“Bà Flanders - Betty Flanders tội nghiệp” - “Betty thân mến” - “Bà ấy vẫn còn quyến rũ lắm” - “Thật lạ khi bà ấy không kết hôn lần nữa!” “Chắc chắn là có ông Thuyền trưởng Barfoot - ghé thăm mỗi Thứ Tư, đều đặn như đồng hồ chạy, và không bao giờ đưa vợ đi cùng.”
“Nhưng đó là lỗi của Ellen Barfoot,” các quý bà ở Scarborough nói. “Bà ta không quan tâm tới ai hết.”
“Một người đàn ông thích có một cậu con trai - chúng ta biết thế.”
“Một số khối u phải được cắt bỏ; ngoài loại mẹ tôi bắt bà phải cam chịu năm này sang năm khác, và thậm chí chẳng bao giờ cho người mang một tách trà tới giường bà.”
(Bà Barfoot là một người tàn tật.)
Elizabeth Flanders, kẻ mọi người đã nhắc tới và ắt hẳn sẽ nhắc tới trong những câu này và nhiều hơn thế, dĩ nhiên là một quả phụ nửa chừng xuân. Bà ở giữa lứa tuổi bốn mươi và năm mươi. Có nhiều năm tháng và nỗi buồn ở giữa chúng; cái chết của Seabrook, chồng bà; ba đứa con trai; nghèo khổ; một ngôi nhà ở ngoại ô thị trấn Scarborough; anh trai bà, Mortyr khốn khổ, đã bị sa sút và có khả năng đã chết - bởi ông ta đang ở đâu? Ông ta đang làm gì? Bà đưa tay che mắt, nhìn dọc theo con đường để tìm kiếm Thuyền trưởng Barfoot - vâng, ông ta kia rồi, đúng giờ như xưa nay vẫn thế; những quan tâm của ông thuyền trưởng - tất cả làm cho Betty Flanders trở nên chín muồi, nâng cao dáng vẻ của bà, khiến gương mặt bà nhuốm nét vui tươi, và khiến đôi mắt bà long lanh chẳng vì lý do gì, điều mà có lẽ bất cứ một ai cũng có thể nhìn thấy ba lần mỗi ngày.
Đúng, không có hại gì trong việc than khóc chồng mình, và tấm bia mộ, dù đơn giản, là một công trình vững chắc, và vào những ngày hè khi người vợ góa đưa các con tới đứng đó, người ta cảm thông chia sẻ với bà. Những cái mũ được giơ lên cao hơn thường lệ, những bà vợ kéo mạnh cánh tay của chồng họ. Seabrook nằm sâu sáu bộ bên dưới, đã chết nhiều năm; bị bao bọc bởi ba lớp quan tài[1]; những đường nứt được niêm kín bằng chì; giá như đất và gỗ là kính, chắc chắn người ta có thể nhìn thấy gương mặt của ông bên dưới; gương mặt của một người đàn ông trẻ, có râu quai nón, điển trai, kẻ từng ra ngoài săn vịt trời và từ chối thay đôi ủng của mình.
“Thương gia của thành phố này,” tấm bia mộ ghi; dù không biết vì sao Betty Flanders chọn cách gọi ông ta như thế, khi, như nhiều người vẫn còn nhớ, ông ta chỉ từng ngồi sau một cửa sổ văn phòng trong ba tháng, và trước đó đã từng huấn luyện ngựa, đi săn với chó săn, canh tác vài cánh đồng, và có cuộc sống hơi phóng túng - vâng, bà phải gọi ông ta bằng một vị trí xã hội nào đó. Một tấm gương cho mấy đứa con trai.
Vậy thì, phải chăng ông ta không là gì cả? Một câu hỏi vô phương giải đáp, vì thậm chí nếu như kẻ làm dịch vụ tang lễ không có thói quen vuốt mắt cho người chết, ánh sáng của chúng vẫn sớm lịm tắt. Thoạt tiên là một phần của chính bà; giờ là một phần của một nhóm, ông ta đã hòa lẫn vào cỏ, sườn đồi dốc, hàng ngàn bia mộ bằng đá trắng, một số nghiêng ngả, số khác thẳng đứng, những vòng hoa tang mục rữa, những chiếc thánh giá xanh bằng thiếc, những lối mòn nhỏ hẹp vàng hoe, và những bụi tử đinh hương rũ xuống vào tháng Tư, với một thứ mùi giống như mùi phòng ngủ của một người tàn tật, bên trên bức tường nghĩa trang. Giờ Seabrook là tất cả những thứ đó; và khi, với mép váy vén cao, đang cho đàn gà ăn, bà nghe thấy tiếng chuông lễ nhà thờ hay tang lễ, đó là giọng nói của Seabrook - giọng nói của người chết.
Con gà trống trong đàn đã từng bay lên vai bà và mổ vào cổ bà, thế nên hiện giờ bà mang theo một cây gậy hay dắt theo một trong số các con mỗi khi cho gà ăn.
“Mẹ có thích con dao của con không, hả mẹ?” Archer hỏi.
Vang lên cùng lúc với tiếng chuông, giọng của con trai bà hòa lẫn sự sống và cái chết, một cách gắn bó, vui vẻ.
“Một con dao quá to đối với một cậu bé!” Bà nói. Bà cầm lấy nó cho cậu bé vui lòng. Ngay lúc đó con gà trống bay vọt ra từ chuồng gà; bà Flanders lớn tiếng bảo Archer đóng cánh cửa mở ra vườn nhà bếp, rồi rải thức ăn, cục cục gọi lũ gà mái, đi lăng xăng quanh vườn cây ăn quả. Bà Cranch, đang đập tấm thảm vào tường ở mé ngoài đường, nhìn thấy bà; bà giữ nó lơ lửng giây lát trong lúc nhận xét với bà Page cạnh nhà rằng bà Flanders đang ở trong vườn cây ăn quả với đàn gà.
