“Đang ở giữa mùa,” Bonamy nói.
Ánh nắng đã làm phồng dộp lớp sơn trên lưng những chiếc ghế xanh trong công viên Hyde; lột lớp vỏ của những cây tiêu huyền; biến đất thành bột và làm mịn những hòn sỏi vàng. Công viên Hyde liên tục bị bao quanh bởi những bánh xe lăn.
“Đang vào lúc giữa mùa,” Bonamy nói với vẻ mỉa mai.
Anh mỉa mai là vì Clara Durrant; là vì Jacob đã trở về từ Hy Lạp, rất sạm nắng và gầy, với những cái túi đầy tiền giấy Hy Lạp, mà anh rút ra khi người đàn ông cho thuê ghế tới thu tiền; và vì Jacob cứ lặng thinh.
“Anh ta chẳng nói lời nào để tỏ ra anh ta vui mừng khi gặp mình,” Bonamy cay đắng nghĩ thầm.
Những chiếc ô tô không ngớt băng qua chiếc cầu trên hồ Serpentine; giới sang trọng quý phái bước đi với mái đầu giữ thẳng, hoặc duyên dáng nghiêng mình trên hàng rào; giới bình dân nằm ngửa, co gối lại; đàn cừu bình thản gặm cỏ; đám trẻ con chạy xuống cái dốc cỏ, hai tay dang rộng, và té lăn cù.
“Rất tinh tế,” Jacob nhận xét.
Từ “tinh tế” trên môi của Jacob thể hiện theo một cách bí ẩn nào đó toàn bộ vẻ đẹp của một cá tính mà Bonamy nhận thấy càng ngày càng cao cả, sâu sắc, tuyệt vời hơn, dù Jacob vẫn, và có lẽ sẽ mãi mãi, là một gã man rợ, khó hiểu.
Những thể so sánh cực cấp! Những tính từ! Làm sao có thể miễn trừ cho Bonamy khỏi thứ tình cảm thô tục nhất; khỏi việc bị vùi dập như một cái nút bần trên sóng nước; khỏi việc không có một nhận thức sâu sắc vững vàng đối với tính cách; khỏi việc không được lý trí dẫn dắt, và khỏi việc không tìm được bất cứ niềm an ủi nào từ các tác phẩm Hy-La cổ đại?
“Đỉnh cao của nền văn minh,” Jacob nói.
Anh thích dùng những từ Latin.
Sự cao thượng, đức hạnh - những từ mà Jacob sử dụng khi trò chuyện với Bonamy mang ý nghĩa rằng anh kiểm soát được tình huống; rằng Bonamy chỉ chơi đùa quanh anh như một chú chó spaniel mến chủ; và rằng (có thể có, cũng có thể không) họ sẽ kết thúc bằng cách lăn tròn trên sàn nhà.
“Thế còn Hy Lạp?” Bonamy hỏi. “Đền Parthenon các thứ thì sao?”
“Không có gì liên quan tới chủ nghĩa thần bí châu Âu,” Jacob đáp.
“Tôi cho đó là do bầu không khí,” Bonamy nói. “Và anh có tới Constantinople chứ?”
“Có,” Jacob đáp.
Bonamy dừng câu chuyện, di chuyển một hòn sỏi; rồi bật thốt với tốc độ và sự chuẩn xác của một cái lưỡi thằn lằn.
“Anh đang yêu!” Anh kêu lên.
Jacob đỏ mặt.
Con dao sắc bén nhất cũng không bao giờ cắt sâu đến thế.
Còn về việc trả lời, hoặc đưa ra một giải thích nhỏ nhất về chuyện đó, Jacob chỉ nhìn thẳng về phía trước, đăm đăm, sắt đá.
Ồ, rất đẹp! - như một vị đô đốc hải quân Anh, Bonamy cảm thán trong cơn cuồng nộ, rời khỏi ghế và cất bước; mong đợi một âm thanh nào đó; chẳng có âm thanh nào cả; quá kiêu hãnh để có thể ngoái nhìn lại, anh bước càng lúc càng nhanh cho tới khi nhận ra mình đang nhìn trừng trừng những chiếc ô tô và nguyền rủa những người phụ nữ. Đâu là gương mặt của người đàn bà xinh đẹp đó? Của Clara, của Fanny, của Florinda? Ai là tạo vật nhỏ bé xinh đẹp đó?
Không phải Clara Durrant.
