Những ngọn lửa đã bùng lên.
“Nhà thờ St. Paul kìa!” Ai đó la lên.
Khi gỗ bắt lửa, thành phố London được soi sáng trong một giây; ở các phía của đống lửa là những cây cao. Trong số những gương mặt hiện ra tươi tắn và rực rỡ như thể được sơn vàng và đỏ, gương mặt nổi bật nhất là của một cô gái. Do một trò đùa của lửa, dường như nàng không có thân hình. Hình trái xoan của gương mặt và mái tóc lơ lửng bên cạnh đống lửa với một khoảng không tối đen làm nền. Như thể bị choáng bởi ánh lửa, đôi mắt xanh biếc của nàng nhìn chòng chọc vào những ngọn lửa. Mọi cơ trên mặt nàng căng lên. Có một vẻ bi thảm nào đó trong cái nhìn của nàng - tuổi của nàng trạc giữa hai mươi và hai mươi lăm.
Một bàn tay hạ xuống từ ô vuông bóng tối ấn lên đầu nàng cái mũ trắng hình chóp của một anh hề Pháp. Nàng lắc đầu, vẫn nhìn chằm chặp. Một gương mặt có râu quai nón xuất hiện bên trên nàng. Họ ném hai cái chân bàn và một mớ nhánh cây lá lên đống lửa. Tất cả số này cháy bùng lên và làm lộ ra những gương mặt ở xa phía sau, tròn, tái nhợt, mịn màng, có râu, một số đội mũ quả dưa; tất cả đều nhìn chăm chú; cả nhà thờ St. Paul cũng bềnh bồng ló dạng trên làn sương trắng chập chờn, và hai hoặc ba chóp tháp hẹp, trắng như giấy, có hình dạng như đồ chụp nến.
Những ngọn lửa len lỏi qua gỗ và rít lên khi, có trời biết từ đâu, những cái xô hất nước thành những hình lõm đẹp đẽ, như những cái mu rùa đánh bóng; hất thêm, thêm nữa; cho tới khi tiếng lửa kêu xì xì như một bầy ong; và mọi gương mặt biến mất.
“Ồ, Jacob,” cô gái nói, khi họ rầm rập chạy lên đồi trong bóng tối, “Tôi buồn ghê gớm!”
Những tràng cười phát ra từ những người khác - cao, thấp; một số nổi lên trước, số khác sau.
Phòng ăn nhà hàng sáng rực ánh đèn. Một cái đầu hươu bằng thạch cao nằm ở một đầu bàn; ở đầu kia là một pho tượng La Mã bán thân được sơn đen và đỏ để tượng trưng cho Guy Fawkes, đêm nay là đêm của y. Thực khách được nối với nhau bởi những chuỗi hoa hồng giấy, khiến cho khi bài hát Auld Lang Syne[1] cất lên, với những bàn tay bắt chéo, một đường vạch màu hồng và vàng uốn lượn lên xuống suốt chiều dài của cái bàn. Có một tiếng cụng lớn của những chiếc cốc xanh đựng rượu vang. Một chàng trai đứng lên, và Florinda vớ lấy một trong những quả cầu tim tím nằm trên bàn, ném thẳng nó vào đầu anh ta. Nó vỡ tan thành bột.
“Tôi buồn ghê gớm!” Nàng nói, quay sang Jacob, kẻ ngồi cạnh nàng.
Cái bàn chạy, như thể trên những cái chân vô hình, tới một phía của căn phòng, và một cây đàn thùng được trang trí bằng một mảnh vải đỏ và hai chậu hoa giấy cất lên một điệu nhạc waltz.
Jacob không biết khiêu vũ. Anh đứng dựa vào tường, phì phèo tẩu thuốc.
“Chúng tôi nghĩ,” hai trong số những người đang nhảy tách ra khỏi số còn lại và nhã nhặn cúi đầu trước mặt anh, “rằng anh là người đàn ông bảnh trai nhất chúng tôi từng nhìn thấy.”
