Khoảng chín giờ rưỡi, Jacob rời khỏi nhà; cửa nhà anh đóng sầm lại, những cánh cửa khác đóng sầm lại; anh mua báo, leo lên chiếc xe buýt hai tầng, hoặc đi bộ như những người khác nếu thời tiết cho phép. Đầu cúi thấp, một cái bàn giấy, một cái điện thoại, những cuốn sách bọc bìa da xanh, bóng đèn điện... “Mua than tươi không, thưa ông?”... “Trà của ông đây, thưa ông”... Nói về bóng đá, đội Hotspurs, đội Harlequins; tờ Star[1] ra lúc sáu giờ rưỡi do tay chạy giấy tờ văn phòng mang vào; đàn quạ ở Hội quán Gray bay qua trên đầu; những nhánh cây mỏng và giòn trong làn sương mù; và thỉnh thoảng, xuyên qua tiếng gầm rú của xe cộ giao thông, một giọng nói hét lên: “Bản án... bản án... đội thắng cuộc... đội thắng cuộc,” trong lúc những lá thư chất đống trong giỏ; Jacob ký chúng, và mỗi chiều hôm tìm thấy anh, khi anh cởi chiếc áo khoác, với một cơ bắp nào đó của não bộ mới bị kéo giãn ra.
Sau đó, đôi khi là một ván cờ; hoặc những bức tranh ở phố Bond, hoặc một chặng đường xa về nhà để đi dạo tay trong tay với Bonamy, trầm ngâm bước, đầu ngửa ra sau, thế giới là một quang cảnh, vầng trăng sớm bên trên những tháp chuông hiện ra để ca tụng, đàn hải âu bay cao, Nelson trên trụ đá đang dõi nhìn chân trời, và trần gian là con tàu của chúng ta.
Trong lúc đó lá thư của Betty Flander tội nghiệp, sau khi tới trạm thứ hai, nằm trên cái bàn trong sảnh - Betty Flander tội nghiệp viết tên con trai của mình, ông Jacob Alan Flanders, như những người mẹ khác, và nét mực nhợt nhạt bị nhòe, cho thấy những bà mẹ ở Scarborough đã nguệch ngoạc viết như thế nào cạnh lò sưởi với hai bàn chân đặt trên tấm chắn, khi trà đã dọn đi, và không bao giờ, không bao giờ có thể nói, bất kể đó là gì - có lẽ là câu này - Đừng quen biết những người phụ nữ xấu, hãy là một chàng trai tốt; hãy mặc những chiếc áo sơ mi dày của con; và trở về, trở về, trở về với mẹ.
Nhưng bà không nói điều gì như thế. “Con có nhớ cô Wargrave lớn tuổi, người từng rất tốt khi con bị mắc chứng ho gà hay không?” Bà viết; “rốt cuộc bà ấy chết rồi, con người tội nghiệp. Họ sẽ rất vui nếu con viết thư. Ellen tới và bọn mẹ đã có một ngày mua sắm tuyệt vời. Ông cụ Mouse đã cứng đơ cả người, và bọn mẹ phải dìu ông đi lên ngọn đồi nhỏ nhất. Cuối cùng Rebecca, sau bao lâu mẹ cũng không biết, đã bước vào nhà của ông Adamson. Ba cái răng, ông ta nói, cần được nhổ đi. Thời tiết rất dịu trong thời gian này của năm, những chồi non thật sự nhú ra trên những cây lê. Và bà Jarvis nói với mẹ: ‘Bà Flanders mến bà Jarvis, luôn nói với bà ta rằng bà ta quá tốt đối với một nơi yên tĩnh thế này, và dù bà không bao giờ lắng nghe sự bất bình của bà ta và nói với bà ta vào lúc cuối (ngẩng lên, nút sợi chỉ, hoặc gỡ cặp kính ra) rằng một ít than bùn đặt quanh rễ của cây diên vĩ sẽ giúp chúng chống lại sương giá, và đợt bán hàng vải lanh lớn của Parrot là vào Thứ Tư tuần tới, hãy nhớ nhé,’” - Bà Flanders biết chính xác bà Jarvis nghĩ thế nào; và những lá thư của bà thật thú vị, về bà Jarvis, người ta có thể đọc chúng năm này sang năm khác - những tác phẩm chưa xuất bản của những người phụ nữ, được