“Tôi thiết nghĩ rằng,” Jacob nói, nhấc tẩu thuốc khỏi miệng, “nó nằm trong tác phẩm của Virgil,” và anh đẩy lùi cái ghế lại, bước tới cửa sổ.
Những xà ích ẩu tả nhất trần đời, dĩ nhiên, là những tay xà ích đánh các cỗ xe chở thư của bưu cục. Lắc lư chạy xuôi xuống phố Lamb’s Conduit, cỗ xe đỏ tươi quẹo thật gắt qua góc phố cạnh trụ bỏ thư công cộng[1] khiến lề đường bị xây xước và khiến đứa bé gái đang đứng nhón chân để bỏ thư ngẩng phắt lên, nửa hoảng hốt, nửa tò mò. Nó dừng lại với bàn tay đặt trên miệng trụ thư; rồi buông lá thư xuống và bỏ chạy. Hiếm khi chúng ta nhìn một đứa bé đứng nhón chân với lòng thương hại - thông thường hơn là một sự khó chịu mơ hồ, một hạt cát trong giày, hầu như không đáng để giũ ra - đấy là cảm giác của chúng ta, thế đó - Jacob quay sang cái tủ sách.
Cách nay đã lâu, những kẻ vĩ đại từng sống ở đây, và khi quay lại từ Cung điện sau nửa đêm, họ đứng túm gọn chiếc váy sa tanh của mình dưới những thanh dọc của khung cửa trong lúc người hầu ngồi bật dậy từ tấm nệm trên sàn, vội vã cài những cái cúc phía dưới của cái áo gi-lê, và mở cửa cho họ vào. Trận mưa khắc nghiệt của thế kỷ mười tám ồ ạt chảy xuống cái cũi chó. Tuy nhiên, ngày nay phố Southampton Row nổi bật chủ yếu do thực tế rằng bạn sẽ luôn luôn tìm được ở đó một người đàn ông đang cố bán một con rùa cho một bác thợ may. “Làm nổi bật những tấm vải tuýt, thưa ngài; điều các quý ông muốn là một thứ gì đó kỳ quặc bắt mắt, thưa ngài - và nó có những thói quen sạch sẽ, thưa ngài!” Họ quảng cáo rùa của mình như vậy.
Ở tiệm tạp hóa Mudie’s trên phố Oxdord, mọi hạt cườm đỏ chóe và xanh lơ bị xâu thành chuỗi. Những chiếc xe buýt hai tầng bị chặn lại. Ông Spalding tới thành phố nhìn ông Charles Budgeon đang trên đường tới Shepherd’s Bush. Sự gần gũi của những chiếc xe buýt hai tầng trao cho những hành khách đến từ bên ngoài cơ hội để nhìn chăm chú mặt nhau. Thế nhưng rất ít người tận dụng cơ hội này. Mỗi người đều có việc riêng để nghĩ tới. Mỗi người đều có quá khứ chôn chặt trong lòng như những trang của một cuốn sách mà y đã thuộc lòng; và những bạn bè của y chỉ có thể đọc được cái tên sách, James Spalding, hay Charles Budgeon, còn những hành khách đi trên con đường đối diện không thể đọc được gì cả - ngoại trừ ghi nhận: “một gã đàn ông với bộ ria đỏ,” “một thanh niên mặc đồ xám đang phì phèo ống vố.” Ánh nắng tháng Mười đổ lên tất cả những người đàn ông và phụ nữ đang ngồi bất động này; và cậu bé Johnnie Sturgeon chợp lấy cơ hội để đu xuống cầu thang, mang theo cái gói lớn bí ẩn của mình, và cứ đánh một con đường ngoằn ngoèo như thế giữa những bánh xe, nó đi tới lề đường, bắt đầu huýt một điệu nhạc và chẳng bao lâu biến mất khỏi tầm mắt - mãi mãi. Những chiếc xe buýt hai tầng rùng rùng chạy tiếp, và mọi cá nhân đều cảm thấy nhẹ nhõm khi tới gần hơn một chút điểm cuối chuyến đi của mình, dù một số kẻ tự phỉnh phờ chính mình luôn bỏ qua sự hứa hẹn ngay tại chỗ để hướng tới sự hứa hẹn của thú vui bên ngoài - thưởng thức bánh nhân thịt nướng và món thận, lai rai bia bọt hoặc chơi một ván đô mi nô trong góc khuất ám khói của một nhà hàng phố thị. Ồ, phải, đời người rất có thể chịu được ở tầng trên của một chiếc xe buýt hai tầng ở Holborn, khi viên cảnh sát giơ tay lên và mặt trời đổ nắng xuống lưng bạn, và nếu có một thứ gì đó giống như một cái vỏ được cất giấu bởi con người để làm cho bản thân con người trở nên phù hợp, chúng ta tìm ra nó ở đây, trên bờ sông Thames, nơi những đại lộ nối nhau và Thánh đường St. Paul,[2] như đỉnh của cái vỏ xoắn trôn ốc của một con ốc sên, hoàn tất nó. Jacob rời khỏi chiếc xe buýt, tha thẩn bước lên những bậc thềm, xem đồng hồ, và cuối cùng quyết định đi vào... Việc này có cần một nỗ lực không? Có. Những thay đổi tâm trạng này khiến chúng ta mệt lử.
