Căn Phòng Của Jacob

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Hai

❊ ❊ ❊

Nước rơi khỏi một gờ toa tàu như chì lỏng - như một sợi xích với những khoen dày, trắng. Con tàu chạy vào một cánh đồng cỏ xanh hơi dốc; Jacob nhìn thấy những luống uất kim hương đang đâm chồi nảy lộc và nghe tiếng hót của một con chim, ở nước Ý.

Một chiếc ô tô đầy những sĩ quan Ý chạy xuôi trên con đường bằng phẳng, sóng đôi với con tàu, làm dấy lên một đám bụi mù phía sau. Có những cây to với những dây leo quấn quít - như Virgil đã nói. Đây là một sân ga; và một cuộc đưa tiễn ồn ào diễn ra, với những phụ nữ mang ủng cao màu vàng và những cậu bé nhợt nhạt kỳ khôi mang vớ có khoanh. Lũ ong của Virgil đã bắt đầu bận rộn trên những cánh đồng xứ Lombardy. Tập quán của người cổ đại là dựng những giàn nho giữa những cây du. Và ở Milan có những con diều hâu cánh nhọn màu nâu sáng, cắt thành những hình thù bên trên các mái nhà.

Những toa xe Ý giờ này nóng kinh khủng với ánh nắng chiều rọi xuống, và rất có khả năng trước khi đầu máy kéo con tàu lên tới đỉnh đèo, sợi xích luôn kêu loảng xoảng sẽ đứt rời. Lên, lên, lên nữa, nó chậm rãi bò, như một con tàu trên một đường ray sân khấu. Mỗi đỉnh núi bị che phủ bởi những cây to, và những ngôi làng ửng một sắc trắng lạ lùng nằm chen chúc trên những sườn núi. Luôn có một ngọn tháp ngay trên đỉnh núi, những mái nhà ngói đỏ tươi, và một vách đá dựng đứng bên dưới. Đây không phải là một đất nước nơi người ta đi tản bộ sau giờ uống trà. Bởi lẽ không có cỏ. Toàn bộ sườn đồi bị che phủ bởi những cây ô liu. Vào tháng Tư, đất đã vón lại thành bụi khô giữa hàng cây. Và không hề có cái bậc trèo hay con đường mòn nào, cũng chẳng có những con đường điểm xuyết những bóng lá hay những lữ quán của thế kỷ mười tám với những khung cửa sổ lồi, nơi người ta ăn thịt đùi lợn hong khói và trứng. Ồ không, nước Ý chỉ có sự dữ dội, trơ trọi, trần trụi, và những tu sĩ áo đen lê bước trên đường. Cũng thật lạ, bạn không bao giờ quá cách xa những ngôi nhà thôn dã.

Tuy nhiên, đi du lịch với một trăm bảng bỏ túi cũng khá ổn. Nếu cạn tiền, vì rất có khả năng đó, Jacob sẽ đi bộ tiếp. Anh có thể sống bằng bánh mì và rượu vang - thứ rượu vang trong những chai có ống hút - bởi sau khi tới Hy Lạp anh sẽ dừng lại ở Rome. Nền văn minh La Mã rất kém cỏi, không ngờ gì nữa. Nhưng dù sao Bonamy đã nói nhiều câu vớ vẩn. “Anh nên tới Athens.” Anh sẽ nói với Bonamy khi trở về. “Đứng trên đền Parthenon,” anh sẽ nói, hoặc “Những di tích của đại hý trường La Mã gợi lên những ý tưởng hay ho,” những ý tưởng mà cuối cùng anh sẽ viết lại trong những lá thư. Nó có thể trở thành một tiểu luận về nền văn minh. Một so sánh giữa người xưa và người nay, với một số luận điểm khá sắc bén về Asquith[1] - một thứ gì đó theo phong cách của Gibbon[2].

Một quý ông to béo cố len vào toa, bụi bặm, y phục thùng thình, đeo những sợi dây chuyền vàng, và Jacob, lấy làm tiếc rằng mình không thuộc nòi giống Latin, nhìn ra cửa sổ.

Qua hai ngày đêm du hành bạn đã ở giữa trung tâm của nước Ý, đó là một suy nghĩ lạ lùng. Những ngôi nhà thôn dã ngẫu nhiên xuất hiện giữa những cây ô liu; những người đàn ông giúp việc đang tưới xương rồng.

Những cỗ xe ngựa bốn bánh mui trần đen kịt chạy giữa những hàng cột tráng lệ trên gắn những tấm khiên thạch cao. Ngay lập tức, nó có tính chất tạm thời và thân thiết một cách đáng kinh ngạc - việc được trưng bày trước đôi mắt của một người ngoại quốc. Và có một đỉnh đồi trơ trọi nơi chưa từng có ai tới, thế nhưng nó được nhìn thấy bởi tôi, kẻ mới đây còn ngồi trên một chiếc xe buýt hai tầng xuôi xuống phố Piccadilly. Và điều tôi thích là được bước ra giữa những cánh đồng, ngồi xuống và nghe lũ châu chấu râm ran, và hốt lên một nắm đất - đất của nước Ý, vì dưới giày tôi là đất bụi nước Ý.

Suốt đêm, Jacob nghe thấy họ xướng lên những cái tên xa lạ tại những sân ga. Con tàu dừng lại và anh nghe thấy tiếng ếch nhái kêu ồm ộp gần bên; anh thận trọng kéo tấm màn ra và nhìn thấy một đầm lầy xa lạ mênh mông, trắng nhờ nhờ dưới ánh trăng. Toa xe mù mịt khói thuốc xì gà, khói bay lẩn quẩn quanh bóng đèn với một cái bóng mờ xanh bên trên. Quý ông người Ý nằm ngáy pho pho với đôi chân trần và chiếc áo chẽn mở bung nút... Và với Jacob, dường như toàn bộ chuyến du hành sang Hy Lạp này là một sự mệt nhọc không sao chịu nổi - ngồi trong những khách sạn một mình và nhìn những tượng đài - tốt hơn anh nên tới Cornwarn với Timmy Durrant.... “Ồ...” Jacob kêu lên phản đối khi bóng tối bắt đầu vỡ ra trước mặt anh và ánh sáng xuyên qua, nhưng người đàn ông đó đang băng ngang qua anh để lấy thứ gì đó - người đàn ông Ý đeo cái yếm giả, râu ria không cạo, y phục nhăn nhúm, béo phị, đang mở cánh cửa và bước ra ngoài để rửa mặt.

Thế là Jacob ngồi dậy, và nhìn thấy một người Ý mê thể thao gầy còm với một khẩu súng đang bước trên đường dưới ánh rạng đông, và toàn bộ ý tưởng về đền Parthenon đến với anh trong một tiếng nổ vang.

“Trời ạ!” Anh nghĩ, “chúng ta phải ở gần chỗ đó!” Và anh thò đầu ra cửa sổ, đón nhận một làn gió quật thẳng vào mặt.

Thật quá đỗi bực mình khi hai mươi lăm người quen biết của bạn có thể nói thẳng thừng một điều gì đó thích hợp về việc tới Hy Lạp trong khi đối với chính bản thân bạn có một cái nút chặn lại mọi cảm xúc, bất kể đó là gì. Bởi sau khi tắm rửa trong khách sạn ở Patras, Jacob đã đi theo đường ray xe điện khoảng một dặm; và theo nó quay lại, khoảng một dặm nữa; anh đã gặp nhiều bầy gà lôi, nhiều đàn lừa; đã bị lạc trong những đường hẻm, đã đọc những tờ quảng cáo áo lót phụ nữ và xì dầu Maggi; lũ trẻ con đã dẫm lên những ngón chân của anh; chốn này nồng nặc mùi pho mát dở tệ; và anh vui mừng khi nhận ra anh đột ngột bước ra một nơi đối diện với khách sạn của mình. Có một tờ Daily Mail cũ nằm giữa những cốc cà phê; anh đọc nó. Nhưng anh có thể làm gì sau bữa ăn tối?

Không ngờ gì nữa, nói chung chúng ta sẽ tệ hại hơn nhiều so với hiện tại nếu không có khả năng thiên phú đáng kinh ngạc về ảo tưởng. Ở tuổi mười hai hay khoảng đó, sau khi từ bỏ những con búp bê và đập vỡ những cỗ máy hơi nước, nước Pháp, nhưng có khả năng hơn là nước Ý, và Ấn Độ thì hầu như chắc chắn, luôn thu hút trí tưởng tượng vô dụng. Những bà cô của người nào đó từng tới Rome; và mọi người đều có một ông bác tội nghiệp, kẻ được nghe nói tới lần cuối ở Rangoon. Ông ta sẽ không bao giờ quay về nữa. Nhưng chính những nữ gia sư mới là kẻ đã khởi đầu huyền thoại Hy Lạp. Hãy nhìn pho tượng đó nếu nói về cái đầu (họ nói) - cái mũi, em thấy đó, thẳng như một ngọn lao, những lọn tóc xoăn, hai hàng lông mày - mọi thứ đều thích hợp với vẻ đẹp nam tính; trong khi đôi chân và đôi tay có những đường nét chỉ ra một mức độ phát triển hoàn hảo - người Hy Lạp quan tâm tới cơ thể không kém so với gương mặt. Và người Hy Lạp có thể vẽ trái cây giống thật đến độ chim chóc phải mổ vào đó. Trước hết em hãy đọc Xenophon[3]; rồi Euripides[4]. Một ngày kia - lạy Trời, đó là một cơ hội - những gì mọi người đã nói có vẻ như có một ý nghĩa nào đó; “tinh thần Hy Lạp”; Hy Lạp ở điểm này, điểm nọ, điểm kia; dù khá phi lý, nhân tiện, khi nói rằng bất cứ người Hy Lạp nào cũng tới gần mức của Shakespeare. Tuy nhiên, vấn đề là chúng ta đã được nuôi dưỡng trong một ảo tưởng.

Không ngờ gì nữa, Jacob đã nghĩ ngợi gì đó theo kiểu này, tờ Daily Mail bẹp rúm lại trong bàn tay anh; đôi chân anh dạng ra; hình ảnh đúng của sự chán chường.

“Nhưng đó là cách thức chúng ta được nuôi dưỡng,” anh nghĩ.

Và tất cả những điều này với anh dường như rất khó chịu. Cần phải làm gì đó về chuyện này. Và từ chỗ không buồn phiền lắm anh trở thành một người sắp bị hành hình. Clara Durrant đã bỏ mặc anh trong một buổi tiệc để trò chuyện với một người Mỹ tên là Pilchard[5]. Anh đã đi suốt chặng đường tới Hy Lạp, không mong gặp lại nàng. Họ mặc y phục dạ hội và nói vớ vẩn - toàn những chuyện chết tiệt vớ vẩn. Và anh đưa tay ra để cầm tờ Globe Trotter, một tạp chí quốc tế được cung cấp miễn phí cho những người chủ khách sạn.

