Căn Phòng Của Jacob

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Bốn

❊ ❊ ❊

Ích lợi của việc cố đọc Shakespeare là gì, nhất là trong một trong số các bản in giấy mỏng khổ nhỏ mà các trang đầy nếp gấp hay dính vào nhau do nước biển? Dù những vở kịch của Shakespeare vẫn thường được ca tụng, thậm chí trích dẫn, và đặt cao hơn tiếng Hy Lạp, từ khi họ bắt đầu nghiên cứu, chưa bao giờ Jacob tìm cách đọc trọn một vở. Thế nhưng đó là một cơ hội hiếm hoi biết mấy!

Bởi quần đảo Scilly mà Timmy Durrant đã nhìn thấy nằm như những đỉnh núi hầu như bị ngập nước ở đúng ngay nơi cần đến. Những tính toán của anh rất hoàn hảo và thật sự cảnh tượng anh ngồi đó, với bàn tay đặt trên bánh lái, khỏe khoắn hồng hào, với một bộ râu quai nón non tơ, nghiêm khắc nhìn lên những vì sao, rồi nhìn vào cái la bàn, giảng giải hoàn toàn chính xác từng trang của cuốn sách giáo khoa vĩnh cửu của anh, hẳn sẽ làm một phụ nữ động lòng. Nhưng Jacob không phải là một phụ nữ, dĩ nhiên. Hình ảnh về Timmy Durrant với anh chẳng là gì cả, chẳng có gì để chống cự lại bầu trời và sự tôn sùng; còn lâu mới thế. Họ đã cãi nhau. Không ai nói được vì sao cách thức đúng để mở một lon thịt bò đóng hộp, với cuốn sách của Shakespeare trên thuyền, dưới những điều kiện tuyệt vời như thế, lại có thể biến họ thành những cậu học trò trung học mặt mày sưng sỉa. Tuy nhiên, họ phải ăn thịt bò đóng hộp nguội; và nước mặn đã làm hỏng những cái bánh quy; và sóng cứ trồi sụt theo cùng cách thức hết giờ này sang giờ khác - trồi lên sụt xuống khắp chân trời. Lúc này một chùm rong biển trôi ngang qua, lúc khác một khúc gỗ. Những con tàu đã bị đắm tại đây. Một hai con tàu lướt ngang qua, duy trì phía đường của chúng. Timmy biết chúng thả neo ở đâu, hàng hóa của chúng là gì, và bằng cách nhìn qua cái kính viễn vọng, có thể nói tên của con tàu, và thậm chí đoán được cả cổ tức nó trả cho những cổ đông. Thế nhưng không có lý do gì để Jacob giận hờn.

Quần đảo Scilly có dáng vẻ của những đỉnh núi hầu như đã bị ngập nước... Thật xúi quẩy, Jacob đã làm gãy chốt vặn của cái bếp dầu hỏa hiệu Primus.

Cũng có thể quần đảo Scilly đã bị xóa sạch bởi một đợt sóng lớn quét ngang qua.

Nhưng người ta phải tin tưởng vào những chàng trai khi thừa nhận rằng, dù việc ăn sáng trong hoàn cảnh này đúng là buồn chán, nó khá chân thật. Không cần phải nói chuyện. Họ lôi tẩu thuốc của mình ra.

Timmy viết lại vài quan sát khoa học; và - câu hỏi phá vỡ sự im lặng là gì - giờ giấc chính xác hoặc ngày của tháng? Dù sao, nó được thốt ra không chút lúng túng; với cung cách thiết thực nhất trần đời; và sau đó Jacob bắt đầu cởi nút quần áo và ngồi trần trụi, ngoại trừ cái áo sơ mi, rõ ràng với ý định sẽ tắm.