Nó tối nhờ nhờ, bị ám ảnh bởi những hồn ma của đá hoa trắng mà cây đàn organ mãi mãi ca tụng. Thật đáng sợ nếu một chiếc ủng kêu rọt rẹt; sau đó là trật tự, kỷ luật. Vị chủ quản giáo đường với chiếc gậy xử lý cuộc sống bên dưới ông ta. Ca đoàn thiên sứ thật ngọt ngào và thánh thiện. Và những bờ vai bằng cẩm thạch mãi mãi tròn trĩnh, những ngón tay gập vào hay duỗi ra, những âm thanh của giọng nói và tiếng đàn vút cao. Mãi mãi nguyện cầu - ngơi nghỉ. Mệt nhoài với việc cọ rửa những bậc thềm văn phòng của Tổ chức Prudential, mà bà đã làm quanh năm suốt tháng, bà Lidgett ngồi bệt xuống bên dưới ngôi mộ của Công tước vĩ đại[3], đan hai bàn tay vào nhau, và nhắm hờ đôi mắt. Một nơi tuyệt diệu cho một phụ nữ cao tuổi nghỉ ngơi, ngay bên cạnh những nắm xương của Công tước vĩ đại, kẻ mà những chiến thắng của ông ta không có ý nghĩa gì với bà, kẻ mà bà không biết tên, dù bà không bao giờ quên chào những thiên thần nhỏ ở phía đối diện khi đi ngang qua, ao ước ngôi mộ của chính bà cũng giống như thế, bởi tấm màn da của quả tim đã bung mở, và những ý nghĩ về sự nghỉ ngơi đang rón rén bước ra, những giai điệu ngọt ngào... Tuy nhiên, già Spicer, nhà buôn sợi đay, không hề nghĩ gì giống thế. Thật lạ khi ông chưa từng có mặt trong nhà thờ St. Paul suốt năm mươi năm qua dù các cửa sổ văn phòng của ông nhìn ra nghĩa trang nhà thờ. “Vậy tất cả chỉ có thể là thế sao? Chà, một nơi chốn cũ kỹ ảm đạm... Mộ của Nelson ở đâu?[4] Giờ không có thời gian - hãy tới lần nữa - một đồng tiền để bỏ vào thùng... Trời mưa hay nắng? Vâng, giá như nó tự quyết định lấy!” Lũ trẻ con đi lang thang vơ vẩn - vị chủ quản nhà thờ đã khuyên răn chúng - và một người khác, một người khác... đàn ông, phụ nữ, đàn ông, phụ nữ, thằng bé... ngước mắt lên, mím môi lại, một cái bóng lướt qua cùng những gương mặt; tấm màn da của quả tim bung mở.