Bất chấp tình trạng đổ nát, Hy Lạp hiện đại rất tiến bộ về hệ thống đường xe điện. Trong lúc Jacob ngồi trong phòng khách của khách sạn, những chiếc xe điện kêu lanh canh, hống hách rung chuông liên hồi để xua lũ lừa và một bà cụ không chịu nhích chân ra khỏi con đường bên dưới những cửa sổ. Toàn thể nền văn minh đang bị lên án.

Aristotle, một tay phục vụ khách sạn bẩn thỉu, hoàn toàn dửng dưng với chuyện đó. Với thái độ như muốn ăn tươi nuốt sống vị khách duy nhất lúc này đang chiếm lĩnh cái ghế bành duy nhất, y ồn ào bước vào phòng, đặt thứ này xuống, kéo thẳng thứ khác ra, và thấy rằng Jacob vẫn còn ở đó.

“Ngày mai tôi muốn được đánh thức sớm,” Jacob nói với ra sau. “Tôi sẽ tới Olympia.”

Ánh sáng ảm đạm này, sự đầu hàng những vùng nước tối đen bao bọc quanh chúng ta này, là một phát minh hiện đại. Có lẽ, như Cruttendon đã nói, chúng ta không có đủ đức tin. Ít nhất cha ông chúng ta cũng có thứ gì đó để phá hủy. Về vấn đề này chúng tôi cũng vậy, Jacob nghĩ, vò nhàu tờ Daily Mail trong tay. Anh sẽ vào Quốc hội và đọc những diễn văn hùng hồn - nhưng những diễn văn hùng hồn và Quốc hội thì có ích gì, một khi bạn nhượng bộ một phần cho những vùng nước đen? Thật sự không bao giờ có bất kỳ lý giải nào về sự dao động lên xuống trong huyết mạch của chúng ta - về hạnh phúc và bất hạnh. Sự tôn trọng và những bữa tiệc chiều hôm nơi người ta phải ăn mặc chỉnh tề, và những khu nhà ổ chuột tồi tàn ở phía sau Hội quán Gray - một thứ gì đó bền vững, bất di bất dịch và phi lý - rất có thể nằm ở phía sau của nó, Jacob nghĩ. Nhưng rồi còn có Đế chế Anh, vốn đang bắt đầu khiến cho anh bối rối; và anh cũng không hoàn toàn tán thành việc trao Quyền Tự Trị cho Ái Nhĩ Lan. Tờ Daily Mail nói gì về việc đó nhỉ?

Bởi anh đã trở thành một gã đàn ông, và sắp sửa đắm chìm vào các thứ - như người nữ nhân viên phục vụ phòng, khi tháo nước cái bồn rửa mặt trên lầu, sờ vào những cái chìa khóa, những cái khuy rời, những cây bút chì, và những tờ báo khổ nhỏ nằm vương vãi trên bàn, đã thật sự ý thức về điều đó.

Việc anh đã trở thành một gã đàn ông là một thực tế mà Florinda biết rõ, như nàng vẫn biết mọi thứ, theo bản năng.

Và ngay cả Betty Flanders hiện giờ cũng hồ nghi về việc đó, khi bà đọc lá thư của anh, gửi từ Milan. “Hãy nói với tôi,” bà phàn nàn với bà Jarvis, “rằng tôi thật sự không muốn biết chuyện gì hết”; nhưng bà cứ ngẫm nghĩ về nó.

Fanny Elmer cảm nhận được điều đó một cách tuyệt vọng. Bởi anh ta sẽ cầm lấy cây gậy và cái mũ và bước tới cửa sổ, trông cực kỳ đãng trí và cũng rất nghiêm trang, nàng nghĩ.

“Tôi sẽ ăn chực Bonamy một bữa,” anh sẽ nói.

“Dù thế nào đi nữa, mình có thể tự trầm mình dưới sông Thames,” Fanny khóc, khi nàng vội vã đi qua bệnh viện Foundling.

“Nhưng tờ Daily Mail không đáng tin cậy,” Jacob tự nhủ, nhìn quanh tìm thứ gì khác để đọc. Và anh lại thở dài, thật sự nản lòng đến độ ắt hẳn tâm trạng ảm đạm này đã nằm sẵn trong hồn anh để quấy rầy anh vào bất cứ lúc nào, một điều kỳ quặc ở một người đàn ông vốn ưa tận hưởng mọi thứ, không có đầu óc phân tích mấy, nhưng lại lãng mạn kinh khủng, tất nhiên, Bonamy nghĩ, trong những căn phòng của mình ở Hội quán Lincoln.

“Anh ta sẽ yêu,” Bonamy nghĩ, “Một phụ nữ Hy Lạp nào đó với một cái mũi thẳng.”

Từ Patras, Jacob đã gửi thư cho Bonamy, kẻ không thể yêu một phụ nữ và không bao giờ đọc một cuốn sách ngu xuẩn.

Nói cho cùng, có rất ít sách hay, bởi chúng ta không thể tính đếm vô số lịch sử, du hành trong những cỗ xe la để khám phá nguồn của sông Nile, hoặc tính chất trôi chảy của văn chương hư cấu.

Tôi thích những cuốn sách mà mọi tác dụng của chúng cô đọng trong một hoặc hai trang. Tôi thích những câu vẫn điềm nhiên bất động cho dù có cả quân đoàn băng qua chúng. Tôi thích những từ khó. Đó là quan điểm của Bonamy, và chúng mang tới cho anh sự chống đối của những kẻ mà thị hiếu của họ toàn dành cho sự tăng trưởng mới mẻ của buổi sáng; những kẻ kéo màn che cửa sổ lên, và nhận thấy những cây anh túc trải ra trong nắng, và không thể kiềm chế một tiếng hét hân hoan trước sự phong nhiêu đáng kinh ngạc của văn chương Anh. Đó không hề là cung cách của Bonamy. Thị hiếu văn chương ảnh hưởng tới tình bạn của anh, khiến cho anh trở nên im lặng, giữ kẻ, khó chiều, và chỉ hoàn toàn thoải mái với một hai bạn bè cùng quan điểm. Đó chính là cuộc đột kích chống lại anh.

Nhưng Jacob Flanders không cùng quan điểm với anh - còn lâu mới thế, Bonamy thở dài, đặt những tờ giấy viết thư mỏng lên bàn và rơi vào suy nghĩ về tính cách của Jacob, không phải lần đầu tiên.

Vấn đề là cái máu lãng mạn của Jacob. “Nhưng pha lẫn với sự ngu xuẩn vốn dẫn anh ta tới những trạng huống khó khăn phi lý,” Bonamy nghĩ, “có cái gì đó... cái gì đó” - anh thở dài, bởi anh yêu mến Jacob hơn bất kỳ người nào khác trên đời.

Jacob đi tới cửa sổ và đứng, hai tay thọc vào túi. Ở đó anh nhìn thấy ba người Hy Lạp mặc váy ngắn tới gối; cột buồm của các con tàu; những kẻ rảnh rang hay bận rộn thuộc tầng lớp dưới đang đi dạo hoặc nhanh nhẹn bước ra cửa, hoặc hòa vào những nhóm và ra điệu bộ với đôi tay. Việc họ không quan tâm tới anh không phải là nguyên do buồn bã của anh; đó là một nhận thức sâu sắc hơn: không phải chỉ bản thân anh cô độc, mà tất cả mọi người đều như thế.

Thế nhưng hôm sau, khi con tàu chậm rãi bò quanh một ngọn đồi trên đường tới Olympia, những nữ thôn dân Hy Lạp đang ở ngoài trời giữa những dây nho; những cụ già Hy Lạp ngồi ở sân ga, nhấm nháp rượu vang ngọt. Và dù Jacob vẫn còn buồn bã, anh không bao giờ ngờ rằng sự cô đơn lại thú vị đến thế; rời khỏi nước Anh; sống bằng tiền của chính mình; cắt rời mọi thứ. Có những ngọn đồi trọc trơ trụi trên đường tới Olympia; và giữa chúng biển khơi xanh ngắt hiện ra trong những khoảng không hình tam giác. Hơi giống với vùng duyên hải Cornwarn. Còn sao nữa? Đi bộ một mình suốt ngày - tới con đường mòn đó và đi theo nó, giữa những bụi cây - hoặc chúng là những cây thân mộc còn nhỏ? Lên tới đỉnh núi đó, nơi người ta có thể nhìn thấy phân nửa số quốc gia cổ xưa...

“Phải,” Jacob nói, bởi toa tàu của anh trống rỗng,” “mình hãy xem bản đồ.” Dù phiền trách hay ca ngợi, không thể nào phủ nhận con ngựa hoang trong máu chúng ta. Nó muốn phi nhanh hết sức; kiệt sức ngã lăn trên cát; cảm nhận sự xoay tròn của trái đất; cảm nhận - một cách chắc chắn - một tình bạn thân thiết đối với những tảng đá và bụi cỏ, như thể nhân loại đã diệt vong. Còn về phần những người đàn ông và phụ nữ, cứ mặc xác họ. Không thể vượt qua thực tế rằng khao khát này rất thường tóm lấy chúng ta.

Làn gió chiều nhẹ nhàng dịch chuyển những tấm màn bẩn thỉu trên cửa sổ của khách sạn ở Olympia.

“Mình tràn đầy tình yêu đối với mọi người,” Wentworth Williams nghĩ, “nhất là đối với những người nghèo - bởi những người nông dân quay về lúc chiều tối với những gánh nặng của họ. Và mọi thứ đều mềm mại, mơ hồ và rất u buồn. Nó buồn, nó buồn, nhưng mọi thứ đều có ý nghĩa, Sandra Wentworth Williams nghĩ, hơi ngẩng đầu lên và trông rất xinh đẹp, bi thảm và cao cả. “Người ta phải yêu thương mọi thứ.”

Nàng cầm trên tay một cuốn sách bỏ túi thuận tiện cho việc du lịch - những truyện ngắn của Tchekhov[6]. Nàng đứng đó, với tấm khăn choàng và chiếc váy trắng, cạnh cửa sổ khách sạn tại Olympia. Buổi chiều hôm đẹp làm sao! Và vẻ đẹp của nàng là vẻ đẹp của nó. Bi kịch của Hy Lạp là bi kịch của mọi linh hồn cao quý. Sự thỏa hiệp không thể tránh khỏi. Dường như nàng đã nắm bắt được thứ gì đó. Nàng sẽ viết nó ra. Và nàng bước tới cái bàn nơi chồng nàng đang ngồi đọc, đưa hai tay chống cằm và suy nghĩ về những nông phu, về sự đau khổ, về vẻ đẹp của chính nàng, về sự thỏa hiệp không thể tránh khỏi, và về việc nàng sẽ viết nó ra như thế nào. Evan Williams không nói bất cứ điều gì thô lỗ, sáo rỗng hay ngốc nghếch khi ông khép cuốn sách lại và cất nó đi để chừa chỗ cho những đĩa súp lúc này đang được bày ra trước mặt họ. Chỉ có đôi mắt chó săn sụp xuống và đôi gò má vàng bủng nặng nề thể hiện sự khoan dung u buồn và niềm tin của ông rằng dù buộc phải sống với sự thận trọng và cân nhắc, ông không bao giờ có thể đạt được bất kỳ thứ nào trong số những đối tượng mà, như ông biết, là những đối tượng duy nhất đáng được theo đuổi. Nhận định của ông hoàn mỹ. Sự im lặng của ông còn nguyên vẹn.

