Căn Phòng Của Jacob

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Một

❊ ❊ ❊

“Vậy dĩ nhiên,” Betty Flanders viết, ấn đôi gót chân sâu hơn vào lớp cát, “là không còn cách gì khác ngoài việc ra đi.”

Chậm chạp tuôn ra từ đầu ngòi bút bằng vàng, giọt mực xanh tan ra thành dấu chấm hết; vì cây bút của bà mắc kẹt tại đó; đôi mắt bà bất động, và những giọt lệ chậm rãi phủ đầy chúng. Toàn thể cái vịnh nhạt nhòa; ngọn hải đăng chao đảo; và bà có ảo giác rằng cái cột buồm trên chiếc du thuyền nhỏ của Connor đang cong lại như một cây nến dưới ánh mặt trời. Bà chớp mắt nhanh. Những tai nạn thật đáng sợ. Bà chớp mắt lần nữa. Cây cột buồm thẳng tắp; những lượn sóng vỗ đều; ngọn hải đăng đứng thẳng; nhưng vết thẫm đã lan rộng.

“...không còn cách gì khác ngoài việc ra đi,” bà đọc.

“Chà, nếu Jacob không muốn chơi đùa” (bóng của Archer, con trai cả của bà, đổ ngang qua tờ giấy viết thư và trông như có màu xanh trên mặt cát, và bà thấy lạnh - đã mồng ba tháng Chín rồi), “nếu Jacob không muốn chơi đùa” - đúng là một vết thẫm kinh khủng! Bóng chiều hẳn đang sụp xuống.

“Thằng bé buồn chán đó ở đâu?” Bà nói. “Mẹ không nhìn thấy nó. Hãy chạy đi tìm nó. Bảo nó tới ngay.” “...nhưng trời đất khoan dung, bà viết, làm ngơ dấu chấm hết, “mọi thứ dường như đã được sắp xếp, đóng gói một cách ổn thỏa dù chúng tôi giống như những con cá trích trong một cái thùng, và buộc phải mang theo cái xe đẩy trẻ con mà bà chủ nhà trọ sẽ không cho phép, cũng hoàn toàn tự nhiên thôi...”

Những lá thư Betty Flanders viết cho Thuyền trưởng Barfoot đều vậy cả - nhiều trang, hoen ố nước mắt. Scarborough cách Cornwall bảy trăm dặm: Thuyền trưởng Barfoot đang ở Scarborough: Seabrook đã chết. Những giọt lệ khiến mọi bông thược dược trong vườn rập rình trong những làn sóng đỏ, rọi sáng cái nhà kính trong mắt bà, dát những con dao lấp lánh lên căn bếp, và khiến cho bà Jarvis, vợ của ông mục sư, suy nghĩ ở nhà thờ, trong lúc bản thánh ca đang được tấu và bà Flanders đang khom thấp người trên đầu của đứa con trai bé bỏng, rằng hôn nhân là một pháo đài và những cô vợ góa đi lạc một mình trong những cánh đồng, nhặt những hòn đá, lượm lặt vài sợi rơm vàng, những tạo vật cô độc, khốn khổ, không ai bảo vệ.[1] Bà Flanders đã góa chồng hai năm rồi.

“Ja---cob! Ja---cob!” Archer gọi to.

“Scarborough,” bà Flanders viết lên phong bì, và gạch một đường đậm bên dưới nó; đó là thị trấn quê hương bà; trung tâm của vũ trụ. Nhưng một con tem? Bà lục lọi trong túi xách; rồi dốc ngược miệng túi lại; rồi mò mẫm trong vạt áo, tất cả những cử động này đều mạnh mẽ đến độ Charles Steele, với một cái mũ Panama[2] trên đầu, phải dừng cọ lại.

Cây cọ run rẩy như những cái râu của một con côn trùng đang tức giận. Lúc này người phụ nữ đang cử động - thật sự sắp sửa đứng lên - chết tiệt thật! Ông quẹt nhanh lên tấm toan một nhát cọ tím thẫm. Bởi phong cảnh cần tới nó. Nó quá nhợt nhạt - những sắc xám chảy lan thành những sắc xanh hoa oải hương, và một vì sao hoặc một con hải âu trắng cũng được treo lên bức tranh theo cách đó - quá nhợt nhạt như thường lệ. Những tay phê bình sẽ bảo rằng nó quá nhợt nhạt, vì ông là một kẻ vô danh, trưng bày tranh một cách mờ nhạt, một người được các đứa con của những bà chủ nhà trọ ưa thích, đeo một cây thánh giá trên sợi dây đồng hồ, và rất vui sướng nếu các bà chủ nhà trọ thích những bức tranh của ông - thường thì họ thích.