Từ những bậc thềm của nhà thờ St. Paul không có gì trông chắc chắn hơn việc từng cá nhân được cung cấp một cách kỳ diệu với áo khoác, váy và ủng; một lối vào; một đối tượng. Chỉ có Jacob, cầm trong tay cuốn Đế chế Byzantine của Finlay[5], mà anh đã mua ở Ludgate Hill, là trông hơi khác biệt; bởi anh đang cầm trong tay một cuốn sách mà chính xác khi tròn ba mươi chín tuổi, cạnh lò sưởi nhà riêng của mình, anh sẽ mở ra và nghiên cứu, vì không ai khác trong tất cả những đám đông này sẽ làm điều đó. Họ không có nhà. Những đường phố thuộc về họ; những cửa tiệm; những nhà thờ; vô số bàn giấy của họ; những ánh đèn văn phòng lan trải; những cỗ xe là của họ; và đường hỏa xa treo cao bên trên đường phố. Nếu nhìn gần hơn, bạn sẽ thấy rằng ba người đàn ông lớn tuổi đánh các cỗ xe ngựa hai bánh cách nhau một quãng ngắn dọc theo vỉa hè, như thể con đường là phòng khách của họ; và ở đây, sát bức tường, một phụ nữ nhìn trống vắng, với những sợi dây cột ủng duỗi thẳng, mà bà ta không mời bạn mua. Những tấm áp phích cũng là của họ; và thông tin bên trên chúng. Một thị trấn bị hủy diệt; một chủng tộc chiến thắng. Một đám đông không nhà tập hợp thành vòng tròn bên dưới bầu trời mà màu xanh lơ hay trắng của nó bị ngăn lại bởi một lớp trần nhà làm từ mạt thép và phân ngựa khô nghiền nát.
Ở đó, dưới bóng râm xanh ngắt, mái đầu cúi trên giấy trắng, ông Sibley chuyển những con số thành các trang sổ kế toán, và trên mỗi bàn giấy bạn nhìn thấy, giống như thực phẩm, một chồng giấy, dưỡng chất của ngày, được chậm rãi tiêu thụ bởi cây bút cần mẫn. Vô số áo bành tô có chất lượng đúng quy định treo trống rỗng suốt ngày trong những hành lang, nhưng khi đồng hồ điểm sáu giờ, mỗi chiếc áo đều được lấp đầy một cách chính xác, và những thân hình nhỏ bé, tách ra trong những ống quần hoặc đúc thành một khối dày đơn lẻ, giật nhanh theo chuyển động cứng nhắc về phía trước dọc theo vỉa hè; rồi chìm vào bóng tối. Bên dưới vỉa hè, chìm sâu trong đất, những đường hầm được kẻ hàng bằng thứ ánh sáng vàng mãi mãi chở họ đi về hướng này hướng khác, và những mẫu tự to trên những tấm bảng tráng men trong thế giới bên dưới lòng đất đại diện cho những công viên, quảng trường và bùng binh của thế giới bên trên. “Marble Arch—Shepherd’s Bush” - với đại đa số người, cái cửa vòm và cái quận này vĩnh viễn là những mẫu tự trắng trên một cái nền xanh lơ. Chỉ tại một địa điểm - nó có thể là Acton, Holloway, Kensal Rise, đường Caledonian - cái tên này mới có ý nghĩa là những cửa tiệm nơi bạn mua các thứ, và những ngôi nhà, mà trong một trong số đó, xuôi về mé phải, nơi những cây bị xén ngọn nhú lên từ những phiến đá lát đường, có một ô cửa sổ vuông che màn, và một căn phòng ngủ.
Sau lúc mặt trời lặn khá lâu, một bà cụ mù ngồi trên một cái ghế xếp, quay lưng về phía bức tường đá của Ngân hàng Union of London & Smith[6], ôm chặt trong tay một con chó lai màu nâu và hát lớn tiếng, không phải vì những đồng xu, không, mà từ những chiều sâu của quả tim hoan hỉ cuồng dại của bà - quả tim tội lỗi, đen sạm của bà - vì đứa con đưa bà tới đó là quả của tội lỗi, và hẳn cô ta đang nằm trên giường, màn che kín, say ngủ, thay vì nghe dưới ánh đèn dầu bài ca lộn xộn của mẹ mình, khi bà ngồi dựa vào Ngân hàng, cất tiếng ca không phải vì những đồng xu, với con chó áp sát ngực bà.