“Mọi thứ dường như có rất nhiều ý nghĩa,” Sandra nói. Nhưng với âm thanh giọng nói của chính nàng, tấm bùa mê đã bị phá vỡ. Nàng đã quên mất những nông phu. Chỉ còn lại với nàng một cảm giác về vẻ đẹp của chính mình, và may thay, ngay trước mặt nàng có một tấm gương.

“Mình rất xinh đẹp,” nàng nghĩ.

Nàng dịch cái mũ đi một chút. Chồng nàng thấy nàng đang nhìn vào gương; và đồng ý rằng vẻ đẹp rất quan trọng; nó là một sự kế thừa; người ta không thể làm ngơ nó. Nhưng nó là một rào chắn; thật sự nó khá đáng chán. Vì thế ông húp hết đĩa súp của mình và dán mắt vào cửa sổ.

“Những con chim cút,” Wentworth Williams uể oải nói. “Và rồi lũ dê; và rồi...”

“Có lẽ là sữa trứng trộn đường caramen,” chồng nàng nói theo cùng một nhịp, sau khi rút cây tăm xỉa răng ra khỏi miệng.

Nàng đặt cái muỗng lên đĩa, và món súp của nàng được dọn đi, chỉ mới ăn hết nửa phần. Nàng không bao giờ làm điều gì mất phẩm giá, bởi nàng có thứ phong cách Anh vốn rất gần gũi với tính cách Hy Lạp. Những thôn dân đã đưa tay chạm mũ vì điều đó, ông mục sư kính trọng điều đó; và những người thợ làm vườn có tay nghề cao hoặc thấp luôn vươn thẳng lưng với vẻ kính trọng khi nàng bước xuống sân hiên rộng lớn vào một sáng Chủ nhật, tha thẩn ở chỗ những cái bình đá cổ đựng tro cốt với ông thủ tướng để hái một bông hồng. Nàng đang cố quên đi chuyện đó, có lẽ, vì ánh mắt của nàng hờ hững lướt quanh căn phòng ăn của lữ quán ở Olympia, tìm kiếm khung cửa sổ nơi nàng đã để lại cuốn sách, nơi vài phút trước nàng đã phát hiện được điều gì đó. Điều gì đó rất sâu sắc, về tình yêu, nỗi buồn, và những nông phu.

Nhưng chính Evan là người thở dài; không trong cơn tuyệt vọng, cũng không thật sự trong cơn nổi loạn. Là kẻ nhiều tham vọng nhất trong số đàn ông và uể oải một cách thất thường nhất, ông chưa hoàn thành được điều gì. Việc nắm giữ lịch sử chính trị nước Anh ở những đầu ngón tay, và có cuộc sống khá hơn nhiều so với Chatham, Pitt, Burke, và Charles James Fox[7] cũng không thể giúp ông trong việc so sánh bản thân ông và thời đại của ông với họ và thời đại của họ. “Thế nhưng chưa từng có thời đại nào cần tới những người đàn ông vĩ đại hơn lúc này,” ông có thói quen tự nhủ như vậy, với một tiếng thở dài. Tại đây, ông đang xỉa răng trong một lữ quán ở Olympia. Ông đã xong việc. Nhưng đôi mắt của Sandra vẫn lang thang đâu đó.

“Những quả dưa hấu hồng hồng đó chắc chắn là nguy hiểm,” ông buồn bã nói. Và trong lúc ông nói cửa mở ra, một chàng trai mặc com lê kẻ ca rô bước vào.

“Đẹp nhưng nguy hiểm,” Sandra đáp, lập tức đối thoại với chồng mình trước sự hiện diện của một kẻ thứ ba. (Chà, một chàng trai người Anh đang đi du lịch,” nàng nghĩ bụng.)

Và Evan cũng biết tất cả những điều đó.

Phải, ông biết tất cả những điều đó, và ông ngưỡng mộ nàng. Có những mối giao thiệp rất thú vị, ông nghĩ. Nhưng với bản thân ông, với chiều cao của ông (Napoleon cao năm bộ bốn phân Anh, ông nhớ), tầm vóc của ông, sự thiếu khả năng áp đặt cá tính của chính ông lên kẻ khác (thế nhưng chưa từng có thời đại nào cần tới những người đàn ông vĩ đại hơn lúc này, ông thở dài), việc đó chỉ vô ích thôi. Ông quẳng điếu xì gà, bước tới gần Jacob và hỏi anh, với một vẻ chân thành giản dị mà anh thích, rằng có phải anh đã đi thẳng từ Anh tới đây hay chăng.

“Thật rất đúng kiểu Anh!” Sandra cười rộ khi người hầu bàn nói với họ vào sáng hôm sau rằng quý ông trẻ tuổi đã rời khỏi khách sạn lúc năm giờ để leo núi. “Tôi chắc là cậu ta đã yêu cầu anh chuẩn bị một bồn tắm?” Người hầu bàn lắc đầu, và bảo rằng anh ta sẽ hỏi lại viên quản lý.

“Anh không hiểu,” Sandra cười. “Không sao.”

Nằm duỗi người trên đỉnh núi, hoàn toàn đơn độc, Jacob cực kỳ thoải mái. Có lẽ anh chưa bao giờ vui sướng như thế trong suốt đời mình.

Nhưng vào bữa ăn tối hôm đó ông Williams hỏi anh có muốn xem tờ báo không; rồi bà Williams hỏi anh (trong lúc họ vừa hút thuốc vừa đi dạo trên sân; và làm sao anh có thể từ chối điếu xì gà của người đàn ông đó) rằng anh có từng nhìn thấy sân khấu dưới ánh trăng chưa; anh có biết Everard Sherborn không; anh có đọc văn chương Hy Lạp không, (Evan lặng lẽ đứng lên và bước vào trong) và nếu anh phải hy sinh một, đó sẽ là văn chương của Pháp hay của Nga?

“Và hiện giờ,” Jacob viết trong lá thư gửi cho Bonamy, “tôi sẽ phải đọc cuốn sách đáng nguyền rủa của bà ta”. Ý của anh là cuốn truyện ngắn Chekhov của Sandra, bởi nàng đã cho anh mượn nó.

Dù ý kiến này không phổ biến, dường như rất có khả năng rằng những nơi trơ trụi, những cánh đồng quá dày đặc đá nên không thể cày được, những đồng cỏ biển[8] dập dềnh nằm giữa Anh và Mỹ, lại thích hợp với chúng ta hơn là những thành phố.

Trong chúng ta có một cảm giác nào đó, tuyệt đối coi thường sự phán xét cá tính con người. Cảm giác này thường bị trêu chọc và xuyên tạc trong xã hội. Ví dụ, khi mọi người cùng bước vào một căn phòng, một người nào đó nói: “Rất vui được gặp anh.” Đó là một lời dối trá. Và còn nữa: “Giờ tôi thích mùa xuân hơn mùa thu. Người ta có cảm giác đó, tôi nghĩ, khi người ta già hơn.” Bởi phụ nữ luôn luôn, luôn luôn, luôn luôn nói về điều người khác cảm nhận. Và nếu họ nói, “khi người ta già hơn,” họ muốn bạn trả lời một câu hoàn toàn lạc khỏi vấn đề.

Jacob ngồi trong một mỏ đá nơi người Hy Lạp đã từng cắt cẩm thạch để xây dựng nhà hát. Đi bộ lên những ngọn đồi Hy Lạp vào giữa trưa là một hoạt động vô cùng nóng bức. Hoa anh thảo dại đã tàn; anh nhìn thấy những con rùa nhỏ khấp khểnh bò từ lùm cây này sang lùm cây khác; không khí có mùi rất nồng rồi đột nhiên dịu lại, và ánh mặt trời, khi rọi vào những mảnh cẩm thạch lởm chởm, rất chói chang với đôi mắt. Bình thản, oai nghiêm, khinh khỉnh, hơi u buồn, và chán chường với một kiểu chán chường kẻ cả, anh ngồi đó rít ống vố.

Hẳn Bonamy sẽ nói rằng đây chính là điều khiến anh khó chịu: khi Jacob rơi vào trạng thái chán chường, trông anh giống như một ngư phủ vùng Margate, hoặc một đô đốc hải quân bị thất nghiệp. Bạn không thể làm cho anh ta hiểu ra bất cứ điều gì khi anh ta đang trong một tâm trạng như thế. Tốt hơn nên mặc xác anh ta. Anh ta chậm hiểu. Anh ta dễ trở nên cáu gắt.

Anh đã thức dậy rất sớm, nhìn những pho tượng, với cuốn sổ tay du lịch trong tay.

Sandra Wentworth Williams, đang đi khắp thế giới để tìm kiếm một cuộc phiêu lưu hoặc một quan điểm, mặc toàn một màu trắng, có lẽ không cao lắm, nhưng dáng người thẳng tắp. Nàng đánh giá đầu của Jacob ngang tầm với đầu tượng thần Hermes của điêu khắc gia Praxiteles[9]. Sự so sánh này hoàn toàn do thiện cảm dành cho anh. Nhưng trước khi nàng có thể nói được lời nào anh đã ra khỏi viện bảo tàng, bỏ nàng lại một mình.

Tuy nhiên, một phu nhân thời thượng luôn đi du lịch với nhiều bộ váy áo khác nhau, và nếu màu trắng hợp với buổi sáng, có lẽ màu vàng cát với những chấm tím bên trên, một cái mũ đen, và một cuốn tiểu thuyết của Balzac, sẽ hợp với buổi chiều tối. Nàng đang tính toán như vậy trên sân hiên khi Jacob bước vào. Trông nàng rất xinh đẹp. Với hai bàn tay đan vào nhau, nàng trầm tư suy nghĩ. Dường như nàng đang lắng nghe chồng mình, đang quan sát những nông phu đi xuống với những bó cây trên lưng, đang nhận thấy ngọn đồi đã chuyển từ màu xanh lơ sang màu đen, đang phân biệt giữa đúng và sai, Jacob nghĩ, và đột nhiên bắt chéo hai chân, nhìn xuống cái quần quá đỗi xoàng xĩnh của mình.

“Nhưng trông anh ta rất khác biệt,” Sandra quả quyết.

Và Evan Williams, đang ngả lưng trong cái ghế với tờ báo trên gối, thấy ghen tị với họ. Điều tốt nhất ông có thể làm là xuất bản, với Macmillans, cuốn chuyên luận của ông về chính sách đối ngoại của Chatham. Nhưng cái cảm giác khó chịu buồn nôn chết tiệt này - sự bồn chồn, nhoi nhói và tức tối này - nó là sự ghen tuông! ghen tuông! ghen tuông! mà ông đã thề không bao giờ chịu đựng thêm lần nữa.

