Căn Phòng Của Jacob

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Bảy

❊ ❊ ❊

Vào thời điểm này một hãng buôn có giao dịch với phương Đông đã đưa vào thị trường những bông hoa nhỏ làm bằng giấy; chúng sẽ nở bung ra khi chạm vào nước. Vì việc sử dụng chậu nước rửa tay sau bữa ăn cũng là một thói quen, người ta nhận ra phát minh mới này cực kỳ thuận tiện. Trong những cái chậu thủy tinh, những đóa hoa nhỏ đủ màu trôi nổi bềnh bồng; phủ lên những lớp sóng lăn tăn êm ả, đôi khi chìm xuống và nằm như những hòn sỏi trên nền kính. Vận mệnh của chúng được quan sát bởi những đôi mắt chăm chú và đáng yêu. Đây chắc chắc là một phát hiện lớn sẽ dẫn tới sự hợp nhất những quả tim và sự hình thành những gia đình. Những đóa hoa giấy đã làm được không ít việc.

Tuy nhiên, đừng nên nghĩ rằng chúng đã hất cẳng những bông hoa của tự nhiên. Hoa hồng, hoa huệ, đặc biệt là hoa cẩm chướng, nhìn qua mép của những lọ hoa và quan sát cuộc đời tươi đẹp và cái chết nhanh chóng của những họ hàng nhân tạo của chúng. Chính ông Stuart Ormond đã đưa ra nhận xét này; và nó được cho là đáng yêu; và Kitty Craster đã kết hôn với ông ta sáu tháng sau vì mãnh lực của nó. Nhưng mọi người không bao giờ có thể bỏ qua hoa thật. Nếu họ có thể, đời người sẽ là một sự vụ hoàn toàn khác hẳn. Vì những bông hoa phai tàn héo úa; hoa cúc tệ nhất; tuyệt hảo trong đêm; vàng vọt và tái nhợt sáng hôm sau - không thích hợp để ngắm. Nhìn chung, dù giá cả đầy tội lỗi, hoa cẩm chướng đáng tiền nhất - tuy nhiên, vấn đề là có khôn ngoan không khi cột chúng lại bằng dây kẽm. Một số tiệm khuyên nên làm như vậy. Chắc chắn đây là cách duy nhất để duy trì chúng ở một vũ hội; nhưng việc có cần thiết phải làm điều này trong những bữa tiệc hay chăng, trừ phi ở những căn phòng rất nóng bức, vẫn còn ở trong vòng tranh luận. Cụ bà Temple thường đề xuất thả một chiếc lá thường xuân - chỉ một - vào cái bát. Bà bảo nó giữ cho nước tinh khiết suốt nhiều ngày. Nhưng có lý do để nghĩ rằng cụ Temple đã nhầm.

Tuy nhiên, những tấm danh thiếp nhỏ, với những cái tên in bên trên chúng, là một vấn đề nghiêm trọng hơn những bông hoa. Có nhiều chân ngựa đã kiệt quệ, nhiều cuộc đời xà ích đã bị tiêu pha, nhiều giờ của những buổi chiều tươi đẹp đã bị hoang phí một cách vô ích hơn so với những gì đã giúp chúng ta thắng trận Waterloo, và ngoài ra còn phải trả giá cho nó nữa. Những con quỷ nhỏ này là nguồn cội của nhiều vụ trì hoãn sự trừng phạt, nhiều tai họa và nhiều lo âu không kém so với bản thân cuộc chiến kể trên. Đôi khi bà Bonham vừa mới ra ngoài; những khi khác bà ở nhà. Nhưng ngay cả khi những tấm danh thiếp bị bỏ đi không dùng tới, một điều ít có khả năng, vẫn có những sức mạnh bất kham cuốn cuộc sống vào những cơn bão, làm hỗn loạn những buổi sáng chuyên cần, và nhổ bật sự ổn định của buổi chiều - nghĩa là những tay thợ may, và những cửa tiệm bánh mứt. Sáu thước vải sẽ đủ che phủ một thân hình; nhưng nếu bạn phải nghĩ ra sáu trăm hình dạng cho nó, và số lượng màu sắc nhiều gấp đôi thì sao chứ? - giữa sự vụ này có một câu hỏi cấp thiết về món bánh tráng miệng với những lớp kem phủ màu lục và phần tường thành có lỗ châu mai bằng bột nhân hạnh đào.[1] Nó đã không tới nơi.