Bà Page, bà Cranch và bà Garfit có thể nhìn thấy bà Flanders trong vườn vì khu vườn này là một phần của Dods, ngọn đồi có rào bao bọc; và đồi Dods là địa điểm cao nhất trong làng. Không từ ngữ nào có thể cường điệu tầm quan trọng của đồi Dods[2]. Nó là quả đất; thế giới tương phản với bầu trời; chân trời của biết bao thoáng nhìn có thể được ước tính đúng nhất bởi những kẻ từng sống cả đời trong ngôi làng này, chỉ rời khỏi nó một lần để chiến đấu trong cuộc chiến ở Crimea[3], chẳng hạn như già George Garfit, đang tựa người vào cổng vườn và phì phèo ống vố. Tiến trình của mặt trời được đo lường bởi nó; xét theo sắc thái của ngày phủ lên nó.
“Giờ bà ta sắp đi lên đồi với bé John,” bà Cranch nói với bà Garfit, giũ tấm thảm lần cuối, rồi đi vội vào nhà. Bà Flanders mở cửa vườn, bước lên đỉnh ngọn đồi, cầm tay của John. Archer và Jacob chạy lon ton ở phía trước hay chậm rãi lê bước ở phía sau; nhưng chúng đã có mặt trong cái pháo đài La Mã khi bà tới đó, đang hét lên rằng chúng nhìn thấy những con tàu nào trong vịnh. Vì đó là một chỗ quan sát tuyệt vời - những trảng cỏ phía sau, biển cả trước mặt, và toàn thể thị trấn Scarborough từ đầu này tới đầu kia trải ra bằng phẳng như một ô chữ. Bà Flanders, vốn đang trở nên mập mạp, ngồi xuống trong pháo đài và đưa mắt nhìn quanh.
Hẳn bà đã biết rõ toàn thể những đổi thay của quang cảnh; trạng thái mùa đông, mùa xuân, mùa hạ, mùa thu của nó; những trận bão đến từ biển thế nào; những trảng cỏ rùng mình và sáng rực thế nào khi những đám mây lướt qua bên trên; hẳn bà đã nhìn thấy cái chấm đỏ nơi những căn biệt thự đang được xây dựng; và những đường vạch đan chéo nhau, nơi những mảnh đất bị chia cắt; và ánh chớp lóe như kim cương của những ngôi nhà kính nhỏ trong ánh nắng. Hoặc, nếu những chi tiết như thế thoát khỏi mắt bà, bà có thể để cho trí tưởng tượng của mình chơi đùa với sắc vàng của biển vào lúc hoàng hôn, và nghĩ dường như nó phủ những đồng tiền vàng lấp lánh lên lớp đá cuội. Những con tàu nhỏ đáng yêu lướt ra khơi; cánh tay đen đúa của cái cầu tàu bổ sung thêm cho quang cảnh. Toàn thành phố có màu hồng và vàng; có mái vòm; sương mù giăng kín; âm vang; lanh lảnh. Tiếng đàn băng-giô bập bùng; lớp nhựa đường chảy nhẻo dinh dính dưới gót chân; lũ dê đột ngột phi nước kiệu; kéo những cỗ xe qua những đám đông. Bà nhận thấy Công ty đã bố trí rất khéo những luống hoa. Đôi khi một cái mũ rơm bị gió thổi bay. Những đóa hoa uất kim hương cháy bùng trong nắng. Một số quần dài có túi chống thấm được trải ra thành hàng. Những cái mũ tím viền quanh những gương mặt mềm mại, hồng hào, cáu kỉnh, trên những cái gối trong các chiếc ghế tắm nắng. Những tấm pa-nô hình tam giác được chở đi bằng xe ngựa bởi những tay xà ích mặc áo khoác trắng. Thuyền trưởng George Boase đã bắt được một con cá mập khổng lồ. Một mặt của tấm pa-nô tam giác viết như thế với những mẫu tự màu đỏ, xanh dương và vàng; và mỗi dòng chữ kết thúc với ba dấu chấm than có màu khác nhau. Và đó là một lý do cho việc đi vào Khu bể cá, nơi những tấm mành che đan bằng cành liễu, mùi ôi của axit clohydric, những cái ghế tre, những cái bàn với những cái gạt tàn thuốc, cái bể cá xoay, cô gái phục vụ ngồi đan phía sau sáu hoặc bảy hộp sô-cô-la (thông thường cô ta hoàn toàn ở một mình với lũ cá suốt nhiều giờ liền) vẫn lưu lại trong tâm trí như một phần của con cá mập khổng lồ; bản thân nó là một cái túi màu vàng mềm nhũn, như một cái va-li trống rỗng trong một bể nước. Chưa một ai vui vẻ vì Khu bể cá; nhưng những gương mặt của những kẻ hiện ra đó nhanh chóng mất đi vẻ lờ mờ, lạnh lẽo khi họ nhận thức rằng chỉ có đứng xếp hàng người ta mới được chấp nhận cho vào cầu tàu. Khi đã băng qua những cánh cửa xoay, mỗi người đi trong vòng một hai thước với dáng vẻ rất linh hoạt; một số vẫy tay với quầy hàng này; số khác với quầy kia.
Nhưng rốt cuộc, chính ban nhạc đã lôi kéo tất cả bọn họ tới đó; ngay cả những ngư dân trên cái cầu tàu thấp hơn cũng chọn chỗ ngồi trong phạm vi của nó.