“Ja—cob! Ja---cob!” Archer hét lên.

Bực mình vì sự ồn ào, nhưng lại yêu trẻ con, Steele bồn chồn chọn những ô màu tối trên bảng màu.

“Tôi đã thấy em cháu - Tôi đã thấy em cháu,” ông nói, gật đầu, khi Archer đi ngang qua ông, kéo lê cái xẻng, và cau có nhìn ông già đeo kính.

“Ở đằng kia - cạnh tảng đá,” Steele lúng búng nói, với cây cọ giữa hai hàm răng, vắt ra chất sơn nâu nhạt, và dán mắt vào lưng của Betty Flanders.

“Ja---cob! Ja---cob!” Archer hét lớn, bước tiếp sau một giây.

Giọng kêu chứa đựng một nỗi buồn khác thường. Tinh nguyên từ toàn bộ cơ thể, tinh nguyên từ toàn bộ cảm xúc, thoát ra thế giới, đơn độc, không được đáp lại, đập vào những tảng đá - nghe nó có vẻ thế.

Steele cau mày; nhưng hài lòng với hiệu quả của màu đen - chính sắc độ đó gắn kết các sắc độ còn lại với nhau. “Chà, người ta có thể học vẽ ở tuổi năm mươi! Có Titian...[3]” và thế là, sau khi tìm được màu sắc đúng, ông ngẩng lên và hốt hoảng khi nhìn thấy một đám mây bên trên vịnh.

Bà Flanders đứng lên, vỗ vào phía này phía khác của chiếc áo khoác cho cát rơi xuống, và nhặt cái ô màu đen lên.

Đó là một trong những tảng đá to thuần một màu nâu, hay đúng hơn là màu đen, nhô lên từ mặt cát như một thứ gì đó nguyên sơ. Xù xì với những cái vỏ sên biển nhăn nheo và vướng rải rác những chùm tảo biển khô, một đứa bé trai phải dang rộng hai chân, và thật sự cảm thấy mình khá là quả cảm, trước khi trèo lên tới đỉnh của nó.

Nhưng ở đó, trên đỉnh tảng đá, là một chỗ trũng chứa đầy nước, với một lớp cát ở dưới đáy, một đốm giống như thạch dính vào một phía, và vài con trai. Một con cá vọt ngang qua. Chùm rong biển nâu vàng vung vẩy, và để lộ ra một con cua có vỏ óng ánh như ngọc mắt mèo. “Ồ, một con cua to,” Jacob lẩm bẩm - và bắt đầu cuộc hành trình trên đôi chân yếu ớt trên lớp cát dưới đáy. Nào! Jacob thọc tay xuống. Con cua mát rượi và rất nhẹ. Nhưng nước thì đặc những cát, thế nên, từ tư thế bò, Jacob chuẩn bị nhảy, giữ cái xô ở phía trước, khi nó nhìn thấy, nằm dài cạnh nhau và hoàn toàn cứng đơ, với gương mặt rất đỏ, là một người đàn ông và một phụ nữ to lớn.

Người đàn ông và người phụ nữ to lớn (hôm đó là ngày các cửa tiệm đóng cửa sớm) đang nằm dài bất động cạnh nhau, đầu gối lên những chiếc khăn tay bỏ túi, cách bờ biển vài bộ, trong khi hai hoặc ba con hải âu men theo những lượn sóng đang ập vào, và dừng lại gần những chiếc ủng của họ.

Hai bộ mặt to màu đỏ nằm trên những chiếc khăn tay sọc vuông nhìn Jacob chằm chặp. Nó cũng nhìn họ chằm chặp. Rất cẩn thận giữ chặt cái xô, Jacob khoan thai nhảy ra xa và chạy chầm chậm với vẻ thờ ơ vào lúc đầu, nhưng mỗi lúc một nhanh hơn khi những lượn sóng màu kem ập vào nó và nó phải chạy quanh quẹo để tránh chúng; lũ hải âu đứng lên trước mặt nó, bơi ra biển và dừng lại, cách xa hơn một chút. Một phụ nữ to lớn màu đen đang ngồi trên cát. Nó chạy về phía bà ta.

“Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Nó kêu lên, nức nở thốt lên những từ này trên đỉnh của mỗi hơi thở hổn hển.

Những lượn sóng vỗ quanh bà ta. Bà ta là một tảng đá. Bà ta bị che phủ bởi lớp rong biển phát ra tiếng lốp bốp khi bị sóng ép lên. Nó đã đi lạc.