Con chó sục nòi Aberdeen phải được tập luyện, và vì ông Bowley chuẩn bị đi vào đúng lúc đó - ông không thích gì hơn một chuyến đi dạo - họ cùng đi với nhau. Clara và Bowley nhỏ bé tốt bụng - Bowley, kẻ có những căn phòng ở tòa nhà Albany; Bowley, kẻ viết những lá thư cho tờ Times với một giọng văn hài hước về những khách sạn nước ngoài và hiện tượng Bắc cực quang; Bowley, kẻ thích những người trẻ tuổi và thường đi xuống phố Piccadilly với cánh tay phải đặt trên chỗ hõm sau lưng.
“Con quỷ nhỏ!” Clara kêu lên, và móc sợi dây xích vào vòng cổ của Troy.
Bowley dự kiến - hy vọng - một sự tự tin ở nàng. Hết lòng vì mẹ, đôi khi Clara cảm nhận được đôi chút về bà, vâng, mẹ nàng tự tin vào bản thân đến độ bà không thể hiểu được những người khác cũng “lố bịch không kém chi tôi,” Clara bật thốt thành tiếng (con chó đang lôi nàng tới trước). Và Bowley nghĩ trông nàng giống như một nữ liệp hộ và tìm kiếm trong đầu hình ảnh đó - một trinh nữ xanh xao với ánh trăng lung linh trên mái tóc, mà với Bowley là một đường bay tuyệt mỹ.
Đôi má nàng ửng hồng. Vì đã nói thẳng về mẹ của mình - tuy nhiên, nàng chỉ nói với ông Bowley, kẻ yêu mến bà, như mọi người phải yêu; nhưng việc nói ra điều ấy không tự nhiên chút nào đối với nàng, thế nhưng thật đáng sợ khi cảm thấy, vì nàng đã cảm thấy suốt ngày nay, rằng nàng phải nói với một người nào đó.
“Hãy chờ cho tới khi chúng ta băng qua đường,” nàng khom xuống nói với con chó.
May thay, tới lúc đó nàng đã lấy lại tinh thần.
“Bà ấy nghĩ quá nhiều về nước Anh,” nàng nói. “Bà ấy rất băn khoăn...”
Bowley lại bị lừa như thường lệ. Clara chưa bao giờ giãi bày tâm sự với bất cứ người nào.
“Vì sao đám người trẻ tuổi không chịu nhúng tay làm gì cả, hử?” Ông muốn hỏi. “Tất cả những chuyện về nước Anh này là sao vậy?” - một câu hỏi mà hẳn Clara tội nghiệp không thể trả lời, vì, khi bà Durrant thảo luận với ngài Edgar về chính sách của ngài Edward Grey, Clara chỉ tự hỏi vì sao cái tủ ngăn bám nhiều bụi như thế, vì sao Jacob không bao giờ tới. Ồ, bà Cowley Johnson đây rồi...
Và Clara sẽ đưa cho mọi người những tách trà bằng sứ xinh xắn, và mỉm cười với lời khen ngợi - rằng không ai ở London pha trà ngon như nàng.
“Chúng tôi mua nó ở tiệm Brocklebanbs,” nàng nói, “trên phố Cursitor.”
Nàng có nên tỏ ra biết ơn không? Nàng có nên tỏ ra hạnh phúc không?
Nhất là vì mẹ nàng trông rất thoải mái và thích thú khi trò chuyện với ngài Edgae về Morocco, Venezuela, hoặc những nơi đại loại như thế.
“Jacob! Jacob!” Clara nghĩ; và ông Bowley tốt bụng, vốn luôn đối xử tốt với những quý bà lớn tuổi, nhìn, dừng lại, tự hỏi Elizabeth có quá nghiêm khắc với con gái của bà ấy hay chăng; tự hỏi về Bonamy, Jacob - là ai trong hai anh chàng này nhỉ? - và nhảy dựng lên khi Clara nói rằng nàng phải tập luyện cho con chó Troy.
Họ đã tới Khu triển lãm cũ. Họ nhìn những lùm hoa uất kim hương. Cứng và xoắn lại, những thân cây mượt như sáp nhú lên từ mặt đất, sắp nở hoa nhưng chưa nở, nhuốm màu tím và hồng san hô. Mỗi cây đều tỏa bóng; mỗi cây mọc gọn gàng trong cái nêm hình viên kim cương mà người thợ làm vườn đã đặt ở đó.
“Barnes không bao giờ để cho chúng mọc như thế,” Clara ngẫm nghĩ; nàng thở dài.