Thế là họ choàng lên đầu anh vòng hoa giấy. Sau đó một kẻ khác đem ra một cái ghế trắng mạ vàng và mời anh ngồi vào đó. Khi lướt ngang qua, mọi người treo những quả nho thủy tinh lên vai anh, cho tới khi trông anh giống hình chạm ở đầu mũi của một con tàu đắm. Thế rồi Florida đứng lên và giấu mặt nàng sau chiếc áo đuôi tôm của anh. Anh ôm nàng với một tay, còn tay kia cầm tẩu thuốc.
“Giờ chúng ta hãy nói chuyện,” Jacob nói, khi anh bước xuôi xuống đồi Haverstock vào giữa bốn và năm giờ sáng ngày sáu tháng Mười một, tay trong tay với Timmy Durrant, “về một điều gì đó thực tế.”
Những tác giả Hy Lạp - vâng, đó là thứ họ nói về - rằng khi tất cả đều đã được nói tới và thực hiện, khi người ta súc miệng mình với mọi thứ văn chương trên trần đời, kể cả văn chương Trung Hoa và Nga (nhưng những gã Slavơ này thiếu văn minh), chỉ có tính chất độc đáo của Hy Lạp còn lưu lại. Durrant trích dẫn Aeschylus - Jacob trích dẫn Sophocles. Quả thật không người Hy Lạp nào có thể hiểu được một từ hoặc không giáo sư nào có thể kềm chế không đưa ra những nhận xét nếu nghe họ đọc. Không sao cả; tiếng Hy Lạp có dụng ích gì nếu không phải để được hét lên trên đồi Haverstock vào rạng sáng? Hơn nữa, Durrant không bao giờ chịu lắng nghe kịch của Sophocles, hay Jacob chịu lắng nghe kịch của Aeschylus. Họ khoác lác, đầy vẻ đắc thắng; như thể cả hai đã đọc mọi cuốn sách trên đời; biết mọi tội lỗi, đắm say và niềm vui thú. Những nền văn minh đứng quanh họ như những đóa hoa sẵn sàng được hái. Những thời đại cuộn qua dưới chân họ như những lớp sóng phù hợp với việc đi thuyền. Và khi khảo sát tất cả những thứ này, với ánh đèn và những bóng sẫm của London lờ mờ hiện ra qua màn sương mù, hai chàng trai quyết định ủng hộ Hy Lạp.
“Hầu như chắc chắn chúng ta là những người duy nhất trên đời biết những người Hy Lạp muốn nói điều gì,” Jacob nói.
Họ uống cà phê trong một quán giải khát, nơi những cái ấm được đánh bóng loáng và những ngọn đèn dầu nhỏ cháy dọc theo quầy tính tiền.
Cho rằng Jacob là một quý ông trong giới nhà binh, người chủ quán kể cho anh nghe về cậu con trai của mình ở Gibraltar; Jacob nguyền rủa quân đội Anh và ca ngợi Công tước xứ Wellington. Sau đó, họ lại xuống đồi, trò chuyện về những tác giả Hy Lạp.
Một điều kỳ lạ - khi bạn nghĩ về chuyện này - tình yêu đối với những thứ thuộc về Hy Lạp nở rộ trong sự tối tăm, bị xuyên tạc, bị hất hủi như thế, vậy nhưng đột nhiên lao vọt ra; nhất là khi Jacob rời khỏi những căn phòng đông nghịt, hoặc sau một tình trạng chán ngấy chữ in, hoặc khi vầng trăng bềnh bồng trôi giữa những dãy đồi nhấp nhô lượn sóng, hoặc trong những ngày London trống rỗng, xám xịt, vô ích. Nó giống như một thứ biệt dược; một lưỡi dao sạch; luôn luôn là một phép mầu. Jacob không biết gì hơn về tiếng Hy Lạp ngoài việc nó giúp anh lần mò đi qua một vở kịch. Về lịch sử cổ đại, anh chẳng biết chút gì. Tuy nhiên, khi anh nặng nhọc bước vào London, với anh dường như họ đang làm cái vũ đài đá phiến trên con đường tới Vệ Thành[2], và nếu Socrates nhìn thấy họ đến hẳn ông ta sẽ trở nên năng động và nói, “những ông bạn cao quý của tôi,” bởi toàn bộ tình cảm của Athens theo sau quả tim của ông; tự do, dám nghĩ dám làm, cao cả... Nàng đã gọi anh là Jacob mà không yêu cầu anh rời khỏi. Nàng đã ngồi trên đầu gối của anh. Mọi phụ nữ cao quý vào thời của những tác giả Hy Lạp cũng vậy.