Những giờ hồng hạc mềm mại vỗ cánh lướt qua bầu trời. Nhưng chúng thường xuyên nhúng đôi cánh vào nhựa đường đen kịt; chẳng hạn ở Notting Hill, hoặc những vùng phụ cận của Clerkenwell[2]. Không có gì phải ngạc nhiên khi tiếng Ý vẫn còn là một nghệ thuật ẩn giấu, và chiếc đàn dương cầm luôn chơi một bản sô nát duy nhất.[3] Để mua một đôi tất co giãn tốt cho bà Page, quả phụ, sáu mươi ba tuổi, để bà nhận được khoản trợ cấp dành cho người không ở trong trại tế bần, và sự trợ giúp từ người con trai độc nhất, đang làm công trong xưởng nhuộm của các ông chủ dòng họ Mackie và chịu đựng khổ sở trong mùa đông vì chứng đau ngực, những lá thư phải được viết ra, những cột phải được điền đầy đủ trong những vòng tròn giống hệt nhau, bởi bàn tay giản dị đã viết trong cuốn nhật ký mua của ông Letts rằng thời tiết tốt thế nào, lũ nhóc con quỷ quái thế nào, và Jacob Flanders cao cả ra sao. Clara Durrant mua tất, chơi bản sô nát, cắm hoa vào lọ, dọn bánh pu-đinh lên, để lại những tấm danh thiếp, và khi phát minh to lớn về những bông hoa bằng giấy bơi trong những chậu rửa tay được phát hiện, nàng là một trong những kẻ kinh ngạc nhất trước cuộc đời ngắn ngủi của chúng.

Cũng chẳng có nhà thơ nghèo túng nào chào đón đề tài này. Edwin Mallett chẳng hạn, đã viết câu thơ cuối sau:

Và đọc số phận bi thảm của họ trong đôi mắt của Chloe.

Câu thơ này khiến Clara đỏ mặt khi đọc lần đầu, bật cười ở lần thứ hai, và nói rằng nó cũng giống như anh ta, gọi nàng là Chloe khi tên nàng là Clara. Anh chàng buồn cười! Nhưng khi, giữa mười và mười một giờ của một buổi sáng mưa rơi, Edwin Mallett đặt cuộc đời của mình dưới chân nàng, nàng chạy ào ra khỏi phòng và trốn trong phòng ngủ của mình, và Timothy ở tầng dưới không thể nào tiếp tục làm việc suốt sáng hôm đó vì tiếng nức nở của nàng.

“Cái tên nào là kết quả của cuộc vui,” bà Durrant gắt gỏng, xem xét tờ chương trình vũ hội, tất cả đều có cùng những chữ viết tắt, đúng hơn lần này chúng là những chữ khác - R. B. thay vì E. M.; lần này nó là Richard Bonamy, chàng trai có cái mũi của Wellington.

“Nhưng con không bao giờ có thể lấy một người có cái mũi như thế,” Clara nói.

“Vớ vẩn,” bà Durrant đáp.

“Nhưng mình quá nghiêm khắc,” nàng tự nhủ. Bởi Clara, buồn và chán nản, đã xé nát tờ chương trình vũ hội và vất nó vào lò sưởi.

Đó chính là những hậu quả rất nghiêm trọng của phát minh ra những bông hoa làm bằng giấy bơi trong những cái chậu.

“Xin đừng giới thiệu tôi,” Julia Eliot nói, chiếm chỗ đứng cạnh bức màn gần như đối diện với cửa ra vào. Tôi thích quan sát. Một điều thú vị,” cô nói tiếp với ông Salvin, kẻ được cung cấp một cái ghế do chân bị khập khiễng, “điều thú vị trong một bữa tiệc là quan sát mọi người - đến và đi, đến và đi.”

“Lần trước chúng ta gặp nhau,” ông Salvin nói, “là ở nhà vợ chồng Farquhar. Vị phu nhân tội nghiệp! Bà ta phải chịu đựng nhiều thứ.”

“Trông cô ta rất xinh, phải không?” Cô Eliort cảm thán, khi Clara đi ngang qua họ.

“Và ai trong số họ...?” Ông Salvin hỏi, hạ thấp giọng và nói với vẻ hơi giễu cợt.

“Có rất nhiều...” Cô Eliot đáp. Ba chàng trai đang đứng ở cửa tìm kiếm cô chủ nhà trẻ tuổi.

“Cô không nhớ rõ Elizabeth như tôi đâu,” ông Salvin, “nhảy điệu xoay vòng Highlan ở Banchorie. Clara thiếu tố chất của mẹ cô ta. Clara là một cô bé thiếu năng động.”

“Người ta nhìn thấy ở đây bao nhiêu là kẻ khác nhau!” Cô Eliot nói.

“May thay chúng ta không bị những tờ báo buổi chiều điều khiển,” ông Salvin nói.