Họ về nhà. Những đỉnh tháp của ngôi nhà thờ xám đón nhận họ; thành phố cổ lổ, lâu đời, tội lỗi và tráng lệ. Tháp này sau tháp nọ, tròn hoặc nhọn, chọc vào bầu trời hoặc quần tụ với nhau, như những con tàu đang lướt sóng, như những vách đá hoa cương, những đỉnh tháp và những văn phòng, những cầu tàu và những nhà máy xúm xít quanh ngân hàng; những kẻ hành hương mãi mãi lê bước; những chiếc xà lan chở nặng giữa dòng; như ai đó tin tưởng, thành phố này yêu những cô gái điếm của mình.
Nhưng dường như rất ít kẻ được thừa nhận ở mức độ đó. Trong số tất cả những cỗ xe rời khỏi cổng vòm của Nhà hát Opera, không xe nào quay về hướng đông, và khi tên trộm nhỏ bé bị bắt trong khu họp chợ, không người nào mặc y phục trắng và đen hoặc váy buổi tối màu hồng làm tắt nghẽn đường bằng cách dừng lại với một bàn tay trên cửa xe để giúp đỡ hay lên án - Phu nhân Charles nghĩ, xét theo lẽ công bằng, và thở dài buồn bã khi bước xuống thang, mang theo cuốn sách của Thomas a Kempis[7], và không ngủ cho tới khi tâm trí bà lạc vào sự phức tạp của các sự việc. “Vì sao? Vì sao? Vì sao?” Bà thở dài. Nói chung, tốt nhất nên đi bộ trở về từ Nhà hát Opera. Sự mệt mỏi là liều thuốc ngủ an toàn nhất.
Mùa thu đang ở đỉnh điểm hoạt động. Tristan kéo tấm chăn lên tận nách mỗi tuần hai lần; Isolde vẫy chiếc khăn choàng trong niềm đồng cảm kỳ lạ với chiếc đũa chỉ huy của ông nhạc trưởng.[8] Người ta nhận ra ở mọi nơi trong nhà hát những gương mặt hồng hào và những bộ ngực lấp lánh. Khi một bàn tay vương giả gắn với một thân hình không thể nhìn thấy thò ra và rút lại bó hoa đỏ và trắng nằm trên gờ cửa đỏ thắm, Nữ hoàng Nước Anh dường như là một cái tên xứng đáng để chết vì nó. Vẻ đẹp, trong sự đa dạng phong nhiêu của nó (không màu nào vẻ nào là tệ nhất), nở bừng từ lô này sang lô khác; và dù không ai nói gì về ý nghĩa sâu sắc và nhìn chung mọi người đồng ý rằng sự hóm hỉnh đã rời khỏi những đôi môi xinh đẹp vào khoảng thời gian Walpole[9] chết - ở bất cứ giá nào, khi Nữ hoàng Victoria trong chiếc áo ngủ bước xuống cầu thang để gặp thượng thư các bộ, môi bà (qua một cái ống nhòm xem nhạc kịch) vẫn đỏ thắm, đáng yêu. Những người đàn ông hói đầu đạo mạo với những chiếc gậy cán vàng bước dọc những lối đi trải thảm đỏ giữa những dãy ghế, và sự giao hòa với các lô chỉ bị phá vỡ khi ánh đèn chìm xuống, và vị nhạc trưởng, trước tiên cúi chào Nữ hoàng, kế đến những người đàn ông đầu hói, rồi xoay tròn quanh đôi chân và vung chiếc đũa chỉ huy lên.
Khi đó hai ngàn quả tim trong bóng tối nửa phần hồi nhớ, tiên liệu, du hành qua những mê cung tối mịt; Clara Durrant chào tạm biệt Jacob Flander, và nếm sự ngọt ngào của cái chết tượng trưng; và bà Durrant, ngồi phía sau nàng trong bóng tối của lô, thở dài sườn sượt; và ông Wortley, khi chuyển vị trí của mình từ phía sau bà vợ của ngài đại sứ, nghĩ rằng Brangaena[10] có giọng hơi khàn; và treo người trên lô rẻ tiền nhất, nhiều bộ bên trên đầu họ, Edward Whittaker lén lút giơ một ngọn đuốc lên bản tổng phổ thu nhỏ của mình; và... và...