Ban nhạc chơi trong cái ki-ốt có kiến trúc theo lối Tây Ban Nha cổ. Số chín hiện ra trên tấm bảng. Đó là một điệu valse. Những cô gái xanh xao, vị phu nhân già góa chồng, tay buôn ngựa, và quý ông giàu có, tất cả đều có vẻ mặt mờ mờ, ngái ngủ, và qua những khe hở trong những tấm ván dưới chân, họ có thể nhìn thấy những lượn sóng xanh mùa hạ, vỗ bập bềnh một cách thanh bình, êm ả quanh những cây cột sắt của cái cầu tàu.
Nhưng có một thời điểm khi không có bất cứ thứ nào trong số này tồn tại (chàng trai đang tựa người vào những song sắt nghĩ). Hãy dán mắt bạn vào cái váy của vị phu nhân; cái váy xám khá phù hợp - bên trên đôi tất lụa hồng. Nó thay đổi, xếp nếp trên đôi mắt cá chân của bà ta - thập niên chín mươi; rồi nó mở rộng - thập niên bảy mươi; bây giờ nó đỏ chói và căng ra bên trên một tấm váy phồng - thập niên sáu mươi; một bàn chân nhỏ đen đúa mang một chiếc tất vải bông trắng ló ra. Vẫn còn ngồi ở đó? Phải - bà ta vẫn còn trên cầu tàu. Lúc này tấm lụa được trang trí với những bông hồng thêu, nhưng theo cách nào đó người ta không còn thấy rõ lắm. Không có cầu tàu nào bên dưới chúng ta. Cỗ xe nặng nề có thể lắc lư trên con đường lộ, nhưng không có cái cầu tàu để nó ghé lại, và biển cả từng xám xịt, náo động biết bao trong thế kỷ mười bảy! Chúng ta hãy tới viện bảo tàng. Những quả đạn đại bác; những đầu mũi tên; tấm kính La Mã và cái kẹp y khoa phủ lớp gỉ đồng xanh. Đức Cha Jaspar Floyd đã khai quật chúng lên bằng tiền túi của mình hồi đầu thập niên bốn mươi trong khu trại La Mã trên đồi Dods - hãy nhìn tấm vé nhỏ với dòng chữ phai nhòa bên trên.
Và giờ đây, có thứ gì kế tiếp để xem ở Scarborough?
Bà Flanders ngồi trên cái vòng tròn đắp nổi của khu trại La Mã, vá cái quần dài của Jacob; chỉ ngẩng lên khi bà mút đầu sợi chỉ, hay khi một con côn trùng lao vào bà, kêu vo ve bên tai bà, rồi biến mất.
John tiếp tục chạy lon ton và trút vào vạt áo của bà những nhánh cỏ hay lá chết mà nó gọi là “trà”, và bà sắp xếp chúng một cách ngăn nắp nhưng lơ đãng, đặt đầu có hoa của những nhánh cỏ nằm cạnh nhau, suy nghĩ xem Archer lại thức giấc đêm qua như thế nào; đồng hồ nhà thờ đổ nhanh hơn mười hay mười ba phút; bà ước gì có thể mua cánh đồng cỏ của Garfit.
“Đó là một chiếc lá phong lan, Johnny. Hãy nhìn những chấm nâu nhỏ xíu. Tới đây, con yêu. Chúng ta phải về nhà. Ar-cher! Ja-cob!”
“Ar-cher! Ja-cob!” Johnny kêu lanh lảnh theo bà, xoay tròn quanh gót chân và rải những cọng cỏ và lá cây trên tay nó như thể đang gieo hạt. Archer và Jacob đi lên từ phía sau gò đất nơi chúng đã nấp với ý định sẽ bất ngờ nhảy vào người mẹ chúng, và họ bắt đầu chậm rãi trở về nhà.
“Ai kia nhỉ?” Bà Flanders hỏi, giơ tay che nắng.
“Ông già trên đường đó hả mẹ?” Archer nói, nhìn xuống.
“Ông ta không phải là một ông già,” bà Flanders nói. “Không, ông ta không già - mẹ nghĩ đó là ông Thuyền trưởng, nhưng hóa ra là ông Floyd. Nhanh chân lên nào, mấy đứa.”
“Ồ, ông Floyd phiền toái!” Jacob nói, vặt ngọn của một cây kế, vì nó đã biết rằng ông Floyd sẽ dạy chúng tiếng Latin, như thật sự ông đã thực hiện suốt ba năm trong lúc rảnh rỗi, xuất phát từ lòng tốt, vì không có quý ông nào khác trong vùng để bà Flanders có thể yêu cầu làm điều đó, và hai đứa bé lớn hơn đang vượt khỏi tầm tay của bà, phải sẵn sàng để tới trường, và hẳn là hầu hết các giáo sĩ không sẵn lòng tới dạy sau giờ uống trà, hay dạy chúng trong phòng của mình - như ông ta có thể thu xếp - vì giáo xứ này rất rộng, và ông Floyd, giống như cha ông ta trước đó, đã tới những căn nhà thôn quê cách xa nhiều dặm trên vùng trảng, và giống cụ Floyd, ông là một học giả lớn, khiến cho điều đó trở nên rất không có khả năng - bà chưa từng mơ tới một điều như thế. Bà có nên phỏng đoán chăng? Nhưng ngoài việc là một học giả, ông ta nhỏ hơn bà tám tuổi. Bà biết mẹ của ông ta - bà cụ Floyd. Bà đã uống trà ở đó. Và chính tối hôm đó, khi trở về sau bữa uống trà với bà cụ Floyd, bà đã tìm thấy lá thư trong sảnh và đã cầm theo nó vào bếp khi đem cá cho Rebecca, nghĩ rằng nó phải nói gì đó về lũ trẻ.