Nó đứng đó. Mặt nó đanh lại. Nó sắp sửa gào lên thì nhìn thấy một cái sọ nằm giữa những nhánh cây đen và lớp rơm bên trên vách đá - có lẽ là sọ của một con bò; một cái sọ với hai hàm răng bên trong, có lẽ. Nức nở, nhưng đãng trí, nó chạy càng lúc càng xa cho tới khi ôm được cái sọ trong tay.

“Nó kia rồi!” Bà Flanders kêu lên, vòng qua tảng đá và đi hết khoảng cách trên bãi biển trong vòng vài giây. “Nó đang ôm gì vậy chứ? Đặt nó xuống, Jacob! Buông nó xuống ngay! Một thứ kinh khủng, mẹ biết. Sao con không ở đây với chúng ta? Thằng bé hư! Nào, đặt nó xuống. Và con nữa, tới đây,” bà xoay người, giữ Archer với một tay và đưa tay kia chụp lấy cánh tay của Jacob. Nhưng nó khom xuống và nhặt cái hàm bị sút khỏi cái sọ cừu lên.

Vừa đung đưa cái túi xách và giữ chặt cái ô, cầm tay của Archer và kể câu chuyện về vụ nổ thuốc súng mà trong đó ông Curnow tội nghiệp đã mất đi một mắt, bà Flanders vừa vội vã đi ngược con đường dốc, luôn ý thức trong thâm tâm về một sự bất an đã vùi chôn nào đó.

Cái sọ cừu mất quai hàm nằm trên bãi cát, không xa đôi tình nhân mấy. Sạch, trắng, bị gió dồi cát dập, không nơi nào trên bờ biển Cornwall có một mảnh xương tinh khiết hơn thế. Cây nhựa ruồi biển[4] sẽ mọc qua hai hốc mắt; nó sẽ biến thành bột, hoặc một tay chơi gôn nào đó, khi đánh quả bóng vào một ngày đẹp trời, sẽ làm tung lên một đám bụi nhỏ - Không, nhưng không phải trong nhà trọ, bà Flanders nghĩ. Đó là một thử nghiệm đi quá xa với lũ trẻ con. Không có đàn ông để giúp với chiếc xe đẩy trẻ con. Và Jacob là một đứa bé khó bảo; đã cứng đầu cứng cổ từ lâu.

“Hãy quẳng nó đi, con yêu,” bà nói, khi họ bước vào con đường lộ; nhưng Jacob né ra xa bà; và gió đang nổi lên, bà rút cây kim gút cài nón ra, nhìn xuống biển và cài nó lại. Gió đang nổi lên. Những lượn sóng biểu lộ sự bứt rứt đó, như một vật sống động, bồn chồn, đang mong đợi nhát roi, như những lượn sóng trước một cơn bão. Những chiếc thuyền đánh cá nghiêng ngả trên mặt nước. Một luồng ánh sáng vàng nhợt nhạt băng qua mặt biển tím; rồi tắt ngóm. Ngọn hải đăng đã được thắp lên. “Đi thôi,” Betty Flanders nói. Mặt trời rọi vào mặt họ và mạ vàng lên những trái mâm xôi lớn run rẩy ló ra từ bờ giậu mà Archer cố hái khi họ đi ngang qua.

“Đừng lề mề, hai đứa. Các con không thay đổi tật đó chút nào hết,” Betty nói, kéo chúng đi, và nhìn với cảm giác khó chịu vào mặt đất hiện ra quá kinh khủng, với những tia sáng đột ngột từ những ngôi nhà kính trong các khu vườn, với một khuynh hướng thay đổi giữa màu vàng và màu đen, nổi lên trên ánh hoàng hôn chói chang này, sức sống và trạng thái trộn lẫn lạ lùng này của màu sắc; nó khuấy động lòng bà, khiến bà nghĩ tới trách nhiệm và nguy cơ. Bà nắm chặt bàn tay của Archer. Bà nặng nề đi ngược lên đồi. “Mẹ đã yêu cầu con ghi nhớ điều gì nhỉ?” bà hỏi.

“Con không biết,” Archer đáp.

“Ờ, mẹ cũng không biết,” Betty nói, vui vẻ và đơn giản, và ai sẽ phủ nhận sự trống rỗng này của tâm trí, khi kết hợp với sự phong phú, sự dí dỏm của người mẹ, những câu chuyện của các bà vợ già, những cung cách ngẫu nhiên, những khoảnh khắc liều lĩnh lạ lùng, đầu óc hóm hỉnh và sự đa cảm - ai sẽ phủ nhận rằng trong những phương diện này mọi phụ nữ đều thú vị hơn bất cứ người đàn ông nào?