Nói tóm tắt, khán giả bị sốc với những thứ họ xem. Chỉ để ngăn chặn chúng ta khỏi bị nhấn chìm bởi sự hỗn độn, tự nhiên và xã hội giữa họ đã bố trí một hệ thống phân loại mà bản thân của nó là sự đơn giản; những dãy ghế, những lô trong nhà hát, cánh gà sân khấu, lô ghế rẻ tiền. Những cái khuôn được đổ đầy hằng đêm. Không cần phải phân biệt những chi tiết. Nhưng sự khó khăn vẫn còn đó - người ta phải lựa chọn. Bởi dù mình không muốn trở thành Nữ hoàng Anh Quốc, dù chỉ trong khoảnh khắc, mình sẽ sẵn lòng ngồi cạnh bà ta; mình sẽ nghe những câu chuyện cà riềng cà tỏi của ông Thủ tướng; lời thì thầm của vị nữ bá tước, và chia sẻ những hồi ức của bà ta về những sảnh đường và vườn cây; nói cho cùng những mặt tiến đồ sộ của sự tôn trọng che đậy mọi mật mã của chúng; không thì vì sao có sự bất khả thẩm thấu như vậy? Và còn nữa, khi người ta cởi bỏ cái mũ sắt, thật lạ lùng khi giả sử trong thoáng giây rằng một ai đó - bất kỳ ai - là một người can trường, kẻ đã trị vì Đế chế; để tham chiếu trong lúc Brangaena hát tới những đoạn đối thoại của Sophocles, hoặc nhìn thấy trong chớp mắt, khi gã chăn cừu tấu lên điệu sáo, những chiếc cầu và những cống nước. Nhưng không - chúng ta phải chọn lựa. Không bao giờ có một sự cần thiết khắc nghiệt hơn! Hoặc một sự cần thiết vốn gây ra nhiều nỗi đau, nhiều tai họa lớn hơn; bởi dù mình ngồi ở bất cứ chỗ nào, mình chết trong cảnh lưu đày: Whittaker trong căn nhà thuê của ông ta; Phu nhân Charles trong điền trang của bà ta.
Một thanh niên với một cái mũi giống mũi Wellington,[11] kẻ chiếm một chỗ ngồi giá bảy siling sáu xu, lần bước xuống các bậc thang đá khi vở nhạc kịch kết thúc, như thể anh vẫn còn xa cách với các khán giả khác do tác động của âm nhạc.
Vào nửa đêm, Jacob Flanders nghe thấy một tiếng gõ cửa.
“Có Chúa biết!” Anh cảm thán. “Anh chính là người tôi cần!” và không mất nhiều công sức lắm, họ phát hiện ra những dòng thơ mà anh đã tìm kiếm suốt ngày; chỉ có điều chúng không nằm trong tác phẩm của Virgil, mà của Lucretius.[12]
“Vâng; luận văn đó sẽ khiến ông ta ngồi bật dậy,” Bonamy nói, khi Jacob ngưng đọc. Jacob tỏ ra phấn khích. Đây là lần đầu anh đọc to bản luận văn của mình.
“Con lợn chết tiệt!” anh nói, hơi quá ngông cuồng; nhưng lời ca tụng đã đi vào đầu anh. Giáo sư Bulteel, Trường Leeds, đã phát hành một ấn bản về Wycherley[13] mà không hề phát biểu rằng ông ta đã loại bỏ, giữ lại, hoặc chỉ ra bởi những dấu hoa thị, nhiều từ khiếm nhã và một số cụm từ khiếm nhã. Một sự lăng nhục, Jacob nói; một sự xâm phạm đức tin; hoàn toàn làm bộ làm tịch; biểu hiện của một đầu óc ti tiện và một bản chất đáng tởm. Aristophanes và Shakespeare được trích dẫn. Đời sống hiện đại bị bác bỏ. Vở kịch lớn được sáng tạo với cái tựa mang tính chuyên nghiệp, và Leeds với tư cách một trường đại học bị chê cười. Và điều đặc biệt là hai chàng trai này hoàn toàn đúng - đặc biệt, bởi khi Jacob chép lại những trang luận văn của mình, anh biết rằng sẽ không ai in chúng; và khá chắc chắn là chúng sẽ được trả lại từ các tạp chí Bán nguyệt san, Đương thời và Thế kỷ Mười chín - và Jacob sẽ ném chúng vào những thùng gỗ đen nơi anh lưu giữ những lá thư của mẹ mình, những cái quần vải flanen cũ, và một hai lá thư ngắn với dấu Bưu cục Cornwall. Cái nắp thùng đóng lại bên trên sự thật.