Quần đảo Scilly đang chuyển sang màu xanh xanh; và đột nhiên màu xanh lơ, tím và lục biến khỏi mặt biển, để lại nó với màu xám xịt; gợn lên thành một vệt rồi biến mất; nhưng khi Jacob đã kéo áo qua khỏi đầu, toàn bộ nền của những lượn sóng khoác màu xanh lơ và trắng, gợn lăn tăn và có vẻ hơi cứng, dù thỉnh thoảng một chấm lớn màu tím xuất hiện, như một vết bầm tím; hoặc một màu lục tươi phơn phớt vàng trải rộng. Anh lao xuống. Anh hớp nước vào rồi phun ra, vung tay phải, vung tay trái, được chiếc thuyền kéo theo nhờ một sợi thừng, thở dốc, đập nước văng tung tóe, và được lôi lên thuyền.

Chỗ ngồi trên thuyền cực kỳ nóng, và mặt trời sưởi ấm lưng anh trong lúc anh ngồi trần trụi với một cái khăn tắm trong tay, nhìn về phía quần đảo Scilly - chết tiệt thật! Cánh buồm vỗ phần phật. Cuốn sách của Shakespeare bị hất văng qua mạn thuyền. Bạn có thể thấy nó vui vẻ trôi ra xa, với tất cả các trang xếp thành vô số nếp; sau đó nó chìm xuống.

Thật lạ lùng, bạn có thể ngửi thấy mùi hoa păng-xê, hoặc nếu hoa păng-xê không thể có trong tháng Bảy, người ta phải trồng loài hoa nào đó có mùi rất đậm trên đất liền lúc đó. Đất liền, không xa lắm - bạn có thể nhìn thấy những khe nứt trên các vách đá, những ngôi nhà trắng, khói tỏa lên - khoác một vẻ tĩnh lặng, ngập nắng, thanh bình lạ lùng, như thể minh triết và lòng sùng kính đã đáp lên những cư dân ở đó. Lúc này một tiếng kêu to vọng tới, như tiếng của một người đàn ông đang gọi mua cá mòi trên một đường phố chính. Nó khoác một vẻ sùng kính và thanh bình, như thể những người già đang hút thuốc cạnh cửa, những thiếu nữ đứng chống nạnh cạnh giếng, và những con ngựa đứng; như thể ngày tận thế đã tới, và những cánh đồng cải bắp, những bức tường đá, những đồn tuần duyên, và trên tất cả, những vịnh cát trắng, với những lượn sóng vỗ không được nhìn thấy bởi bất kỳ ai, dâng tới tận trời cao trong một trạng thái mê ly.

Nhưng làn khói nhà đã trở nên ủ rũ từ lúc nào không biết, trông như một biểu tượng tang tóc, một lá cờ phe phẩy vuốt ve trên một nấm mồ. Lũ chim hải âu liệng một vòng rộng rồi thanh thản đáp xuống, dường như đánh dấu cho ngôi mộ.

Chắc chắn nếu đây là Ý, Hy Lạp, hoặc thậm chí vùng duyên hải Tây Ban Nha, nỗi buồn sẽ được dẫn lối bởi sự xa lạ, khích động và thúc đẩy của một nền giáo dục cổ điển. Nhưng bên trên những ngọn đồi ở Cornwall có những ống khói trần trụi; và theo cách này hay cách khác, vẻ đẹp luôn buồn ghê gớm. Vâng, những ống khói, những đồn tuần duyên và những vịnh nhỏ với những lượn sóng vỗ không được nhìn thấy bởi bất kỳ kẻ nào khiến người ta nhớ tới nỗi buồn nặng trĩu. Và nỗi buồn này có thể là gì?

Nó được ủ men bởi chính mặt đất. Nó đến từ những ngôi nhà trên bờ biển. Khi chúng ta bắt đầu, bầu trời trong trẻo, và rồi mây trở nên dày đặc. Toàn bộ lịch sử quay lại trên tấm kính của chúng ta. Chạy trốn là chuyện hão huyền.