“Cô đang làm lơ những người bạn của mình,” Bowley nói, vì một người nào đó, đang đi trên con đường khác, nhấc mũ lên. Nàng giật mình; nhận ra ông Lionel Parry đang gật đầu chào; và lãng phí với ông một nụ cười vốn dành cho Jacob.
(“Jacob! Jacob!” Nàng nghĩ.)
“Nhưng mày sẽ bị xe cán nếu tao thả mày ra,” nàng nói với con chó.
“Có vẻ như nước Anh vẫn ổn,” ông Bowley nói.
Cái vòng rào chắn bên dưới pho tượng của Achilles mắc đầy những chiếc ô và áo gi lê; dây chuyền và vòng đeo tay; của các quý bà quý ông đang thơ thẩn dạo chơi và khẽ khàng quan sát.
“Pho tượng này được dựng lên bởi những phụ nữ nước Anh...” Clara đọc lớn với một tiếng cười nhỏ ngốc nghếch. “Ồ, ông Bowley! Ồ!” Lộp cộp - lộp cộp - lộp cộp - một con ngựa phi ngang qua, trên lưng không có người cưỡi. Hai chiếc bàn đạp đong đưa; sỏi văng tung tóe.
“Ồ, dừng lại! Ngăn nó lại, ông Bowley!” Nàng kêu lên, mặt trắng bệch, run rẩy, xiết chặt cánh tay của ông ta, hoàn toàn mất hết ý thức, nước mắt trào ra.
“Chậc chậc!” ông Bowley nói trong phòng thay quần áo một giờ sau đó. “Chậc chậc!” - một nhận xét khá là sâu sắc, dù được thể hiện không mạch lạc mấy, vì người hầu của ông đang trao cho ông những chiếc khuy rời của áo sơ mi.
Julia Eliot cũng đã nhìn thấy con ngựa chạy lồng lên, và đã đứng lên khỏi ghế để quan sát kết cuộc của sự cố mà với cô có vẻ hơi buồn cười, vì cô xuất thân từ một gia đình có máu thể thao. Tất nhiên người đàn ông nhỏ bé đã lạch bạch chạy theo sau con ngựa với cái quần lấm bụi; trông có vẻ rất đỗi bực mình; và được một viên cảnh sát giúp trèo lên lưng ngựa khi Julia Eliot, với một nụ cười nhạo báng, quay về hướng cổng Marble Arch để thực hiện việc làm từ thiện nhỏ của mình. Đó chỉ là tới thăm một phu nhân lớn tuổi đang ốm, vốn quen biết với mẹ cô và có lẽ với Công tước xứ Wellington nữa; bởi Julia chia sẻ tình yêu đối với giới tính của mình cho những người đau khổ; thích tới thăm những kẻ đang hấp hối; ném tung dép lê lên trời tại những lễ cưới; lắng nghe những tâm sự riêng tư thầm kín của hàng tá người; biết nhiều về những phả hệ hơn một học giả biết về những niên biểu, và là một trong những phụ nữ tốt bụng nhất, độ lượng nhất, phóng túng nhất.
Thế nhưng năm phút sau khi đi ngang qua pho tượng Achilles, cô có cái vẻ mơ màng của một kẻ len lỏi qua những đám đông vào một chiều hè, khi những hàng cây xào xạc, những bánh xe khuấy tung bụi vàng, và sự huyên náo của thời điểm hiện tại dường như là một khúc bi ca tiếc thương cho tuổi trẻ và những mùa hè đã trôi qua, và trong lòng cô bỗng trỗi dậy một nỗi buồn kỳ lạ, như thể thông qua những chiếc váy và những cái áo gi lê thời gian và sự vĩnh cửu đã hiển lộ, và cô thấy mọi người đang bước một cách bi thảm tới sự hủy diệt. Thế nhưng, có Trời biết, Julia không ngốc chút nào. Không người đàn bà nào sắc sảo hơn cô trong một cuộc mặc cả. Cô luôn đúng giờ. Cái đồng hồ trên cổ tay cô cho cô mười hai phút rưỡi để tới phố Bruton. Phu nhân Congreve mong cô tới lúc năm giờ.
Cái đồng hồ mạ vàng ở tiệm Verrey’s đang điểm năm giờ.
Florinda nhìn nó với vẻ mặt đần độn, như một con vật. Nàng nhìn cái đồng hồ; nhìn ra cửa; nhìn tấm kính dài đối diện; cởi chiếc áo choàng ra; bước tới gần cái bàn hơn, vì nàng đang có thai - không còn ngờ gì về điều đó, Mẹ Stuart nói, giới thiệu những phương thuốc, tham khảo ý kiến bạn bè. Nàng chìm xuống, gót chân ngập trong nước, vì nàng đang bước rất nhẹ trên mặt nước.