viết cạnh lò sưởi với nét mực hơi nhòe, được hong khô trên ngọn lửa, vì giấy thấm đã rách lỗ chỗ và ngòi bút bị hở và đọng mực. Rồi tới Thuyền trưởng Barfoot. Bà gọi ông là “Thuyền trưởng”, nói về ông một cách thẳng thắn, nhưng không bao giờ thiếu sự dè dặt. Ông Thuyền trưởng đang hỏi giúp bà về mẫu đất của Garfit; khuyên bà nên nuôi gà; có thể hứa hẹn sinh lời; hoặc ông ta đang mắc chứng đau thần kinh tọa; hoặc bà Barfoot đã ở trong nhà suốt nhiều tuần; hoặc ông Thuyền trưởng nói rằng mọi sự có vẻ tồi tệ, nghĩa là về chính trị, vì như Jacob biết, đôi khi ông Thuyền trưởng sẽ nói, khi màn chiều dần buông xuống, về Ái Nhĩ Lan hoặc Ấn Độ; và khi đó bà Flanders sẽ rơi vào suy nghĩ về Morty, anh của bà, đã đánh mất tất cả những năm tháng này - những người dân địa phương có cứu được ông ta không, tàu của ông ta có bị đắm không - Bộ Hải quân sẽ báo cho bà biết chứ? - ông Thuyền trưởng gõ tàn thuốc khỏi tẩu, như Jacob biết, đứng lên để đi, lóng ngóng vươn tay ra để nhặt cuộn len của bà Flanders bị rơi dưới chân ghế. Cuộc trò chuyện về cái trại gà cứ trở đi trở lại, những người phụ nữ bốc đồng tận trong tim, thậm chí ở tuổi năm mươi, vẽ ra trong tương lai mờ mịt những đàn gà Leghorn, Cochin China, Orpington[2]; giống như Jacob trong phác họa mờ mờ của bà; nhưng mạnh mẽ như trước đây, tươi tắn và tràn sức sống, chạy quanh nhà, trách móc Rebecca.
Lá thư nằm trên cái bàn trong sảnh; đêm ấy Florinda tới đó và đã cầm nó theo, đặt nó lên bàn khi cô hôn Jacob, và Jacob nhìn thấy sự giúp đỡ, để mặc nó ở đó dưới ngọn đèn dầu, giữa cái hộp thiếc đựng bánh quy và hộp thuốc lá. Họ đóng cửa phòng ngủ lại sau lưng.
Phòng khách không biết và cũng không quan tâm. Cánh cửa đã đóng; và cứ cho rằng gỗ, khi nó kêu răng rắc, truyền đạt bất kỳ điều gì ngoại trừ rằng lũ chuột đang bận rộn và gỗ khô thật là trẻ con. Những ngôi nhà cũ kỹ này chỉ toàn gạch và gỗ, thấm đẫm mồ hôi người, sần sùi với chất bẩn của con người. Nhưng nếu phong thư xanh nhạt nằm cạnh hộp bánh quy có những cảm giác của một bà mẹ, quả tim bà sẽ bị xé toạc bởi tiếng răng rắc, sự rung chuyển đột ngột. Phía sau cánh cửa là một vụ dâm ô, sự hiện diện đáng báo động, và sự khủng khiếp sẽ chế ngự bà ta như lúc cận kề cái chết, hoặc lúc sinh nở. Có lẽ tốt hơn nên xông vào và đối mặt với nó thay vì ngồi trong căn phòng chờ, lắng nghe tiếng răng rắc nho nhỏ, tiếng rung chuyển đột ngột, bởi tim bà đang sưng tấy, và nỗi đau luồn kim qua nó. Con trai tôi, con trai tôi - bà sẽ kêu lên như thế, thốt lên để che đậy ảo ảnh của mình, rằng anh đang nằm duỗi người với Florinda, không thể biện minh, phi lý, đối với một phụ nữ có ba đứa con đang sống ở Scarborough. Và lỗi là ở Florinda. Thật sự, khi cửa mở và đôi tình nhân này bước ra, hẳn bà Flanders sẽ lao vào cô ta - chỉ có điều chính Jacob là người ra trước, trong chiếc áo ngủ, đáng yêu, uy quyền, đẹp đẽ khỏe mạnh, như một em bé sau chuyến dạo mát, với ánh mắt trong trẻo như nước đang trôi. Florinda theo sau, lười lĩnh vươn vai; ngáp dài ngáp vắn; sửa sang lại mái tóc trước tấm gương - trong lúc Jacob đọc lá thư của mẹ mình.