Cái hộp gỗ đen này, mà trên đó tên anh vẫn còn rõ ràng trong màu sơn trắng, đặt giữa những cửa sổ dài của phòng khách. Con đường chạy qua bên dưới. Chắc chắn phòng ngủ nằm ở phía sau. Đồ nội thất - ba cái ghế đan bằng cành liễu gai và một cái bàn xếp - đến từ Cambridge. Những ngôi nhà này (con gái của bà Garfit, bà Whitehorn, là chủ của ngôi nhà này) được xây dựng khoảng một trăm năm mươi năm trước. Những căn phòng rộng rãi, những trần nhà cao; trên khung cửa gỗ có khắc hình một bông hồng hoặc đầu cừu đực. Thế kỷ mười tám có sự khác biệt của nó. Ngay cả những tấm ván cửa, sơn màu tím quả mâm xôi, cũng có sự khác biệt...
“Khác biệt” - bà Durrant đã bảo rằng Jacob Flanders “trông có vẻ khác biệt”. “Lúng túng một cách khác thường”, bà nói, nhưng “trông có vẻ rất khác biệt”. Chắc chắn đó là từ dành cho anh khi người ta nhìn thấy anh lần đầu. Nằm trở lại trong ghế, nhấc ống vố khỏi môi, anh nói với Bonamy: “Về vở nhạc kịch này” (vì họ đã xong việc với sự khiếm nhã) “Cái ông Wagner này”... Sự khác biệt là một trong những từ được sử dụng một cách tự nhiên, mặc dù, khi nhìn anh, hẳn người ta sẽ nhận thấy khó mà nói được chỗ ngồi nào trong nhà hát là của anh, những dãy ghế, lô rẻ tiền, hay lô dành cho khán giả sang trọng? Một nhà văn ư? Anh thiếu sự ý thức về bản thân. Một họa sĩ ư? Có cái gì đó trong hình dáng đôi bàn tay của anh (về phía mẹ, anh là dòng dõi của một gia tộc xa xưa nhất và vô danh nhất) chỉ ra thị hiếu. Rồi cái miệng của anh - nhưng chắc chắn, trong tất cả những nghề nghiệp vô ích nhất, đặc điểm này là tệ nhất trong số những đặc điểm đã liệt kê. Một từ là đủ. Nhưng nếu người ta không thể tìm ra nó thì sao?
“Mình thích Jacob Flanders,” Clara Durrant viết trong nhật ký. “Anh ấy thoát tục. Anh ấy không ra vẻ ta đây, và người ta có thể nói những gì mình thích với anh ấy, dù anh ấy đáng sợ vì...” Nhưng ông Letts cho phép người ta để trống một chỗ nho nhỏ trong những cuốn sổ nhật ký giá một xu của ông. Clara không phải là kẻ vượt quá giới hạn vào ngày Thứ Tư. Khiêm nhường nhất, ngay thẳng nhất trong số những người phụ nữ! “Không, không, không,” nàng thở dài, khi đứng ở cửa nhà kính, đừng phá vỡ - đừng làm hỏng - nhưng cái gì? Một thứ gì đó vô cùng kỳ diệu.
Thế nhưng, đây chỉ là ngôn ngữ của một cô gái, một kẻ đang yêu, hoặc đang cố không yêu. Nàng ao ước có lại khoảnh khắc đó, tiếp tục mãi mãi một cách chính xác những gì đã diễn ra vào buổi sáng tháng Bảy đó. Và những khoảnh khắc không đến. Chẳng hạn, lúc Jacob đang kể chuyện về một cuộc du lịch bằng chân của mình, và cái lữ quán được gọi là “Cái nồi sủi bọt”, mà, khi xét tới tên của bà chủ quán... Họ cười phá lên. Câu chuyện đùa này khiếm nhã.