“Ông Floyd đã tự mang nó đến phải không?... Tôi nghĩ gói pho mát để ở trong sảnh... ờ, trong sảnh...” bởi bà đang đọc. Không, nó không nói về bọn trẻ. “Vâng, chắn chắn là đủ cho bánh cá ngày mai - có lẽ Thuyền trưởng Barfoot...” bà đã đọc tới từ “yêu”. Bà đi ra vườn và đọc, tựa người vào cây hồ đào để giữ thăng bằng. Ngực bà phập phồng. Seabrook hiện ra thật rõ trước mắt bà. Bà lắc đầu và nhìn qua hai hàng lệ những chiếc lá nhỏ lay động trên nền trời vàng khi ba con ngỗng, nửa chạy nửa bay, vội vã băng qua bãi cỏ với Johnny đang vung vẩy một nhánh cây ở phía sau. Bà Flander đỏ bừng mặt vì tức giận.
“Mẹ đã bảo con bao nhiêu lần?” Bà la lên, chụp lấy nó và giật nhánh cây khỏi tay nó.
“Nhưng chúng đã chạy trốn!” Thằng bé kêu lên, cố vùng vẫy để thoát ra.
“Con là một đứa bé hư. Nếu mẹ đã nói với con một lần, mẹ sẽ nói với con một ngàn lần. Mẹ không cho phép con rượt đuổi lũ ngỗng!” Bà nói, và vò nhàu lá thư của ông Floyd trong tay, bà giữ chặt Johnny và lùa lũ ngỗng vào vườn trở lại.
“Làm sao mình có thể kết hôn?” Bà cay đắng tự nhủ trong lúc cột cánh cổng lại với một cọng kẽm. Bà luôn không ưa mái tóc đỏ ở những người đàn ông, bà suy nghĩ đêm hôm đó, khi lũ trẻ đã lên giường, nhớ tới ngoại hình của ông Floyd. Và bà đẩy cái hộp đựng đồ may vá ra, kéo tờ giấy thấm mực về phía mình, và đọc lại lá thư của ông Floyd; ngực bà phập phồng khi đọc tới từ “yêu”, nhưng lần này không nhanh lắm, vì bà đã nhìn thấy Johnny rượt lũ ngỗng, và biết rằng bà không thể lấy bất cứ người nào - nói gì tới ông Floyd, một người nhỏ tuổi hơn bà nhiều, nhưng đó là một người tử tế, và còn là một học giả nữa.
“Ông Floyd thân mến,” bà viết. “Mình có quên vụ pho mát không nhỉ?” Bà tự hỏi, đặt cây bút xuống. Không, bà đã nói với Rebecca rằng pho mát để trong sảnh. “Tôi rất ngạc nhiên...” bà viết.
Nhưng lá thư mà ông Floyd tìm thấy trên bàn khi thức dậy sáng sớm hôm sau không bắt đầu với câu “Tôi rất ngạc nhiên” và nó là một lá thư đầy tình mẫu tử, sự kính trọng, và lửng lơ đến độ ông đã giữ lại nó suốt nhiều năm; rất lâu sau khi ông kết hôn với cô Wimbush, ở thị trấn Andover; rất lâu sau khi ông rời khỏi làng. Vì ông đã yêu cầu được đổi tới giáo xứ ở Sheffield, và được chấp nhận; và khi mời Archer, Jacob, và John tới để từ giã, ông đã bảo chúng chọn bất cứ thứ gì chúng thích trong thư phòng của ông để nhớ tới ông. Archer chọn một con dao rọc giấy, vì nó không thích chọn bất cứ thứ gì quá tốt; Jacob chọn một tập thơ của Byron; John, vẫn còn quá bé để có một quyết định đúng, chọn con mèo con của ông Floyd; các anh của nó nghĩ đó là một chọn lựa vô lý, nhưng ông Floyd ủng hộ nó; ông bảo: “Nó có bộ lông giống như cháu.” Sau đó ông nói về Hải quân của Đức vua (Archer sẽ gia nhập); và về Trường Rugby (nơi Jacob sẽ theo học); hôm sau ông nhận được một cái khay bạc và lên đường - đầu tiên tới Sheffield, nơi ông sẽ gặp cô Wimbush, đang tới đó để thăm bác của cô ta, rồi tới Maresfield House, nơi ông trở thành thầy hiệu trưởng, rồi cuối cùng trở thành biên tập viên của một loạt sách về Tiểu sử Giáo hội; ông thôi việc và về sống tại Hampstead với vợ và con gái, và người ta thường nhìn thấy ông đang cho vịt ăn ở Leg of Mutton Pond[4]. Còn về phần lá thư của bà Flanders, một hôm ông muốn tìm nó nhưng không tìm ra được, và không muốn hỏi vợ ông xem bà có cất nó đi không. Sau này, khi gặp Jacob ở phố Piccadilly, ông nhận ra anh sau ba giây. Nhưng Jacob đã trưởng thành, trở thành một thanh niên điển trai đến độ ông không muốn ngăn anh lại trên đường.
“Ái chà,” bà Flanders nói, khi đọc thấy trong tờ Scarborough and Harrogate Courier[5] rằng Đức Cha Andrew Floyd, vân vân và vân vân, đã được bổ nhiệm chức Hiệu trưởng Trường Maresfield House, “đó phải là ông Floyd của chúng ta.”
Một bóng tối lờ mờ đổ lên bàn. Jacob đang thưởng thức món mứt; người đưa thư đang nói chuyện với Rebecca trong bếp; một con ong đang kêu vo ve trên đóa hoa vàng đong đưa bên khung cửa sổ mở. Tất cả đều sống động, nghĩa là, trong lúc ông Floyd khốn khổ đang trở thành Hiệu trưởng Trường Maresfield House.
Bà Flanders đứng lên, bước tới tấm chắn lò sưởi và vuốt ve phần cổ sau đôi tai của Topaz.
“Topaz tội nghiệp,” bà nói (bởi con mèo con của ông Floyd giờ là một con mèo rất già, bị ghẻ lở đôi chút sau đôi tai, và sẽ sớm bị giết một ngày nào đó.)
