìn họ, đang đứng ở bàn, uống với nhau.

Thế giới tuyệt diệu - thế giới sống động, lành mạnh, sôi nổi... Những từ này chỉ quãng vỉa hè lát gỗ giữa Hammersmith và Holborn vào tháng Giêng, giữa hai và ba giờ sáng. Đó là mảnh đất bên dưới chân Jacob. Nó lành mạnh và tuyệt vời vì có một căn phòng, bên trên khu trại nuôi ngựa, ở đâu đó gần dòng sông, chứa đựng năm mươi con người thân thiện, lắm lời, phấn khích. Và khi đó bản thân việc sải bước trên vỉa hè (hầu như không có một cỗ xe ngựa hoặc một viên cảnh sát nào trong tầm mắt) là một niềm hoan hỉ. Con đường vòng của phố Piccadilly, với những ánh đèn như những viên kim cương lóng lánh, tự khoe mình tốt nhất khi nó trống rỗng. Một chàng trai không có gì để sợ. Trái lại, cho rằng có thể mình đã không nói điều gì xuất chúng, anh cảm thấy khá tự tin anh có thể kềm chế bản thân. Anh hài lòng vì đã gặp Mangin; anh ngưỡng mộ cô gái trên sàn nhà; anh thích tất cả bọn họ; anh thích dạng vui vẻ đó. Nói tóm, tất cả những cái trống và kèn trumpet đang kêu vang. Những kẻ bới rác trên đường phố là những người duy nhất có mặt vào lúc đó. Hầu như không cần phải nói rằng anh đánh giá tốt về họ thế nào; anh hài lòng thế nào khi tự cho phép mình bước vào nhà với chiếc chìa khóa cửa của chính mình; như thể anh đã đưa trở về căn phòng trống rỗng mười hoặc mười một người mà anh chưa biết quen biết khi bước ra khỏi cửa; anh nhìn quanh tìm thứ gì đó để đọc, và tìm được nó, và không bao giờ đọc nó, và rơi vào giấc ngủ.

Thật sự, những cái trống và những cây kèn trumpet không có tiết điệu gì cả. Thật sự, phố Piccadilly và Holborn, căn phòng khách trống rỗng và căn phòng khách với năm mươi người bên trong nó có khả năng thổi âm nhạc vào không trung vào bất cứ lúc nào. Có lẽ phụ nữ dễ phấn khích hơn đàn ông. Hiếm khi có bất kỳ ai nói bất kỳ điều gì về nó, và khi nhìn thấy những đám người băng qua cầu Waterloo để bắt chuyến xe chạy thẳng một lèo tới Surbiton người ta có thể nghĩ rằng lý trí thôi thúc họ. Không đâu, không đâu. Đó là do những cái trống và những cây kèn trumpet. Chỉ có điều, nếu bạn quay sang một trong những cái vịnh nhỏ trên cầu Waterloo để suy nghĩ cặn kẽ vấn đề, có lẽ đối với bạn dường như tất cả là một sự rối ren lộn xộn - tất cả là một điều bí ẩn.

Họ không ngừng băng qua chiếc cầu. Đôi khi giữa những cỗ xe ngựa và những chiếc xe buýt hai tầng, một chiếc xe tải sẽ xuất hiện với những thân cây rừng to lớn được xích vào thùng xe. Sau đó, có lẽ, một chiếc xe tải chở đồ xây dựng với những tấm bia mộ mới được khắc chữ thuật lại rằng ai đó đã yêu ai đó, kẻ được chôn cất ở Putney. Thế rồi chiếc ô tô ở phía trước rùng rùng tiến tới, và những tấm bia mộ lướt qua quá nhanh khiến bạn không thể đọc thêm gì nữa. Trong suốt thời gian đó dòng người không bao giờ ngừng băng ngang từ phía phố Surrey sang phố Strand; từ phố Strand sang phố Surrey. Như thể dân nghèo đã tấn công vào thị trấn, và lúc này đang thơ thẩn quay về khu vực của mình, như những con bọ nhốn nháo chạy về hang của chúng, bởi người phụ nữ già đó đang khập khiễng tiến về phía Waterloo, tay cầm một cái giỏ lấp lánh, như thể bà đã bước vào ánh sáng và hiện giờ vội vã rời khỏi đó với một vài mẩu xương gà để trở về căn nhà tồi tàn của mình bên dưới mặt đất. Mặt khác, dù bị gió mạnh quật vào mặt, những cô gái vẫn tay trong tay sải bước, véo von một bài ca, dường như không cảm thấy lạnh lẽo hay xấu hổ chút nào. Họ không có mũ. Họ chiến thắng.