Khi đó Julia Eliot nói “chàng trai lặng lẽ”, và vì cô ta đã ăn tối với những ông thủ tướng, chắc chắn cô ta có ý nói rằng: “Nếu anh ta muốn sống tiếp trên đời, anh ta sẽ phải tìm ra cái lưỡi của mình.”
Timothy Durrant không hề đưa ra bất cứ nhận xét nào.
Người hầu gái nhận ra cô ta đã được tưởng thưởng một cách hào phóng.
Ý kiến của ông Sopwith cũng đa cảm như ý kiến của Clara, dù được diễn tả khéo léo hơn nhiều.
Betty Flanders có ảo tưởng về Archer và nhạy cảm với John; bà bực bội một cách vô lý do sự lúng túng của Jacob trong nhà.
Thuyền trưởng Barfoot thích anh nhất trong số các cậu con trai; nhưng về việc nói vì sao thì...
Dường như nam và nữ đều ngang nhau về sự khiếm khuyết. Dường như một ý kiến sâu sắc, vô tư, và tuyệt đối công bằng về những đồng loại của mình hoàn toàn chưa được biết tới. Chúng ta là đàn ông hoặc đàn bà. Chúng ta lãnh đạm hoặc đa cảm. Chúng ta còn trẻ hoặc đang già đi. Trong bất kỳ trường hợp nào, cuộc đời chỉ là một cuộc diễu hành của những cái bóng, và chỉ có Trời biết vì sao chúng ta rất nôn nao ôm chầm lấy chúng, rồi nhìn chúng lìa xa với một niềm thống khổ, những cái bóng hiện tồn. Và vì sao, nếu điều này - và hơn cả điều này - là đúng, vì sao chúng ta vẫn cứ ngạc nhiên trong góc cửa sổ với một viễn tượng rằng chàng trai ngồi trong ghế này là kẻ có thật nhất, đáng tin nhất, được biết rõ nhất trong tất cả mọi thứ trên đời đối với chúng ta - thật vậy, vì sao? Bởi khoảnh khắc sau đó chúng ta không biết gì về anh ta cả.
Đó là cung cách nhìn nhận của chúng ta. Đó là các điều kiện của tình yêu của chúng ta.
(“Mình hai mươi hai tuổi. Giờ gần cuối tháng Mười rồi. Cuộc đời hoàn toàn thú vị, dù không may là có quá nhiều kẻ ngu xuẩn xung quanh. Người ta phải chuyên tâm vào thứ này hay thứ khác - chỉ có Trời biết đó là gì. Mọi thứ thật sự rất vui vẻ - ngoại trừ việc thức dậy vào buổi sáng và mặc áo đuôi tôm.”)
“Tôi bảo này, Bonamy, về Beethoven thì sao nhỉ?” (“Bonamy là một anh chàng tuyệt vời. Anh ta biết một cách thiết thực mọi thứ - không biết nhiều về văn chương Anh bằng mình - nhưng anh ta đã đọc tất cả các tác giả Pháp đó.”)
“Tôi hơi ngờ rằng anh nói vớ vẩn đó, Bonamy. Bất chấp anh nói gì, ông già Tennyson tội nghiệp...”
(“Sự thật là người ta cần phải học tiếng Pháp. Giờ mình cho rằng ông cụ Barfoot đang nói chuyện với mẹ mình. Chắc chắn đó là một mối quan hệ kỳ lạ. Nhưng mình không thể nhìn thấy Bonamy ở dưới đó. London chết tiệt!”) Bởi những cỗ xe hàng đang ì ạch lê bánh trên đường.
“Một chuyến tản bộ vào Thứ Bảy thì sao?”
(“Chuyện gì sẽ xảy ra vào Thứ Bảy?”)
Sau đó, vừa móc cuốn sách bỏ túi ra, anh vừa tự trấn an rằng đêm tiệc của gia đình Durrant sẽ tới vào tuần sau.