“Topaz tội nghiệp,” bà Flanders nói, trong lúc nó duỗi người ra dưới nắng; bà mỉm cười và nghĩ bà đã nhờ người thiến nó ra sao, và bà không thích mái tóc đỏ ở đám đàn ông ra sao. Vẫn mỉm cười, bà bước vào bếp.
Jacob lau mặt qua loa với một chiếc khăn tay khá bẩn. Nó lên gác, vào phòng của mình.
Con bọ vừng chết rất chậm (John là kẻ đã sưu tầm những con bọ). Thậm chí đến hôm thứ hai những cái chân của nó vẫn còn mềm. Nhưng lũ bướm đã chết. Một mùi trứng thối bao trùm lên những con bướm vàng[6]; chúng đã từng ồ ạt bay qua vườn cây ăn quả, qua đồi Dods tới tận trảng cỏ, lúc lạc đường sau một bụi kim tước, lúc bay tán loạn dưới ánh nắng như thiêu. Một con bướm đốm[7] tắm nắng trên một phiến đá trắng trong khu trại La Mã. Từ thung lũng vọng tới tiếng chuông nhà thờ. Tất cả bọn họ đang ăn thịt bò nướng ở Scarborough; bởi Jacob đã bắt những con bướm vàng trong cánh đồng cỏ ba lá cách nhà tám dặm vào hôm Chủ nhật.
Rebecca đã bắt được con bướm đầu lâu[8] trong bếp.
Một mùi long não nồng nặc phát ra từ những cái lồng bướm.
Trộn lẫn với mùi long não là mùi không thể nhầm lẫn của rong biển. Những chùm rong biển nâu treo trên cửa. Mặt trời rọi thẳng lên chúng.
Không ngờ gì nữa, đôi cánh trước của con bướm đêm mà Jacob đang cầm điểm những chấm hình quả thận màu vàng hung. Nhưng không có hình lưỡi liềm nào trên đôi cánh sau. Cây sồi đã đổ vào đêm Jacob bắt nó. Có một tràng súng săn đột ngột từ sâu trong rừng. Và mẹ nó đã tưởng nó là tên trộm đêm khi nó trở về nhà muộn. Đứa duy nhất trong số các con trai không bao giờ nghe lời bà, bà nói.
Morris[9] đã gọi nó là “một côn trùng có tính chất cực kỳ địa phương được tìm thấy ở những địa điểm ẩm thấp hay có đầm lầy.” Nhưng đôi khi Morris cũng sai. Thỉnh thoảng Jacob chọn một cây bút thật tốt và sửa lại nhận định sai trên lề sách.
Cây sồi to đã đổ, dù đó là một đêm lặng gió, và cái đèn lồng, đặt trên mặt đất, soi sáng những chiếc lá vẫn còn xanh và những chiếc lá chết. Đó là một nơi khô ráo. Có một con cóc ở đó. Con bướm cánh sau màu đỏ[10] đã bay vòng quanh ánh đèn, lóe sáng và biến mất. Con bướm đó không bao giờ quay lại, dù Jacob đã chờ. Mãi tới mười hai giờ nó mới băng qua bãi cỏ và nhìn thấy mẹ nó trong căn phòng sáng rực, đang ngồi nhẫn nại.
“Con làm mẹ sợ biết bao nhiêu!” Bà la lên. Bà nghĩ đã xảy ra một điều đáng sợ nào đó. Và nó đã làm cho Rebecca thức giấc, cô ta phải dậy rất sớm.
Nó đứng đó, tái nhợt trong căn phòng nóng nực, bước ra từ những chiều sâu của bóng tối, chớp mắt nhìn ánh đèn.
Không, đó không thể là một con bướm cánh sau màu rơm.[11]
Cái máy cắt cỏ luôn cần được tra dầu. Barnet đã lôi nó tới phía dưới cửa sổ của Jacob, và nó kêu cọt kẹt, cọt kẹt, rầm rầm lăn qua bãi cỏ, và lại kêu cọt kẹt.
Lúc này mây đã tan đi.
Mặt trời quay lại, chói lọi.
Nắng rơi như một con mắt lên những thanh nẹp giường, rồi đột ngột nhưng nhẹ nhàng đáp lên giường, lên cái đồng hồ báo thức và cái lồng bướm để mở. Lũ bướm vàng đã từng bay tán loạn trên trảng cỏ; từng lượn ngoằn ngoèo qua đám cỏ ba lá tím. Lũ bướm đốm bay chập chờn dọc theo những bờ rào. Lũ bướm xanh[12] đậu lên những khúc xương nằm lăn lóc trên cỏ với ánh nắng rọi thẳng lên chúng, và lũ bướm phu nhân lộng lẫy[13] và bướm ngũ sắc[14] đang mở tiệc trên những khúc ruột đẫm máu do một con diều hâu đánh rơi. Cách nhà nhiều dặm, trong một thung lũng nhỏ giữa những lùm tục đoạn bên dưới một di tích đổ nát, nó đã tìm thấy lũ bướm nâu đốm trắng.[15] Nó đã nhìn thấy một con bướm nâu vạch trắng[16] lượn vòng càng lúc càng cao quanh một cây sồi, nhưng chưa bao giờ bắt được con bướm đó. Một bà cụ quê mùa sống một mình đã kể cho nó nghe về một con bướm tím[17] thường xuất hiện mỗi mùa hè trong khu vườn của bà. Lũ cáo con chơi đùa trong lùm kim tước vào sáng sớm, bà ta kể.
Và nếu bạn nhìn ra vào lúc rạng sáng, bạn luôn có thể nhìn thấy hai con lửng. Đôi khi chúng vật lộn như hai cậu bé đang đánh nhau, bà ta nói.