“Hãy tới Corinth với chúng tôi, anh Flanders ạ,” ông nói với nỗ lực mạnh mẽ hơn mức bình thường, dừng lại cạnh chiếc ghế của Jacob. Ông thấy nhẹ nhõm với lời đáp của Jacob, hay đúng hơn với kiểu nói rõ ràng, thẳng thắn, nếu có hơi rụt rè của anh, rằng anh rất thích cùng đi với họ tới Corinth.

“Đây là một anh chàng có thể thăng tiến rất cao trong chính trị,” Evan Williams nghĩ.

“Tôi định tới Hy Lạp hàng năm chừng nào tôi còn sống,” Jacob viết cho Bonamy. “Đó là cơ hội duy nhất tôi có thể nhìn thấy sự tự bảo vệ trước nền văn minh.”

“Có trời biết anh ta viết câu đó với ý gì,” Bonamy thở dài. Bởi bản thân anh không bao giờ nói một điều khó hiểu, những câu nói mơ hồ của Jacob khiến anh cảm thấy e sợ, thế nhưng theo cách nào đó lại có ấn tượng. Về phần mình, anh chỉ nói những lời rõ ràng, cụ thể và hợp lý.

Không gì có thể đơn giản hơn những lời của Sandra khi nàng đi xuống từ Vệ Thành Acro-Corinth theo con đường mòn nhỏ, trong lúc Jacob sải chân trên mặt đất gồ ghề hơn bên cạnh nàng. Nàng đã mồ côi mẹ từ lúc lên bốn; và công viên này rất rộng lớn.

“Dường như người ta không bao giờ có thể ra khỏi nó,” nàng cười lớn. Dĩ nhiên nhà nàng có một thư viện, và ông Jones thân mến, và những quan điểm về các thứ. “Tôi thường đi thơ thẩn vào bếp và ngồi lên gối của người quản gia,” nàng cười to, nhưng buồn bã.

Jacob nghĩ giá như anh có mặt ở đó hẳn anh sẽ cứu nàng, bởi nàng đã phơi mình trước những nguy cơ lớn, anh cảm thấy, và anh nghĩ bụng, “Mọi người sẽ không hiểu được một phụ nữ nói những lời như bà ấy nói.”

Nàng không để ý mấy tới sự gồ ghề của ngọn đồi; và mặc quần ống túm, anh nhìn thấy, bên dưới những vạt áo ngắn.

“Những phụ nữ như Fanny Elmer thì không như vậy,” anh nghĩ. “Cô gái mang họ Carslake cũng không; thế nhưng họ vờ vịt...”

Sandra nói thẳng thừng về mọi thứ. Anh ngạc nhiên với kiến thức của mình về những quy tắc hành xử; có biết bao điều có thể được nói ra so với người ta nghĩ; người ta có thể cởi mở biết bao với một người phụ nữ; và trước đó anh tự biết về mình ít ỏi biết bao.

Evan nhập bọn với họ trên con đường; và trong lúc họ ngồi xe lên đồi và xuống đồi (bởi Hy Lạp ở trong một tình trạng nhấp nhô nhưng phân minh, một vùng đất không cây cối, nơi bạn nhìn thấy mặt đất giữa những lá cỏ, mỗi ngọn đồi thường bị cắt rời, được tạo hình và vạch ra trên nền những vùng nước sâu xanh thẳm; những hòn đảo trắng như cát nổi bềnh bồng trên đường chân trời, thi thoảng có những cụm cây họ cọ nhú lên trong những thung lũng, rải rác những con dê đen, lấm chấm những cây ô liu nhỏ, và đôi khi có những lũng nhỏ màu trắng tỏa thành tia rẻ quạt và đan chéo nhau trên sườn của chúng), anh cau mày trong góc cỗ xe, bàn tay nắm chặt đến nổi da tay căng ra giữa những đốt ngón tay và những sợi lông nhỏ dựng đứng lên. Sandra ngồi đối diện, có vẻ nổi trội, như một Nữ thần Chiến thắng[10] sắp sửa bay vọt vào không trung.

“Nhẫn tâm!” Evan nghĩ (điều này không đúng).

“Ngu si!” Ông hồ nghi (và điều này cũng không đúng). “Tuy nhiên!...” Ông ghen tị với vợ mình.

Khi tới giờ ngủ, Jacob chợt nhận ra viết thư cho Bonamy thật khó. Anh bạn cũ Bonamy khốn khổ! Quả thật có gì đó kỳ quặc trong việc này. Anh không thể nào viết thư cho Bonamy.

“Dù sao đi nữa mình sẽ tới Athens,” anh kiên quyết, trông rất nghiêm trang, với cạm bẫy ái tình đang giăng ra trước mặt.

Hai vợ chồng nhà Williams đã từng tới Athens.

Thành Athens vẫn còn khả năng gây kinh ngạc cho một chàng trai với tư cách sự kết hợp kỳ lạ nhất, sự sắp xếp phi lý nhất. Lúc nó tầm thường; lúc lại bất hủ. Lúc là thứ nữ trang lục địa rẻ tiền được đặt trên những mâm phủ vải nhung lông. Lúc là người phụ nữ oai nghiêm đứng khỏa thân, trừ một lớp vải mỏng manh trên đầu gối. Anh không thể xác lập được trạng thái cảm giác của mình trong lúc đi dạo, vào một chiều nắng chói, dọc theo đại lộ Parisian, phải nhảy tránh khỏi lối đi của những cỗ xe hoàng gia bốn bánh cũ nát không thể tả đang lạch cạch lăn bánh trên con đường đầy ổ gà, được chào mừng bởi những công dân nam nữ ăn mặc tuềnh toàng với mũ quả dưa và trang phục lục địa; một người chăn dê mặc váy đàn ông miền núi, đội mũ lưỡi trai và mang ghệt, suýt chút nữa đã lùa đàn dê của anh ta vào giữa những bánh xe ngựa hoàng gia; và trong suốt thời gian đó Vệ Thành dâng cao giữa không trung, tự nâng nó lên trên thành phố; như một lượn sóng lớn bất động, những cột đá vàng nhạt của đền Parthenon hiện ra nổi bật bên trên nó.

Người ta có thể nhìn thấy những cột đá màu vàng của đền Parthenon suốt mọi giờ trong ngày, được trồng vững chắc trên Vệ Thành; vào lúc hoàng hôn, khi những con tàu trong cảng Piraues nổ súng, một cái chuông reo lên, một người đàn ông mặc đồng phục (áo gi lê không cài cúc) xuất hiện; và những người phụ nữ cuộn những chiếc tất đen mà họ đan dưới bóng của mấy cây cột lại, cất tiếng gọi lũ trẻ con, và lũ lượt kéo nhau xuống đồi trở về nhà.

Chúng lại có mặt ở đó, những cây cột, những đầu hồi, Đền Chiến thắng và đền Erechtheum, trên một vách đá nâu vàng, ngay khi bạn đẩy những cánh cửa chớp lên vào buổi sáng, và khi nghiêng người ra, bạn nghe thấy tiếng lanh canh loảng xoảng, tiếng la hét ồn ào, tiếng roi quật vun vút trên con đường bên dưới. Chúng có mặt ở đó.

Tính chất cực kỳ khẳng quyết toát ra từ chúng, lúc thì màu trắng chói lọi, rồi lại màu vàng, và trong một số ánh sáng màu đỏ, gợi nên những ý tưởng về sự trường cửu, về sự dâng trào qua mặt đất của một năng lượng tinh thần mà ở một nơi nào khác sẽ tan biến trong những thứ thanh lịch vặt vãnh. Nhưng sự trường cửu này tồn tại hoàn toàn độc lập với sự ngưỡng mộ của chúng ta. Dù vẻ đẹp đủ chất nhân văn để khiến cho chúng ta trở nên yếu đuối, đủ khuấy động lớp bùn lắng đọng - những hồi ức, những ruồng bỏ, những tiếc nuối, những cống hiến tình cảm - đền Parthenon tách rời khỏi mọi thứ đó; và nếu bạn suy xét nó đã đứng thế nào suốt đêm, trong nhiều thế kỷ, bạn bắt đầu kết nối sự chói lọi (vào giữa trưa lớp men phủ rất chói chang và hầu như người ta có thể nhìn thấy những phù điêu trang trí) với ý tưởng rằng có lẽ chỉ có cái đẹp là bất tử.

Ngoài ra, so với lớp vữa đã phồng dộp, những bài tình ca mới ong óng vang lên cùng tiếng bập bùng của đàn ghi ta và máy hát, và những gương mặt di động nhưng vô nghĩa của đường phố, đền Parthenon thật sự gây kinh ngạc bởi sự im lặng trầm tĩnh của nó; tính chất này mạnh mẽ đến độ chẳng những đang suy tàn, mà trái lại, có vẻ như Parthenon có khả năng tồn tại lâu bền hơn toàn cõi thế.

“Và những người Hy Lạp, như những người có đầu óc khác, không bao giờ bận tâm tới việc hoàn thành lưng của những pho tượng,” Jacob nói, đưa tay che mắt và nhận thấy rằng hông của pho tượng đang quay đi khỏi tầm mắt vẫn còn y nguyên chất đá thô.

Anh nhận thấy tính chất hơi phá cách trong hàng lối của những bậc thềm mà “ý thức nghệ thuật của người Hy Lạp ưa thích hơn so với sự chính xác mang tính toán học”; anh đọc được câu này trong cuốn sổ tay hướng dẫn du lịch.

Anh đứng ngay bên trên địa điểm từng đặt pho tượng lớn của Athens, và nhận ra những cột mốc nổi tiếng hơn của phong cảnh bên dưới.

Nói tóm lại, anh chính xác và cần cù; nhưng rất mực u buồn. Ngoài ra anh còn bị những tay hướng dẫn viên du lịch làm phiền. Chuyện này xảy ra hôm Thứ Hai.

Nhưng vào Thứ Tư, anh viết cho Bonamy một bức điện tín, bảo anh ta lập tức tới ngay. Và sau đó anh vò nát nó và quẳng nó xuống rảnh nước.

“Bởi lẽ anh ta sẽ không tới,” anh nghĩ. “Và mình dám nói cái cảm giác này sẽ vơi dần.” “Cái cảm giác này” là cảm giác khó chịu, đau khổ, một thứ gì đó giống như lòng ích kỷ - người ta hầu như ước ao nó sẽ dừng lại - nó đang ngày càng vượt ra khỏi điều khả dĩ - “Nếu nó tiếp tục lâu hơn mình sẽ không thể đương cự với nó - nhưng nếu một ai đó khác cũng đồng thời nhìn thấy nó - Bonamny đang chết dí trong căn phòng của anh ta ở Hội quán Lincoln - ôi chao, tôi nói, mẹ kiếp tất cả, tôi nói,” - quang cảnh của Hymettus, Pentelicus, Lycabettus[11] ở một phía, và biển cả ở phía bên kia, khi người ta đứng trong đền Parthenon vào lúc hoàng hôn, bầu trời hồng rực màu lông chim, đồng bằng với đủ sắc màu, và cẩm thạch nâu vàng trong mắt người ta, có tính chất ngột ngạt thế đó. May thay Jacob ít khi ý thức tới sự giao tiếp cá nhân: anh ít khi nghĩ tới Platon hay Socrates bằng xương bằng thịt; mặt khác cảm nhận của anh đối với nghệ thuật kiến trúc rất mạnh mẽ; anh thích những pho tượng hơn những bức tranh; và anh bắt đầu suy nghĩ nhiều về những vấn nạn của nền văn minh, vốn đã được giải quyết rất xuất sắc, dĩ nhiên, bởi người Hy Lạp cổ đại, dù giải pháp của họ không giúp ích gì cho chúng ta. Thế rồi cạm bẫy ái tình lại làm cho anh đau nhói một bên sườn khi anh nằm trên giường đêm hôm Thứ Tư; và anh xoay người lại với một kiểu ngã nhào đầy tuyệt vọng, lòng nhớ nhung Sandra Wentworth Williams, kẻ anh đã phải lòng.