Vâng, Betty Flanders cũng thế.

Bà đặt tay lên cổng vườn.

“Miếng thịt!” Bà kêu lên, giật cái then cổng xuống.

Bà đã bỏ quên miếng thịt.

Có Rebecca ở cửa sổ.

Tình trạng nghèo nàn xơ xác trong căn phòng trước của bà Pearce lộ rõ vào lúc mười giờ tối, khi một cái đèn dầu tỏa sáng giữa bàn. Ánh đèn hắt vào vườn; cắt ngang qua bãi cỏ; soi sáng một cái xô trẻ con, một bụi cúc tím và vươn tới bờ giậu. Bà Flanders đã bỏ lại mớ đồ may vá của mình trên bàn. Có những cuộn chỉ trắng lớn và đôi kính đeo mắt của bà; cái hộp đựng kim; cuộn len nâu quấn quanh một tấm bưu thiếp cũ. Có những nhánh hương bồ và những tờ tạp chí Strand[5]; và lớp vải sơn lót sàn vương vãi cát từ những chiếc ủng của hai đứa bé. Một con nhện chân dài phóng từ góc này sang góc kia và va vào cái chao đèn. Gió thổi những làn mưa thẳng ngang qua cửa sổ; chúng ánh lên như bạc khi lướt ngang qua ánh sáng. Một chiếc lá đơn độc đập vội vã, dai dẳng vào lớp kính. Có một trận bão ngoài khơi.

Archer không ngủ được.

Bà Flanders cúi xuống. “Hãy nghĩ tới những nàng tiên,” bà nói. “Hãy nghĩ tới những con chim đáng yêu, rất đáng yêu đang nằm trong tổ. Giờ con hãy nhắm mắt lại nhìn thấy chim mẹ già nua với một con sâu trong mỏ. Giờ hãy quay sang và nhắm mắt lại,” bà thì thầm, “và nhắm mắt lại.”

Căn nhà trọ dường như đầy tiếng nước chảy òng ọc, ồ ồ; cái bể chứa nước trên mái nhà đã tràn; nước sủi bọt, rít lên, chạy dọc theo những ống nước và ồ ạt tràn xuống những khung cửa sổ.

“Có phải tất cả những âm thanh đó là tiếng nước chảy?” Archer lẩm bẩm.

“Chỉ là nước trong bồn tắm đang chảy thôi con,” bà Flanders đáp.

Có vật gì đó quật mạnh vào phía ngoài những cánh cửa.

“Mẹ à, con tàu hơi nước đó có chìm không?” Archer hỏi, mở mắt ra.

“Dĩ nhiên là không,” bà Flanders đáp. “Ông thuyền trưởng đã đi ngủ từ lâu. Con hãy nhắm mắt lại và nghĩ tới những nàng tiên đang ngủ say sưa dưới những bông hoa.”

“Tôi nghĩ ông ấy không bao giờ thoát khỏi một trận bão như thế,” bà thì thào với Rebecca, đang nghiêng người bên trên một cây đèn cồn trong căn phòng nhỏ bên cạnh. Gió rít lên bên ngoài, nhưng ánh lửa nhỏ xíu của chiếc đèn cồn vẫn lặng lẽ cháy, được che khỏi cái giường cũi của em bé bởi một cuốn sách dựng đứng.

“Ông ta có giữ vững lòng can đảm của mình không nhỉ?” Bà Flanders thì thầm, và Rebecca gật đầu, rồi bước tới cái giường cũi và kéo tấm chăn xuống; bà Flanders khom xuống và lo âu nhìn em bé, đang ngủ, nhưng cau mày. Cánh cửa sổ rung lên, và Rebecca đi rón rén như một con mèo để chêm nó lại.

Hai người phụ nữ thì thầm với nhau bên trên cái đèn cồn, xếp đặt âm mưu muôn thuở về việc giữ im lặng và cọ rửa những cái chai trong lúc gió gào rú và giật mạnh những cái chốt cửa rẻ tiền.

Cả hai nhìn về phía cái giường cũi. Môi họ mím lại. Bà Flanders bước tới đó.

“Vẫn ngủ chứ?” Rebecca thì thào, nhìn cái giường cũi.

Bà Flanders gật đầu.

“Chúc ngủ ngon, Rebecca,” bà Flanders lẩm bẩm, và Rebecca gọi bà là phu nhân, dù họ là những kẻ âm mưu đang xếp đặt mưu đồ muôn thuở về việc giữ im lặng và cọ rửa những cái chai.