Vào khoảnh khắc này, một tiếng than van thảm sầu, run rẩy, chập chờn, vang lên giữa không trung; dường như nó thiếu sức mạnh để tự bung ra, thế nhưng chấp chới lan xa; với âm thanh đó, những cánh cửa ở các con phố nhỏ đột nhiên mở toang, những người thợ thuyền rầm rập bước đi.
Florinda bị ốm.
Bà Durrant, mất ngủ như thường lệ, ghi chú gì đó vào bên cạnh những dòng thơ của cuốn Hỏa ngục[3].
Clara ngủ như chết giữa những chiếc gối; trên bàn trang điểm của nàng bừa bộn những bông hồng và một cặp găng tay dài màu trắng.
Vẫn còn đội cái mũ hình nón của một anh hề Pháp, Florinda bị ốm.
Căn phòng ngủ có vẻ hợp với những tai họa này - rẻ tiền, màu mù tạt, nửa phần là tầng áp mái, nửa phần là xưởng vẽ, được trang trí một cách lạ lùng với những ngôi sao bằng giấy bạc, những cái mũ phụ nữ xứ Wales, và những xâu tràng hạt treo lủng lẳng từ những ống dẫn hơi đốt trên tường. Còn về phần câu chuyện của Florinda, tên nàng đã được đặt bởi một họa sĩ, với mong muốn nó biểu thị rằng đóa hoa thời trinh bạch của nàng vẫn luôn tươi thắm trên cành. Dù sao đi nữa, nàng không có họ, và về cha mẹ nàng chỉ có bức ảnh một bia mộ mà bên dưới đó, nàng nói, là thi thể của cha nàng. Đôi khi nàng cứ khăng khăng về kích thước của nó, và có lời đồn rằng cha của Florinda đã chết là vì xương của ông cứ phát triển mãi không ngừng; cũng như mẹ nàng nhận được sự tin cậy của vị chủ nhân vương giả, và thi thoảng bản thân Florinda là một nàng công chúa, nhưng chủ yếu đó là khi nàng quá chén. Bị bỏ rơi như thế, hơn nữa còn khá xinh đẹp, với đôi mắt bi thảm và đôi môi của một đứa trẻ thơ, nàng nói nhiều về sự trinh bạch hơn hầu hết những người phụ nữ; và chỉ mới đánh mất nó đêm hôm trước, hoặc nâng niu nó bên ngoài quả tim, trong bộ ngực của nàng, tùy theo gã đàn ông mà nàng tiếp chuyện. Nhưng nàng có thường trò chuyện với đàn ông không? Không, nàng có bạn tâm tình: Mẹ Stuart. Stuart, như vị phu nhân này chỉ ra, là tên của một gia đình hoàng tộc; nhưng chẳng ai biết nó biểu thị cái gì và bà ta làm nghề ngỗng gì; chỉ biết bà ta nhận những đơn đặt hàng qua bưu điện mỗi buổi sáng, nuôi một con vẹt, tin vào sự luân hồi của linh hồn, và có thể đọc được tương lai trong những lá trà. Bà là thứ giấy dán tường của nhà cho thuê so với sự trinh bạch của Florinda.