Ngày kế tiếp anh trèo núi Pentelicus.

Hôm sau nữa anh lên Vệ Thành. Trời hãy còn sớm; nơi đó hầu như vắng lặng; và có thể có sấm trên bầu trời. Nhưng mặt trời tỏa sáng khắp Vệ Thành.

Dự định của Jacob là ngồi đọc sách, và tìm một phiến đá cẩm thạch thuận tiện, từ đó có thể nhìn thấy Marathon[12], nhưng phải ở trong bóng mát, trong lúc đền Erechtheum trắng lóa trước mặt anh, và anh ngồi đó. Sau khi đọc một trang anh đặt ngón cái vào cuốn sách. Vì sao không cai trị quốc gia theo cách nó nên được cai trị? Và anh đọc tiếp.

Không ngờ gì nữa, vị trí nhìn xuống Marathon của anh theo cách nào đó đã nâng cao tinh thần anh. Hoặc có thể một bộ bão to chậm chạp có những khoảnh khắc nở hoa như vậy. Hoặc trong lúc ra nước ngoài, anh đã vô tình lạc bước vào những suy tư về chính trị.

Sau đó, khi ngẩng lên và nhìn thấy đường viền rõ nét, những suy tưởng của anh bỗng nhiên mở rộng; Hy Lạp cổ đại đã kết thúc; đền Parthenon đang suy tàn; thế nhưng anh có mặt ở đó.

(Những quý bà với ô màu lục và trắng đi ngang qua sân đền - những quý bà người Pháp đang trên đường tới gặp chồng họ ở Constantinople.)

Jacob lại đọc tiếp. Và như thể được gợi hứng bởi những gì vừa đọc, anh đặt cuốn sách lên mặt đất và viết một ghi chú về tầm quan trọng của lịch sử - về nền dân chủ - một trong số những phác thảo nguệch ngoạc mà công trình của một đời người có thể dựa vào đó; hoặc hai mươi năm sau nó sẽ rơi ra từ một cuốn sách, và người ta không thể nhớ từ nào của nó. Nó khá tẻ nhạt. Tốt hơn nó nên bị đốt đi.

Jacob viết; bắt đầu vẽ một cái mũi thẳng; khi tất cả các quý bà người Pháp vừa khép mở những cái ô ngay bên dưới chỗ anh vừa nhìn lên bầu trời và cảm thán rằng người ta không biết phải mong đợi điều gì - mưa hay thời tiết đẹp?

Jacob đứng lên và lững thững đi tới đền Erechtheum. Vẫn còn nhiều cây cột tượng phụ nữ đứng đó chống đỡ mái nhà trên đầu. Jacob nhẹ nhàng vươn vai, bởi sự bền vững và cân bằng tác động tới cơ thể trước tiên. Những pho tượng này đã thủ tiêu mọi thứ thế đấy! Anh chăm chú nhìn chúng, rồi quay đi, và kia là Madame Lucien Grave đứng trên một khối cẩm thạch với chiếc máy ảnh hiệu Kodak chĩa vào đầu anh. Dĩ nhiên bà ta nhảy xuống, bất chấp tuổi tác, thân hình và đôi ủng chật - sau khi cô con gái đi lấy chồng, bà đã lao theo niềm đam mê nghệ thuật, cũng hay hay theo cách của nó; bà ta nhảy xuống, nhưng chỉ sau khi Jacob đã nhìn thấy bà ta.

“Những phụ nữ chết tiệt này - những phụ nữ chết tiệt này!” Anh nghĩ. Và anh tới để lấy cuốn sách đã bỏ lại trên mặt đất trong đền Parthenon.

“Họ toàn phá hỏng các thứ,” anh lẩm bẩm, dựa vào một trong số cột đá, ép chặt cuốn sách giữa cánh tay và hông. (Còn về phần thời tiết, chắc chắn không lâu nữa bão sẽ tới; mây đang phủ kín Athens.)

“Chính là những phụ nữ chết tiệt đó,” Jacob nói, không có bất cứ dấu vết nào của sự cay đắng, mà đúng hơn với sự buồn rầu và thất vọng rằng điều lẽ ra nên xảy ra sẽ không bao giờ xảy ra.

(Nói chung, có thể mong đợi sự vỡ mộng trầm trọng này của những chàng trai đang ở trong thời kỳ đẹp nhất của cuộc đời, với trí óc minh mẫn và cơ thể cường tráng, vốn sẽ sớm trở thành những người cha của gia đình và những giám đốc nhà băng.)

Sau đó, khi chắc rằng những phụ nữ Pháp đã đi khỏi, và thận trọng nhìn quanh, Jacob lững thững đi tới đền Erechtheum và len lén nhìn tượng vị nữ thần ở phía tay trái, đang đỡ mái nhà trên đầu. Bà ta khiến anh nhớ tới Sandra Wentworth Williams. Anh nhìn bà ta, rồi nhìn sang chỗ khác. Anh rất đỗi xúc động, và với cái mũi Hy Lạp mòn vẹt trong đầu, với Sandra trong đầu, với tất cả mọi dạng sự vật trong đầu, anh bước ra ngoài, đi thẳng lên đỉnh núi Hymettus, một mình, trong tiết trời nóng bức.

Cũng trong chiều hôm đó Bonamy tới uống trà với Clara Durrant, chỉ cốt để nói chuyện về Jacob, tại quảng trường phía sau phố Sloane, nơi vào những ngày xuân nóng nực có những tấm màn che kẻ sọc trên những cửa sổ mặt tiền, những con ngựa lẻ loi gõ móng lên mặt đường trải đá dăm ngoài cửa, và những quý ông lớn tuổi mặc gi lê vàng giật chuông và bước vào rất lịch sự khi cô người hầu từ tốn đáp rằng bà Durrant đang ở nhà.

Bonamy ngồi với Clara trong căn phòng mặt tiền ngập nắng trong lúc cây đàn thùng ngọt ngào trỗi giọng ở bên ngoài; cỗ xe chở nước tưới đường chậm rãi phun nước lên vỉa hè; những cỗ xe ngựa kêu leng keng, và tất cả những vật dụng bằng bạc và những tấm vải hoa che màn, những tấm thảm nâu và xanh lơ và những lọ hoa cắm đầy những cành xanh, trở nên có sọc với những chấn song vàng run rẩy.

Không cần phải minh họa sự nhạt nhẽo của những gì họ nói - Bonamy tiếp tục dịu dàng đáp lại nàng bằng những câu trả lời lặng lẽ và càng lúc càng ngạc nhiên trước sự tồn tại bị nén chặt và cắt xén bên trong một chiếc giày vải satin trắng (trong lúc bà Durrant đang lanh lảnh phát biểu với Ngài Nào Đó ở căn phòng phía sau) cho tới khi tâm hồn trong trắng của Clara, một tâm hồn với những chiều sâu chưa biết tới, hiển lộ với toàn bộ sự chân thật của nó; và hẳn anh đã thốt lên cái tên của Jacob nếu anh không bắt đầu cảm thấy chắc chắn rằng Clara yêu anh ta - và anh hoàn toàn bất lực trước điều này.

“Không được, bất kể là gì!” Anh kêu lên, khi cửa đóng lại. Anh đã có một cảm giác rất kỳ quặc, đối với một người có tính khí như anh, trong lúc đi bộ qua công viên, về những cỗ xe ngựa được lái đi không sao cưỡng lại; về những luống hoa được bố trí theo hình học một cách không thỏa hiệp; về sức mạnh ồ ạt chảy quanh những khuôn mẫu hình học theo cách thức điên rồ nhất trần đời. “Clara có phải là một cô gái lặng lẽ không?” Anh nghĩ thầm, dừng lại để quan sát những cậu bé đang tắm trong hồ Serpentine, “Jacob có cưới nàng không?”

Nhưng ở Athens tràn ánh nắng; ở Athens, nơi hầu như không thể nào có được bữa trà chiều, những quý ông lớn tuổi khoái chuyện chính trị cứ nói miên man suốt buổi về đề tài đó; ở Athens Sandra Wentworth Williams đang ngồi, choàng khăn, mặc y phục trắng, đôi chân duỗi dài ra phía trước, một cùi chỏ đặt trên chỗ gác tay của chiếc ghế tre, những làn khói chập chờn lan tỏa từ điếu thuốc của nàng.

Những cây cam sum suê trong Quảng trường Hiến pháp[13], ban nhạc, những bàn chân kéo lê, bầu trời, những ngôi nhà, chanh và hoa hồng đủ màu - tất cả những thứ này trở nên có ý nghĩa đối với Wentworth Williams sau tách cà phê thứ hai đến độ nàng bắt đầu soạn một vở kịch về câu chuyện của người phụ nữ Anh cao quý và bốc đồng, kẻ đã cung cấp một chỗ ngồi trong cỗ xe ngựa cho quý bà lớn tuổi người Mỹ ở Mycenae (bà Duggan) - không hoàn toàn là một câu chuyện giả tạo, dù nó không nói gì tới Evan, đang đứng đầu tiên trên chân này, rồi tới chân kia, chờ những người phụ nữ dừng lại để tán chuyện.

“Tôi đang đưa cuộc đời của Cha Damien vào thơ,” bà Duggan từng nói, bởi bà đã mất hết mọi thứ - mọi thứ trên đời, chồng con và mọi thứ, nhưng đức tin vẫn còn nguyên vẹn.

Sandra, trôi nổi từ cái cụ thể sang cái phổ quát, ngả lưng ra phía sau trong một trạng thái xuất thần.