Chúng ta hãy xem xét những lá thư - chúng tới vào giờ điểm tâm, và vào ban đêm ra sao, với những con tem vàng và những con tem xanh, trở nên bất tử bởi con dấu bưu điện - bởi nhìn thấy phong thư của chính mình trên bàn của một kẻ khác là nhận ra những hành vi bị chia cắt và trở nên xa lạ nhanh chóng như thế nào. Rồi cuối cùng sức mạnh để thoát khỏi cơ thể của tâm trí trở nên rõ ràng, và có lẽ chúng ta e sợ, chán ghét, hoặc mong muốn hủy diệt cái bóng ma này của chính chúng ta, đang nằm trên bàn. Tuy nhiên, có những lá thư chỉ đơn giản nói rằng bữa ăn tối vào lúc bảy giờ; những lá khác đặt mua than; đề xuất một cuộc hẹn. Hầu như có thể cảm nhận được bàn tay bên trong chúng, chưa kể tới giọng nói hay cái quắc mắt. Ái chà, nhưng khi nhân viên bưu điện gõ cửa và lá thư tới, dường như phép mầu luôn lặp lại - lời lẽ cố cất tiếng. Những lá thư thật thiêng liêng, can trường cực độ, bị bỏ rơi và đánh mất.
Cuộc sống sẽ tan rã thành từng mảnh nếu không có chúng. “Tới uống trà, tới dùng bữa, sự thật của câu chuyện là gì? anh có nghe tin tức chưa? Cuộc sống ở thủ đô thì vui; những vũ công người Nga...” Đây là những cột trụ chống đỡ của chúng ta. Chúng buộc chặt những ngày của chúng ta vào nhau và tạo ra từ cuộc sống một địa cầu hoàn hảo. Và thế nhưng, và thế nhưng... khi chúng ta đi ăn tối, khi ấn ngón tay lên con tem với hy vọng sẽ sớm gặp nhau ở đâu đó, một mối hồ nghi tự dấy lên một cách âm thầm; đây có phải là cách sử dụng những ngày của chúng ta không? sự hiếm hoi, sự giới hạn, rất chóng chia đều cho chúng ta - Uống trà? Ăn tối ở ngoài? Và những lá thư chất đống. Và điện thoại reo. Và ở mọi nơi chúng ta tới những sợi dây kim loại và những cái ống vây quanh chúng ta để chuyên chở những giọng nói vốn cố tỏa lan trước khi tấm danh thiếp cuối cùng được phát và những ngày kết thúc. “Cố lan tỏa”, bởi khi chúng ta nâng cốc, bắt tay, thể hiện niềm hy vọng, một thứ gì đó thì thầm, “Đây có phải là tất cả? Có thể tôi không bao giờ biết, chia sẻ, chắc chắn, phải không? Có phải tôi chịu số phận suốt đời viết những lá thư, gửi đi những giọng nói, vốn rơi lên bàn trà, nhòa dần trên đường vận chuyển, sắp xếp cuộc gặp mặt, trong lúc cuộc đời teo rúm lại, để tới và ăn tối? Thế nhưng những lá thư thì thiêng liêng; và điện thoại thì quả cảm, bởi hành trình của nó là một hành trình đơn độc, và nếu được ràng buộc với nhau bởi những lá thư và những cú điện thoại chúng ta sẽ trở thành bè bạn, có lẽ - Ai biết được? - Chúng ta có thể trò chuyện bằng cách đó.”