Hiện giờ Florinda khóc, và lang thang cả ngày trên phố; đứng trên cầu Chelsea dõi nhìn dòng sông lặng lờ trôi; lê la khắp những con đường mua sắm; mở túi xách và đánh phấn lên má trong những chiếc xe buýt hai tầng; đọc những lá thư tình, đặt chúng dựa vào những chai sữa trong quán ABC[4]; phát hiện có mảnh thủy tinh trong chén đựng đường; tố cáo người nữ phục vụ về tội muốn đầu độc nàng; tuyên bố rằng những chàng trai trẻ cứ đăm đắm nhìn nàng; và tự nhận ra mình đang chậm rãi thả bước qua con phố của Jacob mỗi lúc chiều buông, khi nàng cảm thấy rằng nàng thích anh chàng Jacob đó hơn những gã Do Thái bẩn thỉu, và thích ngồi ở bàn của anh ta (anh ta đang chép lại bản luận văn về Đạo đức của Sự khiếm nhã ), tháo đôi găng tay ra và kể với anh ta Mẹ Stuart đã nện cái vỏ ủ ấm bình trà lên đầu nàng như thế nào.
Jacob tin lời của nàng, rằng nàng còn trinh trắng. Nàng ngồi cạnh lò sưởi, cà riềng cà tỏi về những họa sĩ nổi tiếng. Nhắc tới ngôi mộ của cha nàng. Trông nàng hoang dại, mong manh và xinh đẹp, và những người phụ nữ của các tác giả Hy Lạp cũng giống như vậy, Jacob nghĩ; và đây là cuộc đời; bản thân anh là một người đàn ông, và Florinda còn trong trắng.
Nàng ra về, cầm theo một trong những tập thơ của Shelley. Nàng bảo bà Stuart thường nói về ông ta.
Sự ngây thơ thật tuyệt vời. Để tin rằng bản thân cô gái này vượt quá mọi sự dối trá (vì Jacob không phải là một tên ngốc để tin hoàn toàn), để tự hỏi một cách ganh tị về cuộc sống không ràng buộc - cuộc đời của chính anh có vẻ được nuông chiều, thậm chí khá ẩn dật khi so sánh với nàng - để có trong tay những biệt dược thần hiệu cho mọi rối loạn của linh hồn, Adonais[5] và những vở kịch của Shakespeare; để thấu hiểu một tình bạn, hoàn toàn mang tính chất tinh thần về phía nàng, có tính chất bảo vệ về phía anh, thế nhưng ngang nhau với cả hai, bởi phụ nữ, Jacob nghĩ, cũng giống hệt như đàn ông - sự ngây thơ như vậy quả tình rất tuyệt vời, và nói cho cùng cũng không quá ư ngốc nghếch.
Bởi đêm đó khi về tới nhà, trước hết Florinda gội đầu; sau đó ăn kem sô cô la; rồi mở tập thơ Shelley ra. Đúng, nàng chán nản kinh khủng. Nó viết về cái gì vậy trời? Nàng phải đánh cược với chính mình rằng nàng sẽ lật sang trang khác trước khi ăn một đĩa kem khác. Trên thực tế, nàng ngủ. Nhưng hôm đó là một ngày dài, Mẹ Stuart đã ném cái vỏ ủ ấm bình trà - có những cảnh tượng ghê gớm trên đường phố, và dù Florinda dốt đặc và sẽ không bao giờ học cách đọc cho đúng ngay cả những lá thư tình của mình, nàng vẫn có những cảm nhận riêng, chẳng hạn việc một số đàn ông khá hơn số khác, và hoàn toàn tuân phục cuộc sống. Việc nàng có là một trinh nữ hay không xem ra chẳng có gì quan trọng. Trừ phi đó là điều quan trọng duy nhất trong bất cứ điều gì, thật vậy.
Jacon thao thức khi nàng ra về.