Cỗ xe thời gian vốn thúc hối chúng ta cứ thẳng tiến một cách đầy bi kịch; những kẻ lao dịch và ăn không ngồi rồi vĩnh viễn, giờ bùng cháy thành ngọn lửa chói chang giống như những quả cầu nhỏ màu vàng giữa đám lá xanh kia (nàng đang nhìn những cây cam); những nụ hôn lên những đôi môi sẽ chết; thế giới xoay vần, xoay vần trong những mê cung của nhiệt độ và âm thanh - dù chắc chắn có buổi chiều tối lặng lẽ với vẻ xanh xao đáng yêu của nó, “Bởi mình nhạy cảm với mọi phương diện của nó,” Sandra nghĩ, “và bà Duggan sẽ viết thư cho mình mãi mãi, và mình sẽ trả lời những lá thư của bà ta.” Lúc này ban nhạc hoàng gia đi ngang qua với lá quốc kỳ, khuấy động những vòng cảm xúc rộng lớn hơn, và cuộc sống trở nên một thứ gì đó mà kẻ quả cảm trèo lên và cưỡi nó lao ra biển - mái tóc bị thổi ngược về sau (nàng hình dung ra nó, và cơn gió nhẹ nhàng khua động giữa những cây cam) và bản thân nàng đang nổi lên từ bụi nước loáng bạc - khi nàng nhìn thấy Jacob. Anh đang đứng trong quảng trường với một cuốn sách dưới cánh tay, nhìn trống vắng xung quanh. Việc anh có một thân hình to cao và có thể trở nên béo phì theo thời gian là một thực tế.

Nhưng nàng hồ nghi về việc anh chỉ là một gã vụng về.

“Anh chàng đó kìa,” nàng nói, hơi gắt gỏng, ném điếu thuốc đi, “cái cậu Flanders đó.”

“Ở đâu?” Evan đáp. “Tôi không nhìn thấy cậu ta.”

“Ồ, đang bước ra xa - giờ ở phía sau những cây cam. Không, anh không thể nhìn thấy cậu ta. Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ tình cờ gặp lại cậu ta,” và dĩ nhiên họ gặp lại anh.

Nhưng anh ta là một gã vụng về tới mức độ nào? Jacob Flanders ở tuổi hai mươi sáu là một anh chàng ngu ngốc tới mức độ nào? Không ích lợi gì khi cố kết luận về bản chất của mọi người. Người ta phải đi theo những gợi ý, không chính xác là những gì đã được nói, cũng không hoàn toàn là những gì đã được thực hiện. Quả thật có một số người tạo nên những ấn tượng không thể bôi xóa về tính cách ngay tức khắc. Số khác dây dưa, rề rà và dễ bị lôi kéo theo cách này cách khác. Những phu nhân già tốt bụng bảo đảm với chúng ta rằng loài mèo thường là kẻ giỏi xét đoán tính cách nhất. Một con mèo sẽ luôn luôn tới với một người tốt, họ nói; nhưng bà Whitehorn, chủ nhà trọ của Jacob, ghét lũ mèo.

Cũng có quan điểm đáng tôn trọng rằng việc chỉ trích hành động và tính cách kẻ khác[14] ngày nay đã trở nên quá trớn. Nói cho cùng, có gì là quan trọng khi cho rằng Fanny Elmer hoàn toàn ủy mị và cảm tính, còn bà Durrant thì cứng rắn như thép? Rằng Clara, do chịu ảnh hưởng của mẹ khá nhiều (những kẻ buôn chuyện nói thế), chưa bao giờ có cơ hội thực hiện bất cứ điều gì không liên quan tới chiếc vợt chơi bóng của nàng, và chỉ bộc lộ trước những đôi mắt rất tinh tường những chiều sâu cảm giác vốn cực kỳ đáng ngại; và chắc chắn sẽ trao thân cho một kẻ không xứng đáng với nàng một ngày nào đó, trừ phi, trong nàng có một tia lửa tinh thần của mẹ nàng - theo cách nào đó là tính quả cảm; đám buôn chuyện nói thế. Nhưng khó mà áp dụng từ này với Clara! Những kẻ khác nghĩ rằng ở một mức độ nào đó nàng khá đơn giản. Và đó chính là lý do, họ nói, vì sao nàng thu hút Dick Bonamy - chàng trai với cái mũi của Wellington. Hiện giờ anh là một ứng cử viên vô danh, nếu bạn muốn nói thế. Và những lời đàm tiếu này sẽ đột ngột dừng lại. Rõ ràng họ muốn ám chỉ khuynh hướng lập dị của anh - đã được đồn thổi từ lâu giữa họ.

“Nhưng đôi khi chính một phụ nữ như Clara là kẻ mà những người đàn ông có tính khí như thế cần...” cô Julia Eliot sẽ nói bóng gió.

“Vâng,” ông Bowley sẽ đáp, “có thể là vậy.”

Bởi bất kể những cuộc cà riềng cà tỏi này kéo dài bao lâu, và bất kể họ moi móc tính cách của các nạn nhân cho tới khi chúng sưng lên và mềm nhũn ra như những lá gan ngỗng để gần lửa nóng thế nào, họ không bao giờ đi tới một quyết định.

“Cái anh chàng Jacob Flanders đó,” họ sẽ nói, “trông rất nổi bật - thế nhưng rất khác thường.” Sau đó họ sẽ tự đặt mình vào vị trí của Jacob và vĩnh viễn chao đảo giữa hai thái cực. Anh cưỡi ngựa đi săn với chó săn - chạy theo một xu hướng thời thượng, bởi anh không có một xu.

“Ông có bao giờ nghe nói cha của anh ta là ai không?” Julia Eliot hỏi.

“Họ bảo mẹ của anh ta có quan hệ thế nào đó với vợ chồng Rocksbier,” ông Bowley đáp.

“Dù sao thì anh ta cũng không siêng năng làm việc cho lắm.”

“Các bạn của anh ta rất yêu quý anh ta.”

“Ông muốn nói tới Dick Bonamy?”

“Không, tôi không có ý đó. Rõ ràng với Jacob có một con đường khác. Anh ta chính xác là chàng trai sẽ ngã lộn nhào trong tình yêu và ăn năn về nó suốt quãng đời còn lại.”

“Ồ, ông Bowley,” bà Durrant lên tiếng, sà xuống họ theo cung cách hách dịch của mình, “ông có nhớ bà Adams không? Ờ, đó là cháu họ của bà ấy.” Và ông Bowley đứng lên, nhã nhặn cúi chào, và tới lấy quả dâu.

Thế là chúng ta bị lái ngược lại để xem phía bên kia có ý gì - những người đàn ông trong các câu lạc bộ và các văn phòng của chính phủ - khi họ nói rằng việc khắc họa tính cách là một nghệ thuật phù phiếm bên cạnh lò sưởi, một vấn đề của những cây kim gút và kim may, những phác họa tinh vi bao quanh sự trống rỗng, những hoa văn trang trí và những nét vẽ nghệch ngoạc đơn thuần.

Những chiến thuyền tỏa ra trên Bắc Hải, duy trì điểm đứng chân của họ với một khoảng cách chính xác. Khi có một dấu hiệu định sẵn, mọi khẩu súng đều nhắm vào một mục tiêu vốn sẽ nổ tan tành như xác pháo (viên chỉ huy đếm giây, đồng hồ trong tay - khi đếm tới sáu ông ta ngẩng lên). Với sự lãnh đạm và gương mặt điềm tĩnh như nhau, một chục thanh niên ở lứa tuổi đẹp nhất trong đời lao xuống những chiều sâu của biển; và bình tĩnh chết ngạt (dù với sự thông thạo hoàn hảo về máy móc) cùng nhau ở đó, không một tiếng than van. Như những đội lính chì, quân đội bao trùm những cánh đồng ngô, di chuyển lên sườn đồi, dừng lại, nhẹ nhàng cuốn về phía này phía khác, và trải phẳng ra, ngoại trừ rằng, thông qua những cái ống nhòm, có thể thấy một hoặc hai bộ phận nhỏ vẫn vận động lên xuống như những đoạn gãy rời của một que diêm.

Những hành động này, cùng với sự xuất hiện liên tục của các ngân hàng, phòng thí nghiệm, văn phòng lãnh sự, và những cơ sở kinh doanh, là những nhát chèo đẩy con thuyền thế giới tiến tới, họ nói. Và chúng được xử lý bởi những người đàn ông được chạm khắc một cách nhẵn nhụi như viên cảnh sát lãnh đạm ở phố Ludgate Circus. Nhưng bạn sẽ nhận thấy rằng thay vì trở nên béo phị, gương mặt của anh ta cứng đơ do sức mạnh của ý chí, và gầy guộc do những nỗ lực duy trì nó như thế. Khi cánh tay phải của anh ta giơ lên, mọi nguồn lực trong các huyết mạch chảy thẳng từ vai tới những đầu ngón tay; không một ao-xơ nào bị chệch vào những thôi thúc đột ngột, những tiếc nuối tình cảm, những khác biệt trùng trùng. Những chiếc xe buýt dừng lại đúng giờ.

Chúng ta sống như vậy, họ nói, bị lái đi bởi một sức mạnh không thể nắm bắt. Họ bảo rằng những tiểu thuyết gia không bao giờ nắm bắt được nó; rằng nó ầm ầm lao qua tổ của họ và để lại họ rách toạc tới tận xương. Đây là cái mà nhờ nó chúng ta sống còn - sức mạnh không thể nắm bắt này.

“Những người đàn ông đâu?” Vị tướng già Gibbons nói, nhìn quanh phòng khách, đầy những người ăn mặc chỉnh chu như thường lệ của những chiều Chủ nhật. “Những khẩu súng đâu?”

Bà Durrant cũng đưa mắt nhìn.

Nghĩ rằng bà mẹ cần tới mình, Clara bước vào phòng; rồi lại đi ra.

Họ đang trò chuyện về nước Đức ở nhà của gia đình Durrant, và Jacob (bị lái đi bởi sức mạnh không thể nắm bắt) bước nhanh xuống phố Hermes và chạy thẳng vào nhà của đôi vợ chồng Williams.

“Ồ!” Sandra kêu lên, với một sự thân thiết mà nàng đột nhiên cảm thấy. Và Evan nói thêm, “May mắn làm sao!”

Bữa ăn tối họ mời anh trong khách sạn nhìn ra Quảng trường Hiến pháp rất ngon lành. Những cái rổ mạ kim loại đựng những ổ bánh mì mới lấy khỏi lò. Có bơ thật. Và món thịt hầu như không cần tới sự ngụy trang của vô số thứ rau quả đỏ và xanh chìm ngập trong nước xốt.

Tuy nhiên, có điều thật lạ. Những cái bàn nhỏ được đặt cách nhau trên nền nhà đỏ thắm với chữ Vua Hy Lạp được viết lồng vào nhau bằng màu vàng. Sandra ngồi ăn tối với cái mũ và khăn choàng như thường lệ. Evan ngoái đầu nhìn phía này phía khác; điềm tĩnh nhưng mềm mỏng; và đôi khi thở dài. Thật lạ. Bởi họ là những người Anh cùng tới Athens vào một chiều tối tháng Năm. Jacob vừa tự lấy món này món khác vừa trả lời một cách thông minh, nhưng với chút ngân vang trong giọng nói.

Vợ chồng Williams sẽ đi Constantinople sáng sớm hôm sau, họ nói.

“Trước khi anh thức dậy,” Sandra nói.