Người hầu bàn đặt cái cốc vại đựng thứ thức uống hồng hồng ngọt ngào xuống bàn; và nàng uống nó bằng ống hút; đôi mắt nàng trong gương, trong tấm kính cửa, giờ được an ủi bởi vị ngọt. Khi Nick Bramham bước vào, rõ ràng là có một cuộc mặc cả diễn ra giữa họ, ngay cả tay hầu bàn trẻ tuổi người Thụy Sĩ cũng nhận ra điều đó. Nick vụng về chỉnh trang y phục; lùa những ngón tay qua mái tóc; ngồi xuống, tỏ ra lo lắng trước một thử thách. Nàng nhìn anh ta; và bật cười; cười to - cười to - cười to. Tay hầu bàn trẻ tuổi người Thụy Sĩ đang đứng tréo chân cạnh cây cột cũng bật cười.
Cửa mở; tiếng ồn ào của phố Regent lọt vào, tiếng ồn ào của xe cộ giao thông, vô cảm, không biết xót thương; và ánh nắng trở nên lấm tấm vì bụi bẩn. Tay hầu bàn người Thụy Sĩ phải đón tiếp vị khách mới tới. Bramham nâng ly của mình lên.
“Anh ta trông giống Jacob,” Florinda nói, nhìn người khách mới tới.
“Cái cách anh ta nhìn chòng chọc.” Nàng không cười nữa.
Jacob nghiêng người vẽ lên mặt đất trong công viên Hyde một sơ đồ của đền Parthenon, ít nhất đó cũng là một mớ đường nét chằng chịt, hoặc một biểu đồ toán học. Và vì sao sỏi được nén chặt ở góc như thế? Không kể những tờ giấy bạc, anh rút ra một xấp giấy và đọc những lá thư dài dằng dặc mà Sandra đã viết hai ngày trước ở tòa nhà Milton Dower với cuốn sách của anh đặt trước mặt, và trong đầu nàng là hồi ức về một điều gì đó đã được nói hoặc cố thực hiện, một khoảnh khắc nào đó trong bóng tối trên con đường dẫn tới Vệ Thành vốn mãi mãi có ý nghĩa quan trọng (đó là niềm tin của nàng).
“Anh ta,” nàng ngẫm nghĩ, “giống như người đàn ông trong kịch của Molière.”
Nàng muốn nói tới Alceste[1]. Nàng muốn nói rằng Jacob quá nghiêm khắc. Nàng muốn nói rằng nàng có thể đánh lừa anh.
“Hoặc mình không thể?” Nàng nghĩ, đặt tập thơ của Donne lên giá sách trở lại. “Jacob,” nàng tiếp tục, bước tới cửa sổ và nhìn ra những luống hoa rải rác bằng ngang bãi cỏ nơi đàn bò khoang đang gặm cỏ dưới những cây sồi, “Jacob sẽ bị sốc.”
Chiếc xe đẩy trẻ con đang đi qua cánh cổng nhỏ của hàng rào. Nàng hôn vào tay mình; được người vú nuôi hướng dẫn, bé Jimmy vẫy tay với nàng.
“Anh ta là một cậu bé,” nàng nói, nghĩ tới Jacob.
Thế nhưng Alceste thì sao?
“Anh thật là rầy rà!” Jacob càu nhàu, duỗi hết chân này tới chân kia và mò mẫm trong từng túi quần để tìm tấm vé ghế ngồi.
“Tôi cho là lũ cừu đã ăn nó mất rồi,” anh nói. “Vì sao anh giữ cừu ở đây?”
“Rất tiếc đã làm phiền ông, thưa ông,” người kiểm vé nói, bàn tay anh ta ngập sâu trong cái túi da to tướng đựng tiền xu.
“Chà, tôi hy vọng họ sẽ trả tiền cho anh về việc đó,” Jacob nói. “Đây rồi. Không. Anh có thể giữ luôn tiền thừa. Đi lai rai tí chút đi.”
Anh vừa chia tay với nửa đồng cu-ron, với sự độ lượng, thương hại, và khinh miệt khá đáng kể dành cho đồng loại của mình.