Bà Flanders đã để lại cây đèn đang cháy ở căn phòng phía trước. Có đôi kính, mớ đồ may của bà; và một lá thư với dấu bưu cục Scarborough. Bà cũng không hạ những tấm rèm che cửa sổ xuống.

Ánh đèn lan ra, ngang qua bãi cỏ; rơi lên trên cái xô trẻ con màu lục với một đường viền vàng xung quanh, lên bụi cúc tím đang run rẩy mạnh ở mé bên ngoài cái xô. Bởi gió đang xé ngang bờ biển, lao mình vào những ngọn đồi, và phóng vọt lên, trở thành những cơn gió mạnh đột ngột trên đỉnh lưng của chính nó. Nó trải ra bên trên cái thị trấn trong thung lũng mới ghê gớm làm sao! Những ánh đèn dường như nhấp nháy và run rẩy trong cơn cuồng nộ của nó, những ánh đèn trong các cửa sổ phòng ngủ ở tầng trên! Và vừa cuộn tròn những lượn sóng tối sẫm ở phía trước, nó vừa lướt nhanh qua Đại Tây Dương, giật mạnh những ngôi sao bên trên những con tàu về phía này phía khác.

Có một tiếng lách cách trong phòng khách phía trước. Ông Pearce đã thổi tắt đèn. Khu vườn biến mất. Nó chỉ còn là một khoảnh đen. Mưa rơi trên từng phần của mặt đất. Mưa làm cong oằn từng cọng cỏ. Hẳn là những mí mắt đã bị đóng kín bởi mưa. Khi nằm ngửa, hẳn người ta sẽ không nhìn thấy gì ngoài sự rối rắm và hỗn độn - những đám mây xoay vần liên tục, và thứ gì đó có sắc vàng nhạt như lưu huỳnh trong bóng tối.

Hai thằng bé trong phòng ngủ phía trước đã hất chăn ra và nằm bên dưới những tấm trải giường. Trời oi bức; khá nhớp nháp và ẩm thấp. Archer nằm duỗi thẳng, với một cánh tay vắt ngang qua gối. Nó đỏ mặt; và khi tấm màn cửa bị cuốn ra phía ngoài một chút, nó xoay người lại và hơi mở hé mắt. Cơn gió đang thật sự lay động tấm vải trên cái tủ ngăn, và để lọt vào trong một ánh sáng nhỏ nhoi, để lộ ra cái rìa tủ chạy thẳng lên trên, cho tới khi một hình dáng màu trắng nhô ra; và một vệt màu bạc hiện lên trong tấm gương.

Trên cái giường khác cạnh cửa Jacob đang ngủ, rất say, hoàn toàn vô tri giác. Cái hàm của con cừu với những chiếc răng lớn vàng khè nằm ở dưới chân của nó. Nó đã đạp cái hàm vào sát song sắt của cái giường.

Ở bên ngoài, mưa ào ào như trút nước trong lúc gió lặng lại vào những giờ gần rạng sáng. Bụi cúc tím đã ngã rạp xuống đất. Nước mưa ngập phần nửa cái xô trẻ con; và con cua có lớp vỏ óng ánh chậm chạp bơi quanh đáy xô, cố trèo lên thành xô dốc với những cái chân yếu ớt; cố lần nữa và rơi trở xuống, và lại cố, hết lần này sang lần khác.

❀ ❀ ❀

[1] Bà Jarvis liên tưởng tới Ruth (Sách của Ruth - Kinh Cựu ước), nàng Ruth con dâu đã góa chồng của bà Naomi phải đi theo các thợ gặt để mót lúa.

[2] Loại mũ có xuất xứ từ Ecuador, đan bằng rơm và có vành rộng.

[3] Tiziano Vecellio (1488-1756) họa sĩ nổi tiếng người Ý. Ông bắt đầu một giai đoạn sáng tạo mới ở lứa tuổi năm mươi.

[4] Sea holly (Eryngium maritimum); loài cây thân thảo có hoa màu xanh lơ, thường mọc ở vùng duyên hải châu Âu.

[5] Tờ nguyệt san phổ biến được đặt theo tên của một con đường ở London, do George Newnes sáng lập, bao gồm những truyện ngắn và bài viết về các chủ đề chung. Nó được xuất bản ở Anh từ 1/1891 tới 3/1950, tổng cộng có 711 số; nổi tiếng nhất với những câu chuyện về Sherlock Holmes của nhà văn Conan Doyle.

Người dịch: Nguyễn Thành Nhân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.