“Tôi chẳng bao giờ đọc chúng,” cô Eliot đáp. “Tôi chả biết gì về chính trị,” cô nói thêm.

“Cây đàn đúng giọng,” Clara nói, đi ngang qua họ, “nhưng có lẽ chúng ta phải đề nghị ai đó dời nó giúp.”

“Họ sắp nhảy à?” Ông Salvin hỏi.

“Sẽ không ai quấy rầy ông đâu,” bà Durrant nói với vẻ hách dịch khi đi ngang qua họ.

“Julia Eliot. Đó là Julia Eliot!” Phu nhân già Hibbert nói, giơ cả hai tay ra. “Và anh Salvin. Chuyện gì sẽ xảy ra với chúng ta, anh Salvin? Với mọi kinh nghiệm của tôi về chính trị nước Anh... Anh bạn thân mến, tối qua tôi đã nghĩ tới cha anh - một trong số những người bạn lâu năm nhất của tôi đó, anh Salvin. Đừng bao giờ nói với tôi rằng những cô gái thường là thiếu khả năng trong tình yêu! Tôi đã thuộc lòng tất cả tác phẩm của Shakespeare trước lúc lên mười, anh Salvin ạ!”

“Bà đừng nói thế,” ông Salvin nói.

“Nhưng tôi cứ nói,” Phu nhân Hybbert đáp.

“Ồ, ông Salvin, xin thứ lỗi...”

“Tôi sẽ tự dời chỗ nếu cô vui lòng giúp tôi một tay,” ông Salvin nói.

“Ông sẽ ngồi cạnh mẹ tôi,” Clara đáp. “Có vẻ như mọi người đã vào đây... Anh Calthorp, để tôi giới thiệu anh với cô Edwards.”

“Cô có đi chơi xa trong dịp lễ Giáng sinh không?” Calthorp hỏi.

“Nếu anh trai tôi được nghỉ phép,” cô Edwards đáp.

“Có lẽ anh ấy biết anh tôi?” Calthorp nói.

“Tôi e rằng tôi chưa nghe rõ tên anh,” cô Edwards nói.

“Calthorp.”

“Nhưng có chứng cứ gì về việc lễ kết hôn đã thật sự được tiến hành hay không?” Ông Crosby hỏi.

“Không có lý do gì để nghi ngờ rằng Charles James Fox ...” Ông Burley mở lời; nhưng tới đây bà Stretton nói với ông ta rằng bà biết rõ em gái của ông ta; đã ở với bà ta cách đây chưa tới hai tuần; và nghĩ rằng ngôi nhà đáng yêu, dù hoang vắng lạnh lẽo vào mùa đông.

“Đi đó đi đây như những cô gái thời nay...” Bà Forster nói.

Bowley nhìn quanh, và khi bắt gặp Rose Shaw, anh tiến về phía cô ta, giơ hai tay ra và kêu lên: “Sao rồi!”

“Không có gì!” Cô ta đáp. “Không có gì cả, dù tôi đã để lại họ một mình suốt buổi chiều theo dự tính.”

“Ôi trời, ôi trời,” ông Bowley nói. “Tôi sẽ mời Jimmy đi ăn sáng.”

“Nhưng ai có thể cưỡng lại cô ta chứ?” Rose Shaw kêu lên. “Clara thân yêu nhất, tôi biết chúng tôi phải cố ngăn cô lại...”

“Cô và ông Bowley đang nói về lời đồn đáng sợ, tôi biết,” Clara nói.

“Cuộc đời thật xấu xa - cuộc đời thật đáng ghét!” Rose Shaw kêu lên.

“Không có gì nhiều để nói về loại đề tài này, phải không?” Timothy Durrant nói với Jacob.

“Phụ nữ thích nó.”

“Thích cái gì?” Charlotte Wilding vừa bước tới gần họ vừa hỏi.

“Cô đã đi đâu vậy? Ăn tối ở đâu đó hả.”

“Tôi không thấy vì sao lại không,” Charlotte đáp.

“Mọi người phải xuống nhà dưới,” Clara nói, đi ngang qua họ. “Đưa Charlotte xuống giùm, anh Timothy. Chào anh Flanders.”

“Chào anh Flanders,” Julia Eliot nói, chìa bàn tay ra.

“Chuyện gì đang xảy ra với anh?”

Elsbeth Siddons đang hát:

Silvia là ai? Nàng là gì?

Mà mọi chàng trai làng ta

Đều yêu quý ngợi ca?

Mọi người đứng yên tại chỗ, hoặc ngồi nếu có một cái ghế trống.