Thậm chí hiện giờ, trong lúc bước trên phố Strand, Fanny Elmer tội nghiệp vẫn không sao hiểu nổi thái độ cao thượng, dửng dưng, bất cẩn của Jacob khi nói chuyện với những người gác đường tàu hoặc những người dán bảng quảng cáo; hoặc với bà Whitehorn, khi bà hỏi ý kiến của anh về việc đứa con trai nhỏ của mình bị ông hiệu trưởng đánh.
Hoàn toàn sống dựa vào việc vẽ bưu thiếp suốt hai tháng qua, Fanny càng cảm thấy Jacob giống như một bức tượng, cao cả và không có mắt hơn bao giờ hết. Để củng cố hình ảnh này, nàng thường xuyên tới Viện bảo tàng Anh, nơi nàng luôn hạ thấp ánh mắt cho đến lúc tới bên cạnh pho tượng Ulysses; khi đó nàng ngước nhìn lên và cảm nhận một cú sốc mới tinh khôi về sự hiện diện của Jacob, đủ để nàng sống với nó suốt nửa ngày trời. Nhưng cảm giác này hao mòn dần. Và hiện giờ nàng viết - những bài thơ, những lá thư không bao giờ gửi đi, nhìn thấy gương mặt anh trong những tấm pa nô quảng cáo, và thường băng qua đường để tiếng đàn thùng biến những suy ngẫm của nàng thành niềm vui cực độ. Nhưng vào bữa điểm tâm (nàng ở chung phòng với một giáo viên), khi bơ bê bết quanh đĩa, và những răng nĩa dính đầy lòng đỏ trứng, nàng giận dữ ôn lại những hình ảnh này; và thật sự rất bực mình; nàng đang mất đi màu sắc tươi đẹp của làn da, như Margery Jackson nói, đang đưa toàn bộ mọi thứ xuống mức độ của lý lẽ thường tình, sự thông tục, và sự ủy mị, bởi nàng cũng đã yêu; và đã là một kẻ ngốc nghếch.
“Mẹ đỡ đầu của một người nên nói cho người đó biết,” Fanny nói, nhìn về phía cửa sổ của tiệm bản đồ Bacon trên phố Strand - nói cho người ta biết làm ầm lên cũng chả ích lợi gì; đây là cuộc đời, hẳn nhiên họ nên nói, như Fanny vừa nói lúc này vừa nhìn quả địa cầu lớn màu vàng được đánh dấu với những hải trình của tàu hơi nước:
“Đây là cuộc đời. Đây là cuộc đời.”
“Một gương mặt rất cứng cỏi,” cô Barrett nghĩ; cô đang ở mé bên kia tấm kính cửa, mua những tấm bản đồ vùng sa mạc Syrian và đang nhẫn nại chờ được phục vụ. “Những cô gái ngày nay trông già quá sớm.”
Đường xích đạo nhòe đi sau những giọt lệ.
“Có chạy ngang qua Phố Piccadilly không?” Fanny hỏi người bán vé của chiếc xe buýt hai tầng, và trèo lên tầng trên. Nói cho cùng, anh ta sẽ, anh ta phải, quay lại với nàng.
Nhưng có lẽ Jacob đang nghĩ tới Rome; tới nghệ thuật kiến trúc; tới hệ thống luật pháp; trong lúc anh ngồi dưới cây tiêu huyền trong công viên Hyde.
Chiếc xe buýt hai tầng dừng lại ở mé ngoài giao lộ Charing Cross; và phía sau nó dồn cứng những chiếc xe buýt hai tầng, xe tải, ô tô, bởi một đám diễu hành với những tấm biểu ngữ đang đi ngang qua phố Whitehall, và những người lớn tuổi đang khó nhọc đi xuống từ giữa chân của những con sư tử trơn trợt[2], nơi họ đã chứng thực đức tin của họ, hăng say hò hát, ngước mắt từ bản nhạc lên bầu trời, và vẫn giữ nguyên đôi mắt hướng tới trời cao trong lúc họ bước đều sau những mẫu tự bằng vàng của tín điều của họ.
Dòng giao thông dừng lại, và ánh nắng, không còn được gió làm cho dịu xuống, trở nên hầu như quá oi bức. Nhưng đám diễu hành đã đi qua; những tấm biểu ngữ sáng lấp loáng - xuôi xuống mé xa của phố Whitehall; giao thông được giải tỏa; lảo đảo dấn lên; hòa vào tiếng ồn ào êm ả tiếp nối; ngoặt quanh khúc cong của phố Cockspur; lướt qua những văn phòng của chính phủ và những pho tượng kỵ sĩ xuống phố Whitehall, tới khu vực có những chóp tháp nhọn, có đoàn tàu to bằng đá xám thả neo xuống nền đất, và cái đồng hồ lớn màu trắng của khu Westminster.