Vậy là họ sẽ bỏ lại Jacob một mình. Evan xoay người rất nhẹ và kêu món gì đó - một chai rượu vang - rồi rót cho Jacob, với một vẻ quan tâm, với một vẻ quan tâm nhuốm tình phụ tử, nếu điều đó khả dĩ. Bị bỏ lại một mình - đó là điều tốt đối với một thanh niên. Không bao giờ đất nước cần tới những người đàn ông hơn lúc này. Ông thở dài.

“Và anh đã tới Vệ Thành?” Sandra hỏi.

“Vâng,” Jacob đáp. Rồi họ cùng bước tới cửa sổ, trong lúc Evan nói chuyện với người phụ trách hầu bàn về việc gọi họ dậy sớm.

“Thật đáng ngạc nhiên,” Jacob nói cộc lốc.

Sandra hơi mở to mắt đôi chút. Có lẽ hai lỗ mũi của nàng cũng nở rộng thêm chút ít.

“Vậy là lúc sáu giờ rưỡi,” Evan nói, bước về phía họ, trông như thể ông đối mặt với thứ gì đó khi bắt gặp vợ mình và Jacob đang đứng quay lưng về phía cửa sổ.

Sandra mỉm cười với ông.

Và, khi ông bước tới cửa sổ, không có gì để nói, nàng nói thêm, bằng những nửa câu gián đoạn:

“Ờ, nhưng xinh đẹp biết bao, có phải không? Vệ Thành, Evan ạ, hay anh cũng thấy mệt?”

Nghe thấy thế Evan nhìn họ, vì Jacob đang nhìn đăm đăm về phía trước, vào vợ ông, với vẻ mặt cáu kỉnh, giận dỗi, nhưng buồn phiền - không phải để bà thương hại anh. Linh hồn không hề biết mủi lòng của tình yêu, bởi anh có thể làm bất cứ điều gì, cũng không kết thúc được những đau khổ tột cùng.

Họ đi về phòng của mình, còn anh ngồi trong phòng hút thuốc, nhìn ra Quảng trường Hiến pháp.

“Evan vui vẻ hơn khi ở một mình,” Sandra nói. “Chúng tôi đã bị những tờ báo chia rẽ nhau. Chà, giá mọi người có thứ mà họ muốn thì tốt hơn... Anh đã thấy mọi thứ tuyệt vời này từ khi chúng ta gặp nhau... Thật ấn tượng... Tôi nghĩ rằng anh đã thay đổi.”

“Bà có muốn tới Vệ Thành không,” Jacob nói. “Ngay phía trên này.”

“Người ta sẽ nhớ nó suốt đời,” Sandra đáp.

“Vâng,” Jacob nói. “Tôi ước gì bà có thể tới vào ban ngày.”

“Lúc này tuyệt hơn,” Sandra nói, vẫy tay.

Jacob có vẻ mơ hồ.

“Nhưng bà nên nhìn thấy đền Parthenon vào ban ngày,” anh nói. “Ngày mai bà không thể tới - sẽ là quá sớm.”

“Anh đã ngồi đó giờ này sang giờ khác một mình sao?”

“Lúc sáng này có một số phụ nữ thật dễ sợ,” Jacob nói.

“Những phụ nữ dễ sợ?” Sandra lặp lại.

“Những phụ nữ Pháp.”

“Nhưng một điều rất tuyệt vời đã xảy ra,” Sandra nói. Mười phút, mười lăm phút, nửa giờ - đó là tất cả thời gian ở phía trước nàng.

“Phải.”

“Khi người ta ở tuổi của anh - khi người ta trẻ. Anh sẽ làm gì? Anh sẽ yêu, ồ, phải! Nhưng đừng vội vàng quá. Tôi già hơn anh nhiều.”

Nàng bị đẩy khỏi vỉa hè bởi một đám đàn ông đi nối tiếp nhau.

“Chúng ta đi tiếp chứ?” Jacob hỏi.

“Chúng ta cứ đi tiếp,” nàng khăng khăng.

Bởi nàng không thể dừng lại cho tới khi đã nói với anh - hoặc nghe anh nói - hoặc phải chăng nàng mong mỏi một hành động nào đó của anh? Xa xa trên đường chân trời nàng nhìn thấy nó trong tâm tưởng, và không thể yên lòng.

“Bà chưa bao giờ mời người Anh ngồi ngoài trời như thế này phải không,” anh nói.

“Không bao giờ - không. Khi quay lại nước Anh anh sẽ không quên đêm nay - hoặc cùng tới Constantinople với chúng tôi đi!” Nàng đột ngột kêu lên.

“Nhưng...”

Sandra thở dài.

“Anh phải tới Delphi, dĩ nhiên rồi,” nàng nói. “Nhưng,” nàng tự hỏi lòng, “mình muốn gì ở anh ta? Có lẽ nó là một điều gì đó mà mình đã bỏ lỡ...”

“Anh sẽ tới đó vào khoảng sáu giờ chiều,” nàng nói. “Anh sẽ nhìn thấy những con đại bàng.”

Trông Jacob có vẻ nghiêm nghị, thậm chí tuyệt vọng dưới ánh sáng của góc phố, nhưng lại điềm tĩnh. Anh đang đau khổ, có lẽ. Anh cả tin. Thế nhưng có một sự cay độc nào đó ở anh. Trong anh có những hạt giống của sự vỡ mộng tột cùng, vốn sẽ tới với anh từ những người phụ nữ ở lứa tuổi trung niên. Có lẽ nếu người ta có đủ nỗ lực để lên tới đỉnh đồi thì nó không cần đến với anh nữa - sự vỡ mộng tột cùng này từ những phụ nữ ở lứa tuổi trung niên.

“Khách sạn này thật kinh khủng,” nàng nói. “Những du khách trước đó đã để lại trong bồn rửa mặt của họ đầy nước bẩn. Luôn là vậy,” nàng bật cười.

“Những kẻ người ta gặp thật thô lỗ,” Jacob nói.

Sự phấn khích của anh khá rõ ràng.

“Hãy viết và kể cho tôi nghe về chuyện đó,” nàng nói. “Và kể cho tôi nghe anh cảm thấy thế nào và nghĩ gì. Hãy kể cho tôi nghe mọi thứ.”

Đêm tối đen. Vệ Thành là một mô đất lởm chởm.

“Tôi vô cùng muốn thế,” anh đáp.

“Khi quay lại London, chúng ta sẽ gặp nhau...”

“Vâng.”

“Tôi cho là họ vẫn để mở cổng?” Anh hỏi.

“Chúng ta có thể leo qua!” Nàng hăng hái trả lời.

Che mờ vầng trăng và hoàn toàn khiến cho Vệ Thành tối mịt, những đám mây trôi từ hướng đông sang hướng tây. Những đám mây quánh lại; hơi nước dày lên; những vệt sương lưu lại và chồng chất lên nhau.

Lúc này khắp thành Athens tối đen, ngoại trừ những vệt đỏ mỏng manh hình thành từ những đường phố; và mặt tiền của Hoàng cung trông tái nhợt dưới ánh đèn điện. Ngoài biển, những cầu tàu nhô ra, được đánh dấu bởi những chấm riêng biệt; những lượn sóng trở nên vô hình, những mũi đất và đảo là những cái bướu lạc đà tối tăm với vài ánh đèn.

“Tôi rất muốn đưa em tôi theo, nếu có thể,” Jacob lẩm bẩm.

“Và khi mẹ anh tới London...” Sandra nói.

Vùng đất liền của Hy Lạp tối đen; và ở đâu đó mé ngoài đảo Euboea, hẳn một đám mây đã chạm vào sóng khiến chúng bắn nước lên tung tóe - lũ cá heo lượn vòng càng lúc càng sâu dưới biển. Lúc này gió ồ ạt thổi xuôi về phía biển Marmara nằm giữa Hy Lạp và những cánh đồng của thành Troy.

Ở Hy Lạp và những vùng cao của Albania và Thổ Nhĩ Kỳ, gió rửa sạch cát và bụi, và tự gieo nó xuống với những hạt khô li ti dày đặc. Rồi nó quật mạnh vào những mái vòm trơn nhẵn của những thánh đường Hồi giáo và khiến cho những cây bách đang đứng cứng đơ cạnh những tấm bia mộ chít khăn tang của tín đồ Hồi giáo kêu cọt kẹt và xù gai ra.

Những tấm khăn choàng của Sandra cuộn quanh người nàng.

“Tôi sẽ tặng bà cuốn sách của tôi,” Jacob nói. “Đây. Bà sẽ giữ nó chứ?”

(Đó là cuốn thơ của Donne[15].)

Có lúc sự khuấy động của không khí để lộ ra một ngôi sao đang lao vun vút. Có lúc trời tối đen. Có lúc ánh đèn này nối tiếp ánh đèn kia phụt tắt. Hiện giờ những thành phố lớn - Paris, Constantinople, London - đen kịt như những tảng đá nằm rải rác. Có thể phân biệt được những thủy lộ. Ở Anh, cây cối trĩu lá. Có lẽ tại đây, trong một khu rừng miền nam nào đó một ông cụ đang đốt dương xỉ khô và lũ chim bị giật mình. Đàn cừu ho khúc khắc; một bông hoa dịu dàng nghiêng mình sang một bông hoa khác.

Bầu trời nước Anh mềm mại, có phần trắng đục hơn bầu trời phương Đông. Có một sự êm dịu nào đó đã trở thành một phần của bầu trời từ những ngọn đồi tròn xanh cỏ, một sự ẩm ướt nào đó. Cơn gió biển lùa vào cửa sổ phòng ngủ của Betty Flanders, và quý bà góa chồng nhẹ nhàng chống tay ngồi dậy, thở dài như một người đã nhận ra sự áp bức của vĩnh cửu, nhưng sẽ vui vẻ ngăn nó lại thêm ít lâu nữa - vâng, thêm ít lâu nữa.

Nhưng hãy quay lại với Jacob và Sandra.

Họ đã biến mất. Kia là Vệ Thành; nhưng họ có tới đó chưa? Những cây cột và ngôi đền còn đó; cảm xúc của người sống hiện ra trên chúng năm này sang năm khác; nhưng còn lại gì của cảm xúc đó không?

Còn về việc đi tới Vệ Thành, ai sẽ nói rằng chúng tôi từng làm điều đó, hoặc nói rằng khi thức dậy sáng hôm sau, Jacob tìm thấy một thứ gì đó vĩnh cửu để giữ mãi cho mình? Tuy nhiên, anh đã cùng đi với họ tới Constantinople.