“Chà,” Clara, đang đứng cạnh Jacob, thở dài khi đến khúc giữa bài hát.

Elsbeth Siddons hát:

Vậy chúng ta hãy hát tặng Silvia

Rằng Silvia rất tuyệt vời;

Nàng hơn hẳn bất cứ một ai

Đang ngụ trên cõi trần buồn thảm,

Và mang tới cho nàng những vòng hoa thắm,

“Chà!” Clara lớn tiếng cảm thán, và vỗ đôi bàn tay có đeo găng; rồi nàng bước tới trước và hướng dẫn mọi người ở cửa đi vào.

“Anh đang sống ở London à?” Cô Julia Eliot hỏi.

“Vâng,” Jacob đáp.

“Trong những căn phòng?”

“Vâng.”

“Có ông cụ Clutterbuck. Cậu luôn luôn nhìn thấy ông Clutterbuck tại đây. Ông ta không vui vẻ lắm ở nhà mình, tôi e là vậy. Họ bảo rằng bà Clutterbuck...” cô ta hạ thấp giọng. “Đó là lý do vì sao ông ta sống với gia đình Durrant. Anh có ở đó không khi họ diễn vở kịch của ông Wortley? Ồ, không, dĩ nhiên là không - vào phút cuối, anh có nghe thấy không - anh phải tới gặp mẹ mình, tôi nhớ, ở Harrogate - vào phút cuối, như tôi nói, ngay khi mọi thứ đã sẵn sàng, y phục và mọi thứ chuẩn bị xong xuôi... Giờ Elsbeth sẽ hát tiếp. Clara đang đàn đệm hoặc đang giao lại cho ông Carter, tôi nghĩ. Không, ông Carter đang chơi một mình... Đó là nhạc của Bach,” cô thì thầm, khi ông Carter chơi những nhịp đầu tiên.

“Anh có thích âm nhạc không?” Ông Durrant hỏi.

“Có. Tôi thích nghe,” Jacob đáp. “Nhưng tôi chẳng biết gì về âm nhạc.”

“Có rất ít người hiểu biết về âm nhạc,” bà Durrant nói. “Tôi dám nói anh chưa bao giờ được dạy. Vì sao vậy, ngài Jasper?... Đây là ngài Jasper Bigham.. Đây là cậu Flanders. Vì sao không ai dạy bất cứ thứ gì mà người ta nên biết vậy, hở ngài Jasper?” Bà ta đi, bỏ lại họ đứng dựa vào tường.

Không ai trong hai quý ông nói gì suốt ba phút, dù Jacob đã xê dịch khoảng mười lăm phần sang bên trái, rồi cũng chừng đó sang bên phải. Thế rồi Jacob lẩm bẩm gì đó, và đột nhiên băng ngang qua căn phòng.

“Cô sẽ đi xuống và ăn món gì đó chứ?” Anh nói với Clara Durrant.

“Vâng, một que kem. Nhanh lên. Đi nào,” nàng nói.

Họ bước xuống lầu.

Nhưng đi được nửa đường, họ gặp ông bà Gresham, Herbert Turner, Sylvia Rashleigh, và một người bạn, mà họ đã dám đưa tới, đến từ Mỹ, “biết rằng bà Durrant... muốn giới thiệu với ông Pilcher - ông Pilcher đến từ New York - Đây là cô Durrant.”

“Người mà tôi đã nghe nói tới rất nhiều,” Pilcher nói, cúi chào thật thấp.

Thế là Clara bỏ rơi Jacob.

❀ ❀ ❀

[1] Woolf nói về loại bánh có hình lâu đài (castle cakes), tường thành có lỗ châu mai là phần trên cùng của một tòa lâu đài.

[2] Notting Hill là một quận ở phía tây London; Clerkenwell là khu vực ở giữa và phía bắc London. Vào thời điểm Woolf viết Jacob’s Room, đây là hai khu vực tập trung của đa số dân nghèo thành thị. Vào thập niên 1850, khu vực tây nam Clerkenwell được mệnh danh là “Nước Ý nhỏ” (Little Italy) do có khoảng 2.000 người Ý sống ở khu vực này. Xuất xứ của địa danh này là Clerks’ Well - Giếng của Các Giáo sĩ. Vào thời Trung cổ, các giáo sĩ đã biểu diễn những vở kịch thần bí tại đây, dựa trên các chủ đề của Kinh thánh.

[3] Như đa số các tiểu thư London thời đó, Clara dành quá nhiều thời gian cho việc làm từ thiện nên không còn rảnh rỗi để học tiếng Ý hay luyện chơi đàn.

Người dịch: Nguyễn Thành Nhân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.