Vâng, mọi người đã thử. Byron đã viết những lá thư. Cowper cũng thế. Suốt nhiều thế kỷ cái bàn viết đã chứa đựng những tờ giấy thích hợp một cách chính xác với sự liên lạc giữa những người bạn. Những bậc thầy ngôn ngữ, những thi sĩ của muôn đời, đã chuyển từ tờ giấy lâu bền sang tờ giấy chóng hỏng, đẩy khay trà sang một bên, nhích tới gần lò sưởi (bởi những lá thư được viết khi bóng tối áp chặt quanh một hang động sáng ngời, đỏ rực), và tập trung toàn bộ sự chú ý vào công việc vươn tới, tiếp xúc, thâm nhập vào quả tim cá thể. Nó có thể hay sao! Nhưng ngôn từ đã được sử dụng quá thường xuyên; chạm vào rồi quay đi, và bị bỏ mặc cho phơi trần với bụi đường. Những từ chúng ta tìm kiếm treo sát vào cái cây đó. Chúng ta tới lúc bình minh và tìm thấy chúng êm ái nằm bên dưới chiếc lá.
Bà Flanders viết những lá thư; bà Jarvis viết chúng; cả bà Durrant nữa; Mẹ Stuart thật sự ướp nước hoa những trang thư của mình, do đó đã bổ sung thêm một hương vị mà tiếng Anh không thể cung cấp; Jacob đã viết trong ngày làm việc những lá thư dài về nghệ thuật, đạo đức, và chính trị cho những thanh niên ở trường đại học. Những lá thư của Clara Durrant giống như những lá thư của một đứa trẻ; còn Florinda thì sao? - Trở ngại giữa Florinda và cây bút của nàng là một thứ gì đó không thể vượt qua. Hãy hình dung một con bướm, muỗi mắt, hoặc bất cứ con côn trùng có cánh nào khác, bị dán vào một cái que, và do bị bùn cản trở, nó lăn tròn qua một trang giấy. Khả năng viết đúng chính tả của nàng rất tệ. Những tình cảm của nàng thật trẻ con. Và vì lý do nào đó, khi nàng viết nàng tuyên bố niềm tin vào Chúa Trời của mình. Rồi những cử chỉ làm dấu thánh giá - mắt rướm lệ; và bản thân bàn tay viết lan man và chỉ được bù đắp lại bởi thực tế - vốn luôn luôn bù đắp cho Florinda - rằng nàng quan tâm. Vâng, dù là vì kem sô cô la, vì những lần tắm nước nóng, hay vì hình dáng gương mặt của nàng trong gương, Florinda không thể giả vờ một cảm giác nào khác ngoài cảm giác nuốt rượu whisky. Nàng cự tuyệt sự hoang dâm vô độ. Những người đàn ông vĩ đại thì chân thật, và những cô gái điếm nhỏ này, khi nhìn đăm đăm vào lò sưởi, lấy ra một cái nùi bông thoa phấn, trang trí đôi môi chỉ cách tấm gương một in-sơ, có một sự trung thực bất khả xâm phạm (Jacob nghĩ như thế).
Thế rồi anh nhìn thấy nàng đang ngoặt lên phố Greek trên cánh tay của một gã đàn ông.
Ánh sáng từ ngọn đèn đường trùm lên anh từ đầu tới chân. Anh đứng lặng một phút bên dưới nó. Những cái bóng kẻ ô ngang dọc trên con đường. Những nhân vật khác, lẻ loi và có đôi có cặp, ùa ra, lũ lượt băng ngang, và che khuất Florinda cùng gã đàn ông đó.
Ánh sáng từ ngọn đèn đường trùm lên anh từ đầu tới chân. Bạn có thể nhìn thấy những hoa văn trên quần của anh; những cái gai cũ trên chiếc gậy của anh; những sợi dây giày của anh; hai bàn tay để trần; và gương mặt.
Như thể một tảng đá bị nghiền thành bụi; như thể những tia lửa trắng bay ra từ một hòn đá mài xám; như thể con đường sắt với những cua quẹo gắt, sau khi nhào xuống những chiều sâu, cứ rơi, rơi, rơi mãi. Con đường sắt này nằm trên gương mặt của anh.