Chuông Big Ben điểm năm tiếng; ngài Nelson[3] đón nhận lời chào. Những sợi dây thép của Bộ Hải quân rung lên với một cuộc liên lạc xa nào đó. Một giọng nói tiếp tục nhận xét rằng những ông thủ tướng và tổng trấn đã phát biểu trong Tòa nhà Quốc hội Đức, đã tới Lahore[4]; nói rằng Hoàng đế đã đi du lịch; họ đã nổi loạn ở Milan; rằng có những lời đồn thổi ở Vienna; rằng vị đại sứ ở Constantinople đã được Hoàng đế thổ tiếp kiến; hạm đội đang ở Gibalta. Giọng nói tiếp tục, in lên gương mặt của những viên thư ký trong điện Whitehall (Timothy Durrant là một trong số họ) một dấu ấn nào đó của sự nghiêm trọng không thể lay chuyển của chính nó, trong lúc họ lắng nghe, giải mã, ghi lại. Những tờ giấy chồng chất lên nhau, ghi lại những phát biểu của các vị hoàng đế, số liệu thống kê về những đồng lúa, tiếng gầm giận dữ của hàng trăm người lao động, âm mưu nổi loạn trong những đường hẻm, hoặc sự tụ tập trong những khu chợ ở Calcutta, hoặc việc tập trung lực lượng của họ ở những vùng cao của Albania, nơi những ngọn đồi có màu cát, và những khúc xương nằm chỏng chơ trên mặt đất.
Giọng nói phát biểu một cách rõ ràng trong căn phòng vuông im lặng có những cái bàn nặng nề, nơi một người đàn ông lớn tuổi đang ghi những chú thích lên lề của những tờ giấy đã được đánh máy, cái ô có chóp bịt bạc của ông ta đặt tựa vào tủ sách.
Đầu ông ta - hói, nổi gân máu đỏ, trông có vẻ bị hõm vào - đại diện cho tất cả những cái đầu trong tòa nhà. Đầu ông ta, với đôi mắt màu nhạt hiền từ, mang gánh nặng của tri thức ngang qua con đường; đặt nó trước những đồng nghiệp của ông ta, những người trở nên mang gánh nặng tương đương; thế rồi mười sáu quý ông, nhấc cây bút của mình lên hoặc mệt mỏi xoay người trong ghế của họ, có lẽ, tuyên bố mệnh lệnh rằng tiến trình lịch sử nên tự định hình chính nó theo cách này hay cách khác, với vẻ quyết đoán đầy nam tính, như gương mặt của họ biểu lộ, để áp đặt một sự cố kết nào đó lên những tiểu vương và hoàng đế, tiếng thì thào trong những khu chợ, và những cuộc tụ tập bí mật - có thể nhìn thấy rõ ràng trong điện Whitehall - của những nông dân mặc váy ngắn ở những vùng cao Albania; để kiểm soát tiến trình của các sự kiện.
Pitt và Chatham, Burke và Gladstone[5] nhìn từ phía này sang phía khác với những đôi mắt cẩm thạch trừng trừng và một thái độ điềm nhiên bất hủ mà có lẽ người đang sống phải nảy lòng đố kỵ; và bầu không khí tràn ngập tiếng còi và sự rung chuyển, khi đám diễu hành với những tấm biểu ngữ đi ngang qua phố Whitehall. Ngoài ra, có một vị nào đó đang khốn khổ với chứng khó tiêu, kẻ vào đúng giây phút đó đã làm vỡ kính trên đôi kính đeo mắt của mình; một người khác sẽ phát biểu ở Glasgow vào ngày mai; nhìn chung trông họ đỏ hồng, mập mạp, hoặc xanh xao, gầy ốm, đang tìm cách giải quyết tiến trình lịch sử, như những cái đầu cẩm thạch từng giải quyết.
Trong căn phòng nhỏ ở Bộ Hải quân, Timmy Durrant, toan tới lấy một cuốn Sách Xanh[6] để tham khảo, dừng lại giây lát bên cửa sổ và quan sát tấm áp phích quấn quanh cây cột đèn.
Cô Thomas, một trong những nhân viên đánh máy, nói với bạn cô rằng nếu Nội Các họp lâu hơn nữa cô sẽ bỏ lỡ cuộc hẹn với bạn trai mình ở bên ngoài nhà hát Gaiety.