Suốt đêm đám đàn ông và phụ nữ cứ sôi lên với những nhịp điệu rất quen thuộc. Những kẻ về nhà muộn có thể nhìn thấy những cái bóng in lên những tấm màn, ngay cả ở những khu ngoại ô khả kính nhất. Không một bãi đất nào trong tiết trời tuyết giá thiếu một cặp tình nhân say đắm. Mọi vở kịch chuyển sang cùng một chủ đề. Những viên đạn xuyên qua những cái đầu trong các phòng ngủ khách sạn hầu như hằng đêm vì lý do đó. Khi cơ thể thoát khỏi thương tật, hiếm khi quả tim xuống mồ mà không có vết sẹo nào. Ít có thứ gì khác được nói tới trong những nhà hát và tiểu thuyết phổ thông. Thế nhưng chúng ta bảo chuyện đó không có gì quan trọng.
Chuyện gì đã xảy ra với Shakespeare và Adonais, Mozart và Giám mục Berkeley[6] - cứ chọn kẻ mà bạn thích - sự thật bị che đậy và những buổi tối đối với hầu hết chúng ta trôi qua một cách khả kính, hoặc với dạng rung động mà một con rắn tạo nên khi trườn qua cỏ. Thế nhưng bản thân sự che đậy khiến đầu óc xao lãng khỏi dấu vết và âm thanh. Nếu Florinda có đầu óc, hẳn nàng sẽ đọc với một đôi mắt rõ ràng hơn mức chúng ta có thể. Nàng và những kẻ thuộc loại của nàng đã giải quyết vấn đề bằng cách biến nó thành một việc nhỏ nhặt là rửa tay mỗi tối trước khi đi ngủ, khó khăn duy nhất là bạn thích nước lạnh hay nước nóng hơn, điều mà khi được giải quyết, đầu óc có thể thoải mái bắt đầu công việc của mình.
Nhưng giữa bữa ăn tối, Jacob chợt tự hỏi nàng có đầu óc hay chăng.
Họ ngồi ở một cái bàn nhỏ trong nhà hàng.
Florida tì hai cùi chỏ lên bàn và đưa hai tay chống cằm. Tấm áo choàng không tay đã trượt về phía sau nàng. Nàng xuất hiện, trên người lóng lánh những hạt cườm vàng và trắng, gương mặt nàng bừng nở từ thân hình nàng; ngây thơ, chắc chắn không trang điểm, đôi mắt nhìn quanh một cách thẳng thắn, hoặc chậm rãi hướng vào Jacob và dừng lại ở đó. Nàng nói:
“Anh có biết cái hộp lớn màu đen mà gã người Úc bỏ lại trong phòng em từ rất lâu rồi không?... Em nghĩ y phục lông thú khiến một phụ nữ trông già đi... Người vừa bước vào là Bechstein... Em đã tự hỏi trông anh ra sao khi anh còn là một cậu bé, Jacob ạ.” Nàng nhấm nháp bánh mì và nhìn anh.
“Jacob. Anh giống như một trong những pho tượng đó... Em nghĩ trong Viện bảo tàng Anh có những thứ đáng yêu, phải không anh? Rất nhiều thứ đáng yêu...” Nàng mơ màng nói. Căn phòng đang đông dần; hơi nóng tăng lên. Trò chuyện trong một nhà hàng là một cuộc trò chuyện của những kẻ mộng du mụ mẫm, có quá nhiều thứ để nhìn, quá nhiều tiếng ồn - những người khác cũng đang nói. Người ta có thể nghe trộm hay chăng? Ồ, nhưng họ không được nghe trộm chúng ta.
“Cô gái đó giống Ellen Nagle - cô gái đó...” vân vân.
“Em vô cùng hạnh phúc từ khi em biết anh, Jacob. Anh là một người rất tốt.”
Căn phòng ngày càng đông người hơn; tiếng trò chuyện to hơn; những dao nĩa lách cách nhiều hơn.
“Chà, anh xem, điều khiến cô ta nói những chuyện như thế là...”
Nàng dừng lại. Mọi người cũng thế.