Nhưng dù tất cả những chuyện này rất có thể là đúng - Jacob nghĩ và nói như thế; gập hai chân lại như thế; nhồi thuốc vào tẩu; nhấp một ngụm whisky, và một lần nữa vừa nhìn vào cuốn sách bỏ túi, vừa vò mái tóc - vẫn còn một thứ gì đó không bao giờ có thể truyền đạt với một kẻ thứ hai ngoại trừ chính bản thân anh. Ngoài ra, một phần của thứ này không phải là của Jacob mà là Richard Bonamy - căn phòng; những cỗ xe hàng; thời khắc; chính khoảnh khắc này của lịch sử. Rồi xét tới tác động của giới tính - nó uốn lượn, chập chùng giữa nam và nữ đến độ ở đây là một thung lũng, ở kia là một đỉnh núi, khi trên sự thật, có lẽ, tất cả đều bằng phẳng như bàn tay của mình. Ngay cả những từ chính xác cũng bị phát âm sai giọng. Nhưng thứ gì đó vốn luôn thôi thúc người ta vo ve rung động, như con bướm đầu lâu, ở miệng hang của sự ẩn mật, phú cho Jacob Flanders mọi loại phẩm chất mà anh không hề có - bởi dù, tất nhiên, anh đang ngồi nói chuyện với Bonamy, một nửa những gì anh nói quá tẻ ngắt để lặp lại; quá khó hiểu (về những người vô danh và Quốc hội); phần còn lại hầu như là một công việc suy đoán. Thế nhưng chúng ta treo dập dờn chao động bên trên anh.
“Vâng,” Thuyền trưởng Barfoot nói, gõ ống vố lên ngăn kệ cạnh lò sưởi của Betty Flanders và cài lại cúc áo khoác. “Nó nhân đôi công việc, nhưng tôi không quan tâm chuyện đó.”
Hiện giờ ông là ủy viên hội đồng thị trấn. Họ nhìn ra màn đêm, cũng giống như màn đêm London, nhưng trong trẻo hơn nhiều. Chuông nhà thờ ở mé dưới thị trấn đang điểm mười một giờ. Gió đã cuốn ra biển. Và mọi cửa sổ phòng ngủ đều tối đen - gia đình Page đang say ngủ; gia đình Garfit đang say ngủ; gia đình Cranche đang say ngủ - trong lúc ở London giờ này họ đang đốt hình nộm Guy Fawkes trên Đồi Quốc hội.
❀ ❀ ❀
[1] Pillar-box.
[2] Được thiết kế bởi Sir Christopher Wren (1632-1723) và được xây dựng trong khoảng thời gian 1675-1710, sau khi nhà thờ cũ bị tiêu hủy trong Trận Hỏa hoạn lớn ở London năm 1666.
[3] Mộ của Công tước xứ Wellington nằm trong hầm mộ của nhà thờ St. Paul’s.
[4] Mộ của Horatio Nelson, Đô đốc Hải quân (1708-1805) cùng chung hầm mộ với Công tước xứ Wellington.
[5] George Finlay (1799-1875), sử gia người Tô Cách Lan.
[6] Ngân hàng Union of London sáp nhập với Ngân hàng Smith’s vào năm 1902.
[7] Thomas Haemmerlein hoặc Thomas Haemmerken (1380-1471), một tu sĩ dòng Thánh Augustine, tác giả nhiều sách thần bí về Thiên Chúa giáo.
[8] Vở opera ba hồi Tristan và Isolde của nhà soạn nhạc kịch người Đức Richard Wagner (1813-1883), được trình diễn lần đầu tại Munich năm 1869.
[9] Sir Robert Walpole (1676-1745), chính khách, thủ tướng không chính thức của Anh.
[10] Người hầu và bạn đồng hành của Isolde trong vở opera Tristan và Isolde.
[11] Công tước xứ Wellington có một cái mũi khá to và khoằm như mỏ két.
[12] Titus Lucretius Carus (khoảng 99-55 TCN), thi sĩ, triết gia người La Mã. Những dòng thơ mà tác giả nói nằm trong Quyển 1, trường ca De Rerum Natura (về Bản chất của các sự vật) của ông.
[13] William Wycherley (1641-1716): nhà soạn kịch người Anh.