Khi quay lại với cuốn Sách Xanh kẹp dưới cánh tay, Timmy Durrant nhận thấy một nhóm người đang tụ tập ở góc đường như thể một trong số họ biết điều gì đó; và những người khác bu lại quanh anh ta, nhìn lên nhìn xuống, rồi nhìn dọc con đường. Anh ta biết được điều gì chứ?
Timothy đặt cuốn Sách Xanh trước mặt, nghiên cứu một tờ thông báo của Bộ Tài chính. Crawley, thư ký đồng nghiệp của ông, xiên một lá thư vào một cái xiên giấy.
Jacob đứng lên từ chiếc ghế trong công viên Hyde, xé tấm vé thành nhiều mảnh, rồi cất bước.
“Một hoàng hôn tuyệt đẹp,” bà Flanders viết trong lá thư gửi cho Archer ở Singapore. “Người ta không thể nào quyết định bước vào nhà được,” bà viết. “Bỏ phí, dù chỉ một khoảnh khắc, cũng giống như làm một chuyện xấu xa.”
Những ô cửa sổ dài của Điện Kensington ửng một màu hồng rực khi Jacob bước đi; một đàn vịt trời bay ngang qua hồ Serpentine; và những cây cối nổi lên trên nền trời, đen sẫm, uy nghi.
“Jacob,” bà Flanders viết, với ánh sáng đỏ hắt lên trang giấy, “đang chăm chỉ làm việc sau chuyến du lịch vui vẻ của nó...”
“Hoàng đế,” giọng nói xa xăm nhận xét trong điện Whitehall, “đã tiếp kiến tôi.”
“Mình biết gương mặt đó...” Cha Andrew Floyd vừa nói vừa bước ra khỏi tiệm Carter’s trên phố Piccadilly, “nhưng anh chàng chết tiệt đó là ai vậy?” Và ông quan sát Jacob, xoay người lại để nhìn anh, nhưng không thể chắc chắn...
“Ồ, Jacob Flanders!” Ông sực nhớ ra.
Nhưng anh rất cao; rất lãnh đạm; một chàng trai rất khôi ngô.
“Mình đã tặng cậu ta tập thơ của Byron,” Andrew Floyd ngẫm nghĩ, và cất bước, khi Jacob băng qua đường; nhưng do dự, để lỡ khoảnh khắc đó và đánh mất cơ hội.
Một đám diễu hành khác, không có biểu ngữ, đang chặn đứng lưu thông ở phố Long Acre. Những cỗ xe ngựa, với những quý bà khả kính trong y phục tím thạch anh và những quý ông cài hoa cẩm chướng trên ngực áo ngồi bên trong, chắn đường những chiếc taxi và ô tô chạy ngược chiều, trong đó là những người đàn ông mặc áo gi lê trắng mệt nhoài đang trên đường trở về ngôi nhà có nhiều bụi cây và có phòng chơi bi-a của họ ở Putney và Wimbledon.
Hai chiếc đàn thùng đang chơi nhạc cạnh lề đường, lũ ngựa chạy ra từ công ty Aldridgos với những tấm nhãn hiệu trên mông đang băng qua đường và được điều khiển một cách thông minh.
Bà Durrant, ngồi với ông Wortley trong một chiếc xe hơi, đang nôn nóng vì sợ bỏ lỡ mất khúc nhạc mở màn.
Nhưng ông Wortley, luôn lịch sự, luôn đúng giờ để thưởng thức khúc nhạc mở màn, cài nút đôi găng tay và vui vẻ nhìn Clara.
“Thật tiếc khi trải qua một đêm như thế này trong nhà hát!” Bà Durrant nói khi nhìn thấy tất cả cửa sổ của những tiệm đóng xe ngựa ở phố Long Acre sáng rực ánh đèn.
“Hãy nghĩ tới những trảng cỏ của cô!” Ông Wortley nói với Clara.
“Chà! Nhưng Clara thích cảnh này hơn,” bà Durrant cười rộ.
“Con không biết... thật đó,” Clara nói, nhìn những cửa sổ sáng rực. Nàng giật mình. Nàng đã nhìn thấy Jacob.
“Ai vậy?” Bà Durrant gắt gỏng, nghiêng người ra phía trước.
Nhưng bà không nhìn thấy ai cả.