“Ngày mai... Chủ nhật... đồ xấu xa... anh nói với tôi... tôi đi đây!” Loảng xoảng! Và cô ta đùng đùng bỏ đi.
Ngay ở bàn bên cạnh họ, từ nãy giọng nói đó đã càng lúc càng cất cao hơn. Đột nhiên người đàn bà đó ném những cái đĩa xuống nền nhà. Người đàn ông bị bỏ lại đó. Mọi người nhìn chòng chọc. Thế rồi, “Chà, anh chàng khốn khổ, chúng ta không được ngồi nhìn. Thật tình! Anh có nghe cô ta nói gì không? Ôi trời, trông anh ta thật ngốc nghếch! Không như mong đợi, em nghĩ. Mù tạt đổ đầy khăn trải bàn. Đám hầu bàn đang cười nhạo.”
Jacob quan sát Florinda. Với anh, dường như trên gương mặt của nàng có nét gì đó đần độn kinh khủng - khi nàng ngồi nhìn chòng chọc.
Cô ta đã bỏ đi, người phụ nữ da đen với cọng lông chim nhún nhảy trên cái mũ.
Thế nhưng cô ta phải tới nơi nào đó. Màn đêm không phải là một đại dương đen sôi động mà trong đó bạn chìm xuống hoặc lướt đi như một ngôi sao. Trên thực tế, đó là một đêm tháng Mười một ẩm ướt. Những ngọn đèn dầu ở Soho tạo thành những đốm ánh sáng to nhờ nhờ trên vệ đường. Những vỉa hè đủ tối để che chở cho người đàn ông hay phụ nữ đang ép người vào khung cửa. Một người vừa rời khỏi chỗ khi Jacob và Florinda tới gần.
“Cô ta đã đánh rơi chiếc găng tay,” Florinda nói.
Jacob dấn nhanh bước, trao nó cho cô ta.
Cô ta cám ơn anh rối rít; đi tiếp; lại đánh rơi chiếc găng tay[7]. Nhưng vì sao? Vì ai? Đồng thời, người đàn bà kia đã đi đâu? Và người đàn ông?
Những ngọn đèn đường không tỏa ánh sáng đủ xa để nói cho chúng ta biết. Những giọng nói, tức giận, dâm ô, thất vọng, say đắm, chắc chắn còn hơn cả tiếng gầm gừ của những con thú bị nhốt trong chuồng ban đêm. Chỉ có điều họ không bị nhốt trong chuồng, không phải là súc vật. Hãy chận một gã đàn ông lại; hỏi thăm đường; anh ta sẽ nói cho bạn biết; nhưng người ta e ngại hỏi thăm đường với anh ta. Người ta e ngại điều gì? Ánh mắt con người. Ngay lập tức vỉa hè hẹp lại, vực thẳm sâu hơn. Kìa! Họ đã tan chảy vào trong nó - cả đàn ông lẫn đàn bà. Xa hơn, rõ ràng là để quảng cáo cho sự vững chắc của nó, một quán trọ phơi bày sau những cửa sổ không màn che sự chứng thực của nó đối với sự lành mạnh của London. Họ ngồi đó, được soi sáng rõ ràng, ăn mặc như những quý bà quý ông, trong những chiếc ghế tre. Cửa sổ của những doanh nhân chứng minh một cách cần mẫn rằng họ có quan hệ với các vị quan tòa. Vợ của những tay buôn bán than lập tức đối đáp rằng cha của họ có thuê xà ích. Một người hầu mang cà phê tới, và cái giỏ thêu phải được dời đi. Và lại đi ngang qua bóng tối, ở đây một cô gái bán thân, ở kia một bà già chỉ có những que diêm để chào mời; đi ngang qua đám đông từ nhà ga Tube, một đám phụ nữ với mái tóc trùm kín; cuối cùng không còn đi ngang qua ai nữa ngoài những cánh cửa đóng chặt, những thanh dọc khung cửa có hình chạm khắc, và một viên cảnh sát đơn độc, Jacob, với Florinda trong cánh tay, bước vào căn phòng của mình, và thắp ngọn đèn dầu lên, không nói lời nào.