Tất nhiên khi thức giấc Sandra Wentworth Williams tìm thấy một bản in tập thơ của Donne trên bàn trang điểm. Và cuốn sách này sẽ được đặt trên giá sách trong ngôi nhà miền quê nước Anh, nơi ít lâu sau cuốn Cuộc đời của Cha Damien của Sally Duggan sẽ trở thành bầu bạn với nó. Trên kệ đã có sẵn mười hoặc mười hai cuốn sách nhỏ. Một hoàng hôn nào đó, khi bước vào phòng, Sandra sẽ mở những cuốn sách ra và đôi mắt nàng sẽ sáng lên (nhưng không hướng tới những dòng chữ in), và thả người vào cái ghế bành, nàng sẽ thưởng thức lần nữa linh hồn của khoảnh khắc; hoặc, bởi đôi khi nàng mất ngủ, sẽ lôi hết cuốn sách này tới cuốn khác ra và nhún nhảy băng qua toàn bộ không gian của đời mình như một diễn viên nhào lộn từ thanh xà này sang thanh xà khác. Nàng đã có những khoảnh khắc của mình. Trong lúc đó, cái đồng hồ lớn trên đầu cầu thang vẫn kêu tích tắc và Sandra sẽ nghe thấy tiếng thời gian chồng chất, và tự hỏi mình, “Để làm gì? Để làm gì chứ?”

“Để làm gì? Để làm gì chứ?” Sandra sẽ nói, đặt cuốn sách trở lại, bước tới trước tấm gương và vuốt tóc. Và cô Edwards sẽ giật mình trong bữa ăn tối, khi há miệng để ăn thịt cừu nướng, do sự quan tâm bất ngờ của Sandra: “Cô có hạnh phúc không, cô Edwards?” - một điều mà Cissy Edwards không hề nghĩ tới suốt nhiều năm qua.

“Để làm gì? Để làm gì chứ?” Jacob chưa bao giờ tự hỏi những câu như thế, xét theo cung cách anh cột dây ủng; cạo râu; xét theo độ sâu của giấc ngủ đêm đó, với tiếng gió lùa sột soạt vào những cánh cửa chớp, và nửa tá muỗi vo ve bên tai. Anh còn trẻ tuổi - một người đàn ông. Và Sandra đúng khi nhận xét là anh vẫn nhẹ dạ cả tin cho tới lúc này. Tới tuổi ba mươi đó có thể là một vấn đề khác. Anh đã đánh dấu những câu anh thích trong tập thơ của Donne, và chúng khá man rợ. Tuy nhiên, bạn có thể đặt cạnh chúng những đoạn thơ thuần khiết nhất trong tác phẩm của Shakespeare.

Nhưng cơn gió đang lùa bóng tối qua những đường phố của Athens, lùa nó đi, người ta có thể giả đoán, với một dạng năng lượng lạ lùng, vốn triệt để cản trở một phân tích về các cảm giác, hoặc việc kiểm tra nét mặt của bất kỳ cá nhân đơn lẻ nào. Mọi gương mặt - Hy Lạp, Levantine, Thổ, Anh - ắt sẽ rất giống nhau trong bóng tối đó. Cuối cùng những cây cột và những ngôi đền trở nên trắng bệch, rồi vàng, rồi hồng; những kim tự tháp và nhà thờ St. Peter xuất hiện, và rốt cuộc nhà thờ St. Paul cũng uể oải hiện ra.

Những tín đồ Thiên Chúa giáo có quyền đánh thức hầu hết các thành phố với sự diễn dịch của họ về ý nghĩa của ngày. Thế rồi, kém du dương hơn, những kẻ ly khai giáo hội thuộc những giáo phái khác nhau tung ra một sự sửa sai gay gắt. Những con tàu hơi nước, lanh lảnh reo lên như những chiếc âm thoa khổng lồ, phát biểu một sự thật rất ư xưa cũ - về việc có một vùng biển xanh xao, lạnh giá đang trăn trở ngoài kia. Nhưng ngày nay đó là tiếng nói khẽ khàng của bổn phận; nó phun ra một luồng chỉ trắng từ đỉnh của một ống khói, tập hợp những đám đông lớn nhất, và đêm chỉ là một tiếng thở dài dằng dặc giữa những nhát búa, một hơi thở thật sâu - bạn có thể nghe thấy nó từ một cửa sổ mở, thậm chí ngay giữa London.

Nhưng ai, ngoài những kẻ tinh thần rũ rượi và mất ngủ, hoặc những tư tưởng gia đang đứng với đôi tay giơ lên mắt trên một vách đá cheo leo nào đó bên trên đám đông, nhìn thấy mọi thứ trong hình dáng bộ xương đã róc hết thịt da? Nhưng ở Surbiton[16], bộ xương được bao bọc trong da thịt.

“Cái ấm nước không bao giờ sôi mạnh trong một buổi sáng có nắng,” bà Grandage nói, liếc nhìn cái đồng hồ trên mặt lò sưởi. Sau đó con mèo Ba Tư xám duỗi người trên bệ cửa sổ, và vồ lấy một con bướm đêm với hai bàn chân tròn mềm mại. Và trước khi bữa điểm tâm kéo dài được phân nửa (hôm nay họ dậy muộn), một em bé được đặt vào tay của bà, và bà phải trông chừng cái thau đường trong lúc Tom Grandage vừa đọc bài báo viết về môn đánh gôn trong tờ Times vừa nhấm nháp cà phê, rồi chùi ria mép, và lên đường tới văn phòng, nơi ông là người có thẩm quyền cao nhất về ngoại hối và sắp sửa lên chức. Bộ xương được bao bọc tốt trong da thịt. Thậm chí trong cái đêm tối mịt này, khi cơn gió lùa bóng tối qua phố Lombard, phố Fetter Lane và Quảng trường Bedford, nó khua động (vì lúc này đang là giữa mùa hè) những cây tiêu huyền được trang điểm bằng đèn điện, và những tấm màn cửa sổ im lặng che chở cho căn phòng khỏi ánh rạng đông. Mọi người vẫn lẩm bẩm từ cuối đã trao đổi với nhau ở chân cầu thang, hoặc căng thẳng chờ đợi tiếng đồng hồ báo thức, trong những giấc mơ của họ. Khi cơn gió gầm rú lao qua một khu rừng như vậy, vô số cành nhánh khua lên xào xạc; những tổ ong bị quét qua; lũ côn trùng ngả nghiêng trên lá cỏ; con nhện chạy nhanh lên một nếp nhăn trên lớp vỏ cây; toàn bộ bầu không khí chao động trong cơn gió; co giãn cùng những sợi tơ nhện.

Nhưng ở đây - trên các phố Lombard, Fetter Lane và Quảng trường Bedford Square - mỗi con côn trùng mang trong đầu nó một quả địa cầu, và những tấm mạng nhện của khu rừng là những kế hoạch được phát triển vì sự thành công của công việc; mật ong là một thứ báu vật; và sự nhiễu động trong bầu không khí là sự khuấy đảo không thể tả của cuộc sống.

Nhưng màu sắc đã tái hiện; chạy dọc theo những lá cỏ; bừng nở trong những đóa hoa uất kim hương và nghệ tây; vẽ lên những thân cây những đường sọc mạnh mẽ; và đổ tràn lên màn sương mù của bầu không khí, những bụi cỏ và những vũng nước.

Ngân hàng Anh Quốc và Đài Tưởng niệm[17] với cái đầu tóc rậm bằng vàng hiện ra; lũ ngựa kéo xe băng qua cầu London trông như có màu xám, đỏ dâu và màu thép. Có tiếng vỗ cánh vù vù khi những con tàu ngoại ô lao vào ga cuối. Ánh sáng đổ lên mặt tiền của tất cả những ngôi nhà cao đóng kín cửa chớp, trượt qua một khe hở và sáng lấp lánh trên những tấm màn rộng đỏ thắm, những cái ly rượu vang màu lục, những tách cà phê, và những chiếc ghế ngả nghiêng.

Ánh nắng ập lên những tấm gương soi để cạo râu và những cái bình bằng đồng sáng bóng; lên mọi bộ lễ phục vui vẻ của ngày. Một ngày tươi vui, rực rỡ, đầy tính hiếu kỳ của mùa hè, vốn đã từ lâu đánh bại sự hỗn độn; đã hong khô những đám sương mù u buồn trung cổ; đã rút cạn đầm lầy và đặt thủy tinh và đá lên trên nó; và trang bị cho bộ óc và cơ thể của chúng ta một thứ vũ khí vốn chỉ để thấy rằng cuộc đấu tranh gay go trong cuộc sống hàng ngày vẫn hay ho hơn nhiều so với hoạt cảnh xưa cũ về sự bày binh bố trận của quân đội giữa đồng bằng.

❀ ❀ ❀

[1] Herbert Henry Asquith (1852-1928): Thủ tướng Anh từ 1908 tới 1916.

[2] Edward Ribbon (1737-1794): sử gia, tác giả, chính khách Anh. Tác phẩm quan trọng nhất của ông là The History of the Decline and Fall of Roman Empire (Lịch sử về sự suy vong của Đế chế La Mã).

[3] Triết gia Hy Lạp cổ đại.

[4] Kịch tác gia Hy Lạp cổ đại.

[5] Jacob nhớ nhầm, thật ra đó là Pilcher, thanh niên người Mỹ đã tới dự bữa tiệc tại nhà Clara Durrant.

[6] Anton Chekhov (1860-1904): nhà văn Nga nổi tiếng về truyện ngắn.

[7] Các chính khách lớn của Anh trong thế kỷ 18.

[8] Sea-meadows: những lớp thực vật phù du bên trên mặt biển vốn là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào cho động vật biển.

[9] Praxiteles (395-330 TCN): điêu khắc gia Hy Lạp cổ đại.

[10] The winged Victory of Samothrace, còn gọi là the Nike of Samothrace, là một pho tượng cẩm thạch tạc nữ thần Nike (nữ thần chiến thắng của Hy Lạp), được sáng tạo vào khoảng thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Từ năm 1884, nó được trưng bày ở viện bảo tàng Louvre.

[11] Hymettus: dãy núi nằm trong khu vực Athens; Pentelicus: dãy núi nằm ở hướng đông bắc Athens; Lycabettus: ngọn đồi đá vôi hình thành từ Kỷ Phấn trắng, cao 300m, nằm trong khu vực Athens.

[12] Một thị trấn của Hy Lạp, thuộc địa giới của khu quản lý hành chính Attica, nơi xảy ra trận chiến Marathon vào năm 490 TCN.

[13] Quảng trường Syntagma, quảng trường quan trọng nhất của thành phố Athens hiện đại.

[14] Nguyên văn: “character-mongering”, xuất phát từ danh từ “character-monger”: một người hay chỉ trích tính cách và hành động của kẻ khác; một người hay ngồi lê đôi mách; một người hay buôn chuyện bao đồng.

[15] John Donne (1572-1631): nhà thơ lớn người Anh. Một cụm từ trong bài Chiêm nghiệm XVII (Mediattion XVII) của ông đã được nhà văn Mỹ Ernest Hemingway (1866-1961) mượn để đặt tên cho cuốn tiểu thuyết nổi tiếng For Whom the Bell Tolls. (“And therefore never send to know for whom the bell tolls; it tolls for thee.”)

[16] Khu vực ngoại thành phía tây nam London.

[17] The Monument of Great Fire of London. Đài tưởng niệm này được xây dựng để tưởng niệm trận đại hỏa hoạn ở London, kéo dài từ ngày 2 đến 5/9/1666.

Người dịch: Nguyễn Thành Nhân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.