Bên dưới cổng vòm của Nhà hát Hoàng Gia, tất cả những bộ mặt phúng phính và gầy guộc, những bộ mặt dày phấn và râu ria, đều đỏ ửng như nhau trong ánh hoàng hôn; và, bị kích thích bởi những chùm đèn treo lớn với ánh sáng vàng nhạt bị che mờ, bởi tiếng bước chân sột soạt, những tấm màn che đỏ thắm, và kiểu cách khoa trương, một số quý bà liếc mắt nhìn vào những căn phòng ngủ mù mịt hơi nước gần đó, nơi những người đàn bà với mái tóc buông xõa đang nghiêng người ra cửa sổ, nơi những cô gái... nơi lũ trẻ con... (những tấm gương dài khiến quý bà nấn ná lại giây lát) nhưng người ta phải đi theo người đi trước; người ta không được cản trở đường đi.
Những trảng cỏ của Clara khá đẹp. Những người Phoenicia cổ đại đã yên ngủ bên dưới những đống đá xám; ống khói của những mỏ than cũ vẫn sừng sững vươn cao; những con bướm đêm dậy sớm vờn quanh những đóa hoa chuông đồng cỏ; có thể nghe thấy tiếng bánh xe lăn trên con đường xa xa bên dưới; và tiếng rì rầm than thở của sóng vọng về êm đềm, miên man, mãi mãi.
Với bàn tay giơ lên che mắt, cụ Pascoe đứng trong vườn cải bắp nhìn ra biển. Hai con tàu hơi nước và một thuyền buồm đang băng chéo qua nhau; lướt ngang qua nhau; đàn hải âu trong vịnh đậu trên một khúc gỗ, bay vọt lên cao, rồi lại quay về với khúc gỗ, một số khác cưỡi sóng vào bờ và đứng ở mép nước cho tới khi ánh trăng nhuộm mọi thứ thành màu trắng.
Cụ Pascoe đã vào nhà trước đó khá lâu.
Nhưng trên những cây cột của đền Parthenon là ánh sáng đỏ; những phụ nữ Hy Lạp ngồi đan vớ và thỉnh thoảng lại gọi một đứa bé tới để gỡ những con côn trùng khỏi mái tóc của nó; họ vui vẻ như những con chim nhạn cát trong tiết trời nóng bức; họ vừa cãi cọ nhau, mắng nhiếc nhau, vừa cho con bú, cho tới khi những con tàu trong cảng Piraeus nổ súng.
Âm thanh tỏa rộng, chìm xuống rồi bùng lên trong những loạt tiếng nổ giữa những eo biển của các hòn đảo.
Bóng tối rơi như một lưỡi dao lên quần đảo Hy Lạp.
“Tiếng súng hay sao vậy?” Betty Flanders nói, hơi ngáy ngủ, rời khỏi giường và đi tới cửa sổ, được trang trí bằng một chùm lá tối thẫm.
“Không phải ở khoảng cách này,” bà nghĩ. “Đó là biển.”
Một lần nữa, từ phía xa xa, bà nghe âm thanh mơ hồ đó, như thể những phụ nữ làm đêm đang đập những tấm thảm lớn. Morty đã mất tích, và Seabrook đã chết; các con trai của bà đang chiến đấu vì tổ quốc. Nhưng đàn gà có an toàn không? Có phải ai đó đang đi xuống gác? Rebbecca với chứng nhức răng? Không. Những phụ nữ làm đêm đang đập những tấm thảm lớn. Đàn gà mái của bà khẽ nhúc nhích trên chỗ đậu của chúng.
❀ ❀ ❀
[1] Nhân vật chính trong vở hài kịch Le Misanthrope ou l’Atrabilaire amoureux (Kẻ yếm thế hoặc Gã tình nhân khó tính) của kịch tác gia Pháp Molière (1622-1673).
[2] Bốn pho tượng sư tử bằng đồng (hoàn thành năm 1867, do điêu khắc gia Edwin Henry Landseer thực hiện) đặt ở bốn góc bệ của Trụ Nelson trong Quảng trường Trafalga. Trụ Nelson được xây dựng giữa năm 1840 và 1843 theo thiết kế của kiến trúc sư William Railton.
[3] Chỉ tượng đài của Đô đốc Horatio Nelson (1708-1805) trên đầu Trụ Nelson. Ông tử trận năm 1805 trong trận thủy chiến Traflaga.
[4] Thủ phủ của tỉnh Punjab, Pakistan.
[5] Chỉ những pho tượng cẩm thạch của các chính khách Anh vào thế kỷ 18 đặt trong Điện Whitehall.
[6] Cuốn sách tập hợp những báo cáo của Thượng viện hay Hội đồng Tư vấn Hoàng gia.