“Em không thích anh khi anh có vẻ mặt như thế,” Florinda nói.
Đây là vấn đề bất khả phân giải. Cơ thể là yên cương của bộ não. Vẻ đẹp bước đi tay trong tay với sự ngốc nghếch. Nàng ngồi đó đăm đăm nhìn ngọn lửa như đã nhìn cái lọ mù tạt bị vỡ. Dù bảo vệ cho sự khiếm nhã, Jacob hồ nghi không rõ trên thực tế anh có thích nó hay chăng. Anh có một thái độ ngược lại đối với xã hội của nam giới, những nơi ẩn dật, và việc nghiên cứu các tác phẩm Hy-La cổ điển; và sẵn sàng nổi trận lôi đình với bất kỳ ai đã tạo nên cuộc sống như vậy.
Thế rồi Florinda đặt bàn tay lên đầu gối của anh.
Nói cho cùng, đó không phải là lỗi của nàng. Nhưng ý nghĩ đó khiến anh trở nên buồn bã. Không phải những tai họa, những tên sát nhân, những cái chết, những chứng bệnh khiến chúng ta trở nên già nua và giết chết chúng ta; mà là cách thức mọi người nhìn và cười lớn, và chạy lên những bậc thang của những chiếc xe buýt hai tầng.
Tuy nhiên, bất cứ sự bào chữa nào cũng có lợi cho một phụ nữ ngốc nghếch. Anh nói với nàng rằng anh nhức đầu.
Nhưng khi nàng, với thân hình thẳng tắp xinh đẹp và gương mặt giống như một cái vỏ ốc không có nắp che, lặng lẽ nhìn anh, nửa suy đoán, nửa thấu hiểu, có lẽ muốn tạ lỗi, nhưng dù sao cũng đáp khi anh nói xong, “Đó không phải là lỗi của em,” anh biết ngay rằng những nơi ẩn dật và việc nghiên cứu các tác phẩm Hy-La cổ đại chẳng có chút ích lợi nào. Đây là vấn đề bất khả phân giải.
❀ ❀ ❀
[1] Tựa một bài thơ được viết năm 1788 của nhà thơ Tô Cách Lan Robert Burns (1759-1796). Nó được phổ thành một bản dân ca rất phổ biến ở các nước nói tiếng Anh và thường được hát để đón mừng Năm mới. Au Lang Syne có thể dịch sang tiếng Anh chính thống là Old Long Since, và nhìn chung được hiểu theo nghĩa “long long ago” hoặc “once upon a time”.
[2] Acropolis, vệ thành của thành phố Athens, thủ phủ của Hy Lạp.
[3] Inferno, phần đầu trong trường thi Divine Comedia (Thần khúc) của Dante Alighiery (khoảng 1265-1321) nhà thơ lớn người Ý.
[4] Viết tắt của Aerated Bread Company, do John Dauglish sáng lập năm 1862, bao gồm các chuỗi phòng trà (bán thức ăn nhẹ và nước giải khát).
[5] Cái tên này do nhà thơ Anh Percy Bysshe Shelley (1792-1822) sáng tạo ra trong tác phẩm Adonais: An Elegy on the Death of John Keat (Adonais: Một khúc bi ca về cái chết của John Keats), viết năm 1821 để vinh danh nhà thơ John Keats (1795-1921). Từ Adonais được kết hợp từ hai từ Adonis (tên của người tình của Nữ thần sắc đẹp Aphrodite trong thần thoại Hy lạp) và từ Do Thái cổ Adonai có nghĩa là “Chúa tể của tôi”.
[6] George Berkerley (1685-1703): triết gia Ái Nhĩ Lan, người đề xướng thuyết Phi vật chất (Immaterialism).
[7] Đánh rơi khăn tay là một dấu hiệu cho biết mình sẵn sàng đi khách của các cô gái điếm ở London thời đó.