Chúng ta có biết cái gì diễn ra trong đầu anh hay không là một câu hỏi khác. Cứ cho là mười năm hơn tuổi và một khác biệt về giới tính, nỗi e sợ đối với anh tới đầu tiên[3]; cảm giác này bị lấn áp bởi một ước ao muốn giúp đỡ - cảm giác áp đảo, lý trí, và thời điểm của đêm; sự tức giận nối tiếp ngay sau đó - với Florinda, với định mệnh, và rồi một sự lạc quan vô trách nhiệm nổi lên. “Chắc chắn có đủ ánh sáng trên đường vào thời điểm này để nhấn chìm mọi mối quan tâm của chúng ta trong vàng!” Chà, nói vậy thì có ích gì? Thậm chí trong lúc bạn nói và ngoái nhìn về phía đại lộ Shaftesbury, định mệnh đang khoét một vết thương sâu trong hồn Jacob. Anh phải quay đi. Còn về việc theo anh quay lại những căn phòng của anh, không - chúng ta không làm điều đó.
Thế nhưng, tất nhiên, đó chính xác là điều người ta thực hiện. Anh bước vào và đóng cửa, dù một trong những cái đồng hồ thành phố chỉ mới điểm mười giờ. Không ai có thể lên giường lúc mười giờ. Đang là tháng Giêng và bầu trời u ám, nhưng bà Wagg đứng trên bậc cửa, như thể đang mong đợi điều gì đó xảy ra. Một chiếc đàn thùng chơi như một con họa mi hót gọi bạn tình bên dưới những chiếc lá ướt. Lũ trẻ con chạy ngang qua đường. Đây đó, người ta có thể nhìn thấy màu ván nâu bên trong cửa sảnh... Hành khúc mà tâm trí lưu giữ bên dưới cửa sổ của những kẻ khác khá lạ lùng. Lúc bị làm cho xao lãng bởi màu ván nâu; lúc bởi một cây dương xỉ trong một cái chậu; lúc ứng tác vài vũ điệu để nhảy với cái đàn thùng; một lần nữa vồ lấy niềm vui vô tư lự của một người say; rồi hoàn toàn chìm đắm vào những từ mà những người nghèo hét toáng với nhau ngang qua con đường (rất thẳng thừng, rất mạnh mẽ) - thế nhưng trong suốt thời gian là trung tâm, là sức hút, một chàng trai vẫn đơn độc trong căn phòng của mình.
“Cuộc đời thật xấu xa - cuộc đời thật đáng ghét,” Rose Shaw kêu lên.
Điều lạ lùng ở cuộc đời là dù bản chất của nó ắt hẳn phải hiển nhiên với mọi người trong nhiều trăm năm, không ai để lại bất kỳ lý giải tương xứng nào về nó. Những đường phố của London có bản đồ của chúng; nhưng những đam mê của chúng ta chưa được ghi trên bản đồ. Bạn sẽ gặp cái gì nếu bạn quẹo ở góc phố này?
“Holborn thẳng ngay trước mặt anh,” viên cảnh sát nói. À, nhưng bạn đang đi đâu nếu thay vì lướt nhanh qua ông lão với bộ râu trắng, tấm huy chương bạc, và cây đàn vĩ cầm rẻ tiền, bạn cho phép ông ta tiếp tục câu chuyện của mình, vốn kết thúc bằng một lời mời bạn cất bước tới một nơi nào đó, căn phòng của ông ta chẳng hạn, ở mé ngoài Quảng trường Queen, và ở đó ông ta khoe với bạn một bộ sưu tập trứng chim và một lá thư từ viên thư ký của Hoàng tử xứ Wales, và sự kiện này (bỏ qua những giai đoạn trung gian), vào một ngày mùa đông nọ, đưa bạn tới bờ biển Essex, nơi con thuyền nhỏ nhanh chóng tiến về phía con tàu, và con tàu lướt đi và bạn nhìn thấy trên đường chân trời quần đảo Azores; và những con chim hồng hạc bay lên; và ở đó bạn ngồi trên bờ đầm lầy uống rum-punch, một kẻ bị loại bỏ khỏi nền văn minh, bởi bạn đã thực hiện một tội lỗi, có thể bị nhiễm hoặc không nhiễm bệnh sốt vàng da, và... - bạn cứ tùy ý điền thêm vào bản phác thảo. Thông thường, những góc phố ở Holborn cũng là những vực thẳm trên con đường của chúng ta. Thế nhưng chúng ta vẫn thẳng tiến.