“Chiều nay con đừng đi xa, Jacob,” mẹ nó nói, thò đầu vào cửa, “vì ông thuyền trưởng sẽ tới để chào tạm biệt.” Đó là ngày cuối cùng của dịp lễ Phục sinh.
Thứ Tư là ngày của Thuyền trưởng Barfoot. Ông ăn mặc rất chỉnh tề với bộ quần áo vải xẹc, xách theo cây gậy đế bọc cao su - vì ông đi khập khiễng và thiếu mất hai ngón trên bàn tay phải do phục vụ đất nước - và bước ra khỏi căn nhà có cái cột cờ vào đúng bốn giờ chiều.
Lúc ba giờ, ông Dickens, thợ đóng ghế đẩy, đã ghé thăm bà Barfoot.
“Hãy giúp tôi di chuyển,” bà ta thường nói với ông Dickens, sau khi ngồi trên lối dành cho người đi bộ khoảng mười lăm phút. Và một lần nữa, “Đủ rồi, cám ơn, ông Dickens.” Với mệnh lệnh đầu tiên, ông ta thường tìm xem mặt trời ở phía nào; với mệnh lệnh sau, ông ta thường đặt cái ghế tại đó, trong ánh nắng. Cái vòi nước uống công cộng, nơi phố West nối với phố Broad, là món quà của James Coppard, kẻ từng là thị trưởng vào thời đại tưng bừng của Nữ hoàng Victoria; và ông ta từng được vẽ trên những cỗ xe tưới nước của thị trấn, những cửa sổ cửa tiệm, và những bức mành bằng kẽm ở cửa sổ phòng tư vấn của các luật sư. Nhưng Ellen Barfoot chưa bao giờ tới tham quan Khu Bể Cá (dù bà quen thân với Thuyền trưởng Boase, người đã bắt được con cá mập), và khi đám đàn ông đi ngang qua với những tấm áp phích, bà khinh khỉnh nhìn họ, vì bà biết bà sẽ không bao giờ nhìn thấy những tay hề Pháp, hay anh em Zeno, hay Daisy Budd và đàn hải cẩu biết biểu diễn của cô ta. Vì Ellen Barfoot, trong cái ghế đẩy trên lối dành cho người đi bộ là một tù nhân - một tù nhân của nền văn minh - tất cả những chấn song của cái lồng của bà rơi khắp lối dành cho người đi bộ vào những ngày nắng đẹp, khi tòa thị sảnh, các tiệm vải, hồ bơi, và nhà lưu niệm đổ bóng thành vệt lên mặt đất.
Bản thân là một cư dân kỳ cựu, ông Dickens thường đứng phía sau bà một khoảng ngắn, phì phèo tẩu thuốc. Bà sẽ hỏi ông nhiều câu hỏi - những người đó là ai - hiện giờ ai quản lý cửa tiệm của ông Jones - rồi về mùa trong năm - và bà Dickens có cố gắng không, bất kể đó là gì - những từ tuôn ra từ miệng bà như những vụn bánh quy khô.
Bà nhắm mắt lại. Ông Dickens xoay đi. Những cảm giác của một người đàn ông không hoàn toàn rời bỏ ông, dù khi bạn nhìn thấy ông đang tới gần bạn, bạn nhận ra một chiếc ủng đen sần sùi đung đưa một cách ngập ngừng trước chiếc ủng kia ra sao; có một cái bóng giữa cái áo chẽn và quần của ông ra sao; ông nghiêng người về phía trước một cách loạng choạng, như một con ngựa già nhận ra nó đột nhiên thoát khỏi càng xe và không kéo cỗ xe nào ra sao. Nhưng khi ông Dickens nuốt khói vào rồi phun nó ra trở lại, người ta có thể nhận thấy những cảm giác của một người đàn ông trong đôi mắt của ông. Ông suy nghĩ lúc này Thuyền trưởng Barfot đang trên đường tới Mount Pleasant như thế nào; Thuyền trưởng Barfoot, ông chủ của ông. Bởi ở nhà ông, trong một căn phòng khách nhỏ bên trên trại nuôi ngựa, với lũ chim hoàng yến trong cửa sổ, những cô gái ngồi sau máy may, và bà Dickens co người lại với chứng thấp khớp - ở nhà, nơi ông bị xem thường, cái ý nghĩ về việc đang làm thuê cho Thuyền trưởng Barfoot khiến ông vững tâm hơn. Ông thích nghĩ rằng trong lúc trò chuyện với bà Barfoot ở trước nhà, ông đã giúp cho ông thuyền trưởng đang trên đường tới nhà bà Flanders. Ông, một người đàn ông, đang chịu trách nhiệm về bà Barfoot, một phụ nữ.
Khi quay lại, ông thấy rằng bà đang nói chuyện với bà Rogers. Khi quay lại lần nữa, ông thấy rằng bà Rogers đã đi khỏi. Thế là ông trở lại chỗ cái ghế đẩy; bà Barfoot hỏi ông mấy giờ, và ông móc cái đồng hồ đeo tay bằng bạc to tướng ra, báo giờ cho bà biết với vẻ rất sốt sắng, như thể ông biết về giờ giấc và mọi thứ hơn bà nhiều. Nhưng bà Barfoot biết rằng Thuyền trưởng Barfoot đang trên đường tới nhà bà Flanders.
Thật sự ông đã đi được một chặng khá xa, đã xuống xe điện, và nhìn thấy ngọn đồi Dods ở phía đông nam, xanh ngắt trên nền trời xanh lơ tràn ngập màu bụi ở phía chân trời. Ông đang bước đều chân lên đồi. Bất chấp sự khập khiễng, có tính chất nhà binh nào đó trong dáng đi của ông. Khi ra khỏi cổng nhà ông mục sư, bà Jarvis nhìn thấy ông đang tới gần, và Nero, con chó nòi Newfoundland của bà, chậm rãi ngoắc đuôi từ bên nọ sang bên kia.