Gió đã cuộn sóng lên. Dòng sông lồng lên bên dưới chúng ta, và những người đàn ông đứng trên những chiếc sà lan phải dồn hết trọng lượng của mình lên bánh lái. Một tấm vải dầu đen được cột rủ xuống một đống màu vàng to sụ. Những đống than đen nhánh sáng lấp loáng. Như thường lệ, những tay họa sĩ đang treo người trên những tấm ván dài ngang qua những khách sạn lớn ven bờ sông, và những cửa sổ khách sạn đã có những điểm sáng bên trong chúng. Ở phía kia thành phố thì trắng xóa như thể đã bạc phếch đi vì thời gian; nhà thờ St. Paul nổi lên trắng bệch bên trên những tòa nhà bằng phẳng, nhọn hay thuôn bên cạnh. Chỉ có cây thánh giá là lấp lánh lớp vàng mạ màu hồng. Nhưng chúng ta đã tới thế kỷ nào rồi? Phải chăng đám diễu hành từ phố Surrey sang phố Strand đã tiếp diễn như thế mãi? Ông lão đó đã băng qua chiếc cầu suốt sáu trăm năm nay, với đoàn bé trai bước theo sát gót, bởi ông đã say, hoặc mù vì nỗi bất hạnh, và cột quanh người những mảnh vải phơ phất giống như y phục của những kẻ hành hương. Ông ta tiếp tục lê bước. Không ai đứng yên cả. Dường như chúng ta hành tiến theo âm thanh của nhạc; có lẽ gió và dòng sông, có lẽ cũng vẫn những cái trống và kèn này - là trạng thái mê ly và phấn khích của linh hồn. Sao chứ, ngay cả những kẻ bất hạnh cũng cười to, và viên cảnh sát, không những không làm khó người đàn ông say rượu mà còn quan sát ông ta một cách vui vẻ, và đám bé trai chạy vụt qua trở lại, và viên thư ký từ Tòa nhà Somerset không có gì ngoài sự khoan dung đối với ông ta, và người đàn ông đang đọc nửa trang sách về Lothair[15] trong tiệm sách đứng suy tư với vẻ độ lượng, đôi mắt rời khỏi dòng chữ, và cô gái đứng ngần ngừ ở ngã tư đường quay sang ông ta với ánh mắt trong sáng nhưng mơ hồ của tuổi trẻ.

Trong sáng nhưng mơ hồ. Có lẽ nàng hai mươi hai tuổi. Nàng ăn mặc xoàng xĩnh. Nàng băng qua đường, nhìn những bông hoa thủy tiên và uất kim hương đỏ trong cửa sổ tiệm hoa. Nàng do dự, rồi tiến về phía cổng Temple Bar. Nàng bước nhanh, thế nhưng bất kỳ thứ gì cũng khiến cho nàng xao lãng. Có lúc dường như nàng nhìn thấy, có lúc dường như nàng không chú ý tới thứ gì.

❀ ❀ ❀

[1] Lincohn’s Inn: một trong bốn Hội quán Luật sư (Inn of Course/ Hiệp hội của các luật sư cao cấp/barrister) của Anh Quốc và cũng là hội quán lớn nhất. Nó cung cấp các thư viện, nơi ăn ở và các phương tiện phục vụ chuyên môn cho các luật sư. Ngoài ra, mỗi Hội quán còn có một nhà thờ hay nhà nguyện và một khu vực riêng để đào tạo và thực hành nghề luật. Hội quán Lincohm rộng 4,5 ha. Ba hội quán còn lại là Middle Temple, Inner Temple và Gray’s Inn.

[2] Địa danh trong Kinh Cựu Ước, có lẽ chỉ vùng đất thuộc Syria ngày nay.

[3] Một tạp chí hàng tuần với những bài về thời sự, văn hóa, chính trị; được xuất bản lần đầu vào tháng 7/1828.

[4] Do tuổi tác của cô Perry (Miss Perry) và cô Rosseter (Miss Rosseter) khá cao, người dịch tạm dịch là “cô” khi có tên riêng của nhân vật theo sau từ Miss và dịch là “bà” trong trường hợp không có tên riêng theo sau.

[5] Một tờ tuần báo văn học, bộ phận của tờ Westminster Gazette.

[6] John Abbott McNeill Whistler (1834-1903): họa sĩ Mỹ thường trú tại Anh.

[7] Thomas Babington Macaulay (1800-1859): chính khách và sử gia Anh.

[8] Herbert Henry Asquith (1852-1928), thủ tướng Anh từ 1908 - 1916.

[9] Alexandrs of Denmark (1844-1925), vợ của vua Edward VII.

[10] Christopher Marlowe (1565-1593): kịch tác gia, thi sĩ Anh.

[11] George Eliot (1819-1880): nữ tiểu thuyết gia người Anh. Tác giả của bộ trường thiên tiểu thuyết nổi tiếng Middemarch.

[12] Charlotte Bronte (1816-1855) nữ tiểu thuyết người Anh, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng Jane Eyre; hoặc Emily Bronte (1818-1848), nữ tiểu thuyết gia, em gái của Charlotte Bronte, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng Wuthering Heights.

[13] Còn gọi là Parthenon Marbles, do Thomas Bruce, Đệ thất Bá tước xứ Elgin (1766-1841) đưa về Anh từ đền Parthenon ở Athens.

[14] Tác phẩm của Plato, triết gia Hy Lạp cổ đại, viết về những cuộc đối thoại giữa Socrates và Phaedrus.

[15] Lothair I, hoặc Lothar I, Hoàng đế La Mã (795-855).

Người dịch: Nguyễn Thành Nhân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.