Rose Shaw, khi trò chuyện theo một cách thức khá tình cảm với ông Bowley trong bữa tiệc chiều ở nhà bà Durrant trước đó vài đêm, đã bảo rằng cuộc đời thật xấu xa vì một người đàn ông tên Jimmy đã từ chối cưới một phụ nữ tên Helen Aitken (nếu trí nhớ cho phép).
Cả hai đều xinh đẹp. Cả hai đều nhạt nhẽo. Cái bàn trà hình bầu dục lúc nào cũng phân cách họ, và đĩa bánh quy là tất cả những gì anh ta đưa cho cô ta. Anh ta cúi chào; cô ta nghiêng đầu. Họ khiêu vũ. Anh ta nhảy hay tuyệt. Họ ngồi trong góc phòng; không lời nào được thốt lên. Cái gối của cô ta ướt đẫm nước mắt. Ông Bowley tốt bụng và Rose Shaw thân mến rất kinh ngạc và lấy làm tiếc. Ông Bowley có những căn phòng ở Albany[4]. Rose được tái sinh mỗi tối, chính xác khi đồng hồ điểm tám giờ. Cả bốn người là những thắng lợi của nền văn minh, và nếu bạn khăng khăng rằng sự thông thạo tiếng Anh là một phần của di sản của chúng ta, người ta chỉ có thể đáp rằng vẻ đẹp hầu như luôn luôn câm nín. Vẻ đẹp của giống đực liên kết với vẻ đẹp của giống cái gây ra trong lòng kẻ quan sát một cảm giác sợ hãi. Tôi thường nhìn thấy họ - Helen và Jimmy - và so sánh họ với những con tàu lênh đênh trôi giạt, và lo sợ cho cái nghề hèn mọn của chính mình. Hoặc xin hỏi có khi nào bạn quan sát những con chó côli xinh đẹp nằm ngẩng đầu cách bạn hai mươi thước hay chăng? Khi cô ta chuyền cái cốc cho anh ta có sự rung động đó ở sườn của cô ta. Bowley nhìn thấy chuyện gì đang diễn ra, và đề nghị Jimy đi ăn sáng. Helen phải tin vào Rose. Về phần mình, tôi thấy cực kỳ khó khăn trong việc diễn dịch những bài ca mà không dùng tới ngôn từ. Và hiện giờ Jimmy nuôi quạ ở Flanders và Helen tới thăm những bệnh viện. Chao ôi, cuộc đời thật đáng nguyền rủa, cuộc đời thật xấu xa, như Rose Shaw đã nói.
Những ngọn đèn dầu của London nâng bóng tối lên, như thể nó nằm trên mũi nhọn của những lưỡi lê đang cháy. Cái mái vòm màu vàng chìm xuống và phình to[5] bên trên cái giường bốn cọc. Những hành khách trong cỗ xe ngựa chở thư chạy vào London trong thế kỷ mười tám nhìn qua những nhánh cây trụi lá và thấy nó bừng sáng bên dưới họ. Ánh sáng cháy bùng lên phía sau những tấm màn che màu vàng và hồng, và bên trên những cửa sổ hình bán nguyệt, và ở phía dưới, trong những cửa sổ tầng hầm. Con phố chợ ở Soho rực rỡ ánh đèn. Thịt tươi, những cái ly bằng sứ và những đôi tất lụa bừng sáng bên trong nó. Những giọng nói thô lỗ tự quấn lấy chúng quanh những đầu mỏ hàn lóe sáng. Tay chống nạnh, họ đứng trên vệ đường cất tiếng oang oang - các ông Kettle và Wilkinson; vợ họ ngồi trong tiệm, khăn lông thú quấn quanh cổ, tay khoanh lại, đôi mắt khinh khỉnh. Người ta nhìn thấy những gương mặt như thế. Người đàn ông nhỏ bé đang sờ thử miếng thịt hẳn đã ngồi xổm trước lò sưởi trong vô số căn nhà cho thuê, nghe, thấy và biết nhiều đến độ dường như điều đó tự thốt lên một