“Ồ, Thuyền trưởng Barfoot!” Bà Jarvis kêu lên.
“Chào ngày lành, bà Jarvis,” vị thuyền trưởng nói.
Họ cùng đi với nhau, và khi họ tới cổng nhà bà Flanders, Thuyền trưởng Barfoot dỡ cái mũ vải tuýt xuống, và vừa nói vừa cúi đầu rất lễ độ:
“Chúc bà ngày lành, bà Jarvis.”
Và bà Jarvis đi tiếp một mình.
Bà đang đi ra trảng. Không phải bà đã đi lại trên bãi cỏ nhà mình lúc đêm thâu hay sao? Không phải bà đã đập lên cửa sổ thư phòng lần nữa và kêu lên: “Hãy nhìn mặt trăng, hãy nhìn mặt trăng kìa, Herbert!” hay sao?
Và Herbert đã nhìn lên mặt trăng.
Bà Jarvis hay dạo trên trảng cỏ khi cảm thấy buồn bã, đi tới tận một lũng nhỏ cụ thể trông như một cái đĩa lót tách, dù bà luôn có ý định đi tới một dãy đồi xa hơn; và ở đó bà ngồi xuống, lôi ra cuốn sách giấu bên dưới tấm áo choàng và đọc vài dòng thơ, rồi đưa mắt nhìn quanh. Bà rất buồn, và thấy rằng bà đã năm mươi lăm, có lẽ sẽ không bao giờ quá đỗi buồn, nghĩa là buồn bã một cách tuyệt vọng, và bỏ mặc chồng mình, và hủy hoại sự nghiệp của một người đàn ông tốt, như đôi khi bà dọa dẫm.
Không cần phải nói bà vợ của một giáo sĩ có thể đánh liều làm những chuyện gì khi bà đi dạo trong trảng cỏ. Thấp, ngăm ngăm, với đôi mắt sáng, một sợi lông công trên mũ, bà Jarvis đúng là dạng phụ nữ đánh mất niềm tin của mình đối với những trảng cỏ - nghĩa là làm rối trí Thượng đế của bà và toàn vũ trụ - nhưng bà không đánh mất niềm tin, không rời bỏ ông chồng, không bao giờ đọc hết bài thơ, và tiếp tục đi dạo trên những trảng cỏ, nhìn vầng trăng phía sau cây du, và cảm thấy giống như bà ngồi trên mặt cỏ cao bên trên Scarborough... Phải, phải, khi con chim chiền chiện bay vút lên; khi đàn cừu bước về phía trước một hai bước, gặm cỏ, đồng thời làm cho những cái chuông cổ kêu leng keng; khi cơn gió nhẹ nổi lên rồi lặng lại, để lại đôi gò má đã được hôn lên; khi những con tàu trên mặt biển bên dưới dường như băng ngang qua nhau và lướt tiếp như thể được kéo đi bởi một bàn tay vô hình; khi có những rung chuyển xa xôi trong không trung và những bóng ma kỵ sĩ đang phi ngựa, đang dừng lại; khi chân trời đẫm sắc lục, xanh lơ, cảm xúc; những khi đó bà Jarvis sẽ thở dài sườn sượt, nghĩ thầm trong bụng, “Giá như một ai đó có thể cho mình... Giá như mình có thể cho ai đó...” Nhưng bà không biết bà muốn cho gì, hoặc ai có thể cho bà thứ đó.
“Bà Flanders vừa đi ra ngoài cách đây năm phút, thưa ông Thuyền trưởng,” Rebecca nói. Thuyền trưởng Barfoot ngồi xuống cái ghế bành để chờ. Tựa cùi chỏ lên tay vịn, đặt một bàn tay lên bàn tay kia, duỗi thẳng cái chân khập khiễng ra, và đặt cây gậy có đế bịt cao su bên cạnh nó, ông ngồi im như tượng. Ở ông có vẻ gì đó cứng nhắc. Ông có suy nghĩ không? Có lẽ cùng những ý nghĩ lặp đi lặp lại. Nhưng chúng có phải là những ý nghĩ “tươi đẹp”, những ý nghĩ thú vị hay không? Ông là một người đàn ông có cá tính; kiên quyết, tận tâm. Hẳn những người phụ nữ sẽ cảm thấy, “Đây là luật pháp. Đây là trật tự. Do đó chúng ta phải quý trọng người đàn ông này. Ông ta ở trên đài chỉ huy của con tàu vào ban đêm,” và, việc trao cho ông chiếc cốc của ông, hay bất kể nó là gì, sẽ mang tới những ảo ảnh về nạn đắm tàu và tai họa, trong đó mọi hành khách té nhào khỏi buồng của họ, và kia là vị thuyền trưởng, trong chiếc áo va-rơi, chọi nhau với bão tố, chỉ bị đánh bại bởi nó chứ không bởi bất kỳ ai khác. “Thế nhưng mình có một linh hồn,” bà Jarvis sẽ nghĩ, khi Thuyền trưởng Barfoot đột nhiên xì mũi vào một cái khăn tay ca-rô lớn màu đỏ, “và chính sự ngu ngốc của người đàn ông đó là nguyên nhân của việc này, và trận bão là trận bão của mình cũng như của ông ta,” bà Jarvis nghĩ thế khi viên thuyền trưởng ghé vào thăm họ, biết rằng Herbert đã ra ngoài, và trải qua hai hoặc ba giờ, hầu như im lặng, ngồi trong cái ghế bành. Nhưng Betty Flanders không nghĩ gì giống thế.