cách đều đều liến thoắng từ đôi mắt tối, đôi môi trễ, trong lúc ông ta lặng lẽ sờ thử miếng thịt, gương mặt ông ta buồn như mặt của một nhà thơ, và không bao giờ một bài ca được cất lên. Những người phụ nữ quấn khăn choàng bế những em bé với mí mắt tím; những cậu bé đứng ở các góc phố; những cô gái nhìn qua bên kia đường - những minh họa, những hình ảnh thô kệch trong một cuốn sách mà các trang của nó chúng ta cứ lật tới lật lui như thể cuối cùng chúng ta sẽ tìm thấy thứ chúng ta tìm kiếm. Mọi gương mặt, mọi quán xá, cửa sổ phòng ngủ, tửu quán, và quảng trường tối tăm là một bức tranh hối hả xoay tròn - để tìm kiếm điều gì? Với những cuốn sách cũng y hệt thế. Chúng ta tìm kiếm thứ gì qua hàng triệu trang sách? vẫn còn lật những trang một cách hy vọng - Ồ, đây là căn phòng của Jacob.
Anh đang ngồi ở bàn đọc tờ Globe. Tờ giấy hồng hồng trải ra bằng phẳng trước mặt anh. Anh đưa tay đỡ lấy gương mặt, khiến lớp da ở gò má nhăn lại những đường sâu. Trông anh khắc khổ kinh khủng, nghiêm nghị, thách thức. (Mọi người đã trải qua biết bao sự kiện trong nửa giờ! Nhưng không gì có thể cứu anh. Những sự kiện này là những nét đặc trưng trong bối cảnh xã hội của chúng ta. Cũng như một người nước ngoài tới London không thể không nhìn thấy nhà thờ St. Paul.) Anh phán xét cuộc đời. Những tờ báo hồng hồng và xanh xanh này là những lớp gelatine mỏng được ép hằng đêm lên bộ não và quả tim của thế giới. Chúng tạo nên ấn tượng về toàn thể. Jacob dán mắt lên nó. Một cuộc đình công, một vụ giết người, bóng đá, tìm thấy những thi thể; sự om xòm huyên náo từ mọi vùng miền của nước Anh cùng một lúc. Thật bất hạnh là tờ nhật báo Globe không cung cấp thứ gì tốt đẹp hơn cho Jacob Flanders! Khi một đứa trẻ bắt đầu đọc lịch sử, người ta kinh ngạc, buồn rầu khi nghe nó đánh vần với giọng mới mẻ của nó những từ xưa cũ.
Bài diễn văn của Thủ tướng được tường thuật trong hơn năm cột báo. Jacob sờ soạng rồi móc ra từ trong túi cái ống vố và bắt đầu nhồi thuốc. Năm phút, mười phút, mười lăm phút trôi qua. Jacob cầm tờ báo tới gần lò sưởi. Thủ tướng đề xuất một giải pháp về việc trao quyền tự trị cho Ái Nhĩ Lan. Jacob gõ tàn thuốc trong tẩu ra. Tất nhiên anh đang suy nghĩ về quyền tự trị ở Ái Nhĩ Lan - một vấn đề rất khó khăn. Một đêm rất lạnh.
Tuyết đã rơi suốt đêm qua, và vào ba giờ chiều phủ kín những cánh đồng và ngọn đồi. Những bụi cỏ héo nhú lên bên trên đỉnh đồi; những bụi kim tước đen kịt, và thi thoảng một cú rùng mình màu đen lướt qua mặt tuyết khi gió lùa những trận mưa tuyết. Âm thanh nghe như tiếng chổi kéo lê soàn soạt - soàn soạt.
Dòng suối âm thầm chảy cạnh con đường không ai nhìn thấy. Nhánh con và lá cây vướng vào cỏ đóng băng. Bầu trời xám trĩu nặng và cây cối đen màu sắt. Không thỏa hiệp, đó là tính chất khắc nghiệt của đất nước này. Lúc bốn giờ, tuyết lại rơi. Ngày đã tàn.