“Ồ, ông Thuyền trưởng,” bà Flanders nói, bước vội vào phòng khách, “tôi phải đuổi theo người của Barker... tôi hy vọng Rebecca... tôi hy vọng Jacob...”
Bà thở hổn hển, nhưng không hề bực dọc, và khi bà đặt cái bàn chải cọ lò sưởi mà bà đã mua của người bán dầu xuống, bà bảo tiết trời nóng quá, rồi mở tung cửa sổ ra, vuốt thẳng một tấm khăn trải bàn, nhặt một cuốn sách lên, như thể bà rất tự tin, rất quý mến vị thuyền trưởng, và bà trẻ hơn ông rất nhiều tuổi. Thật sự, với cái tạp dề xanh lơ, trông bà chưa tới ba mươi lăm. Thuyền trưởng đã quá năm mươi khá nhiều.
Bà di chuyển đôi bàn tay quanh bàn; Thuyền trưởng di chuyển đầu mình từ bên này sang bên kia, tạo nên những âm thanh nho nhỏ, hoàn toàn thoải mái - sau hai mươi năm - trong lúc Betty tiếp tục trò chuyện.
Cuối cùng ông lên tiếng, “À, tôi có nghe từ ông Polegate.”
Ông đã nghe tin từ ông Polegate rằng ông ta không có lời khuyên nào tốt hơn là nên gửi một cậu bé tới một trong số các trường đại học.
“Ông Floyd đã học ở Cambridge... không, ở Oxford... vâng, ở trường này hoặc trường kia,” bà Flanders nói.
Bà nhìn ra cửa sổ. Những khung cửa sổ nhỏ, và những bông hoa tử đinh hương và cây lá phản chiếu trong đôi mắt của bà.
“Archer đang làm việc rất tốt,” bà nói. “Tôi nhận được một báo cáo rất tuyệt từ Thuyền trưởng Maxwell.”
“Tôi sẽ để lại cho bà lá thư để bà trao cho Jacob,” Thuyền trưởng nói, lóng ngóng đặt nó vào phong bì trở lại.
“Jacob đang đuổi theo lũ bướm của nó như thường lệ,” bà Flanders bực bội nói, nhưng ngạc nhiên bởi một ý nghĩ bất ngờ nảy ra quá muộn, “Mùa dế bắt đầu từ tuần này, dĩ nhiên rồi.”
“Edward Jenkinson đã đệ đơn xin từ chức,” Thuyền trưởng Barfoot nói.
“Vậy ông sẽ đại diện cho Hội đồng?” Bà Flanders kêu lên, nhìn thẳng vào mặt vị thuyền trưởng.
“Vâng, về việc đó,” Thuyền trưởng Barfoot nói, nhích sâu hơn vào cái ghế.
Do đó, Jacob Flanders đã tới Cambridge vào tháng Mười, 1906.
❀ ❀ ❀
[1] Vào thời này, bọn đào trộm xác người để bán cho các trung tâm dạy phẫu thuật vẫn còn hoạt động mạnh mẽ. Vì vậy, những người có của thường được chôn trong quan tài dày hai hoặc ba lớp.
[2] Đồi Dods là địa danh hư cấu. Đồi Castle mới thật sự là địa điểm cao nhất ở Scarborough.
[3] Cuộc chiến Crimea (1853-1856) nhằm giành quyền kiểm soát bán đảo Crimea, giữa Nga và liên minh gồm Anh, Pháp, đế quốc Ottoman và vương quốc Sardina.
[4] Hồ này nằm ở phía tây công viên Hamstead Heath, một công viên cổ nằm trên những điểm cao nhất của London, rộng 320 ha, kéo dài từ Hamstead tới Highgate.
[5] Tờ báo này không có thật.
[6] Clouded yellow (Colias): loài bướm có cánh màu vàng nhạt, sống ở khu vục Bắc Bán cầu, Nam Mỹ, châu Phi, Trung Quốc và Ấn Độ.
[7] Fritilary: loài bướm đa dạng nhất trên trái đất, thường có những đốm hoa văn đủ màu trên cánh.
[8] Death’s head moth hoặc deaths head hawkmoth (Acherontia): loài bướm đêm trên lưng có hoa văn giống như hình sọ người, sống ở châu Âu và châu Á.
[9] Francis Orpen Morris (1810-1893) giáo sĩ người Ái Nhĩ Lan, tác giả của nhiều sách thiếu nhi và sách lịch sử tự nhiên, cuốn sách của Jacob là cuốn A History of British Moth (4 tập, xuất bản từ 1859- 1870).
[10] Red underwing (Catocala nupta): loài bướm đêm cỡ lớn (sải cánh 80mm), đôi cánh sau có màu đỏ hoặc hung, sống ở châu Âu.
[11] Straw underwing (Thalpophila matura): loài bướm đêm cỡ vừa, cánh sau có màu vàng rơm và có dài viền đen rộng ở mép cánh, sống ở Trung và Nam Âu.
[12] Blues (Lycaenidae): loài bướm có cánh màu xanh trời, sống ở châu Âu, Bắc Phi và quần đảo Canary, nhưng thường gặp nhất ở Anh.
[13] Painted lady (Vanessa cardul): loài bướm lớn ở Anh, sải cánh 5-9 cm; cánh có nhiều màu sắc.
[14] Peacock (Aglais io): loài bướm cỡ vừa, cánh có màu sặc sỡ, thường là màu đỏ gỉ sắt, và những đốm lớn hình con mắt gần mép cánh; sống ở châu Âu và vùng ôn đới châu Á, xa nhất về phía đông là Nhật.
[15] Comma (Polygonia c-album).
[16] White admiral (Limenitis Camilla).
[17] Loài bướm rất hiếm thấy ở Anh, có nhiều truyền thuyết về việc nhìn thấy hay mơ thấy loài bướm này.