Một cửa sổ vàng phai bề ngang khoảng sáu tấc một mình chống chọi với những cánh đồng trắng và những cây đen... Lúc sáu giờ xuất hiện hình dáng một người đàn ông cầm đèn lồng băng qua cánh đồng... Một đống nhánh con nằm trên một tảng đá đột nhiên tách rời ra và trôi lềnh bềnh vào cống nước... Một mảng tuyết trượt xuống từ một cành linh sam... Sau đó có một tiếng khóc thê lương... Một chiếc ô tô chạy trên đường xô đẩy bóng tối phía trước nó... Bóng tối khép lại phía sau nó...
Những không gian hoàn toàn bất động chia cắt từng chuyển động trong số đó. Vùng đất dường như nằm chết lịm... Rồi một người chăn cừu già mệt nhọc quay về ngang cánh đồng. Cứng đờ và đau đớn, mặt đất bên dưới bị giẫm lên và tạo sức ép xuống bên dưới như một cối xay guồng. Tiếng gõ mỏi mòn của những chiếc đồng hồ lặp lại thực tế của giờ khắc suốt đêm dài.
Jacob cũng nghe thấy chúng, và cào củi trong lò sưởi ra. Anh đứng lên. Anh vươn vai. Anh đi ngủ.
❀ ❀ ❀
[1] Tên gốc là Star and Evening Advertiser: một tờ nhật báo buổi chiều của London, thành lập vào ngày 3/5/1788; cũng là tờ nhật báo buổi chiều đầu tiên trên thế giới. Các đồng sáng lập của tờ báo gồm có John Murray and William Lane.
[2] Tên các giống gà.
[3] Đoạn trích dẫn sau có thể giúp độc giả hiểu rõ hơn về đoạn văn này: Tuy nhiên, tác động của sự e sợ không giới hạn ở những người phụ nữ lớn tuổi, yếu đuối; người thuật chuyện cũng trở thành con mồi của nó. Sau khi Jacob bị Florinda phụ tình, người thuật chuyện không thể hiểu phản ứng của anh: ‘Cứ cho là mười năm hơn tuổi và một khác biệt về giới tính, nỗi e sợ đối với anh tới đầu tiên; cảm giác này bị lấn áp bởi một ước ao muốn giúp đỡ’. Từ đó chúng ta biết rằng người thuật chuyện vào khoảng ba mươi lăm tuổi - nhưng số tuổi nhiều hơn của bà không có ý nghĩa gì trong phạm vi cân bằng quyền lực trong bất kỳ tương tác nào với Jacob, vì bà cũng là một phụ nữ. Giống như bà Norman (xem lại Chương Ba - Chú thích của ND) phản ứng ban đầu của người thuật chuyện là sự e sợ.” (Trích tiểu luận The Characterization of Gender-Malaise: Gazing up the at the Windows of Jacobs Room của Jane Archer; trang 38, trong tuyển tập Gender Studies - New Directions in Feminist Criticism, do Judith Spector biên soạn).
[4] Tòa nhà Albany trên phố Piccadilly, nơi có những căn phòng dành cho người độc thân. Có nhiều người nổi tiếng từng sống trong tòa nhà này, bao gồm Byron, Lytton và Macaulay.
[5] Sương mù pha lẫn khói ở London. Việc sử dụng khí độc trong Thế chiến I cũng có thể được ám chỉ trong câu này; đó là một loại khí hạ thấp xuống như một vầng mây màu vàng-lục, được nêu ra trong bài thơ Dulce at Decorum Est của Winferd Owen, viết năm 1917 và xuất bản sau khi ông chết năm 1920: “Gas! Gas! Quick, boys! - An ectasy offumbling”. Theo hiện tượng đã được chứng kiến, có thể đây là khí clo hoặc phosgene. Loại khí này khiến phổi chứa đầy nước như tình trạng của một người chết đuối. “Dulce at Decorum Est” là phần đầu trong một câu thành ngữ Latin có nghĩa là “Chết cho đất nước mình là một điều ngọt ngào và đúng đắn.”