Nhưng không thể nói được đây có phải là diễn dịch đúng về vẻ buồn bã của Jacob khi anh ngồi trần trụi, trong ánh nắng, nhìn về phía Land’s End[1] hay chăng; bởi anh không hề nói lời nào. Đôi khi Timmy tự hỏi (chỉ trong một giây) người nhà của mình có làm phiền anh ta hay chăng... Không quan trọng. Có nhiều điều không thể nói ra. Chúng ta cứ mặc kệ nó. Chúng ta hãy hong khô người và đón nhận điều đầu tiên tới trong tầm tay... cuốn sổ ghi chép những quan sát khoa học của Timmy Durrant.

“Bây giờ...” Jacob nói.

Đó là một lý lẽ lớn lao.

Một số người có thể đi theo từng bước của con đường, và thậm chí tự chọn cho mình một bước rất ngắn, chỉ dài sáu phân Anh, vào lúc cuối; số khác vẫn tiếp tục quan sát những dấu hiệu bên ngoài.

Đôi mắt dán vào lá bài xì phé; bàn tay phải cầm lấy lá bài và nhấc nó lên; chậm rãi xoay tròn nó, và rồi, rất chính xác, đặt nó xuống vị trí cũ. Bàn tay trái, đang nằm trên đầu gối, chơi một đoạn hành khúc nghiêm trang nhưng ngắt quãng. Hít một hơi thở sâu; nhẹ nhàng thở ra. Con mèo bước ngang qua tấm thảm trước lò sưởi. Không ai quan sát nó.

“Đó là vào khoảng gần với mức tôi có thể đạt tới,” Durrant kết thúc.

Phút kế tiếp lặng như tờ.

“Nó theo...” Jacob nói.

Chỉ nửa câu theo sau; nhưng những nửa câu này giống như những lá cờ cắm trên nóc những tòa nhà đối với kẻ quan sát những dấu hiệu bên ngoài từ dưới đất. Bờ biển Cornwall là gì, với mùi hoa păng-xê, những biểu tượng tang tóc, và sự sùng kính lặng lẽ của nó, ngoài một tấm màn được treo ngay phía sau trong lúc tâm trí anh đi đều bước?

“Nó theo...” Jacob nói.

“Vâng,” Timmy nói, sau khi suy nghĩ. “Là vậy đó.”

Lúc này Jacob lăng xăng đi lại, nửa để giãn gân giãn cốt, nửa vì đang trong tâm trạng vui vẻ, không ngờ gì nữa, bởi một âm thanh lạ lùng nhất phát ra từ môi anh khi anh cuộn tấm buồm, lau những cái đĩa - cộc lốc, không giai điệu - một dạng tụng ca, bởi đã thấu hiểu lý lẽ, bởi đã làm chủ tình hình, rám nắng, chưa cạo râu, ngoài ra còn có khả năng dong buồm vòng quanh thế giới trong một chiếc du thuyền trọng tải mười tấn, mà, rất có thể, anh sẽ thực hiện vào một ngày nào đó thay vì ngồi chết dí trong một văn phòng luật sư và mang ghệt mắt cá.

“Masham bạn của chúng ta,” Timmy Durrant nói, “không muốn bị nhìn thấy trong đội chúng ta như chúng ta hiện giờ.” Những cái nút áo của anh đã được cởi ra.

“Anh có biết cô của Masham không?” Jacob hỏi.

“Chưa hề biết anh ta có một người cô,” Timmy đáp.

“Masham có cả triệu người cô,” Jacob nói.

“Masham được nhắc tới trong cuốn Địa bạ Anh[2],” Timmy nói.

“Những người cô của anh ta cũng thế,” Jacob nói.

“Em gái của anh ta là một cô gái rất xinh,” Timmy nói.

“Đó là điều sẽ xảy đến với anh, Timmy,” Jacob nói.

“Nó sẽ xảy đến với anh trước,” Timmy nói.

“Nhưng người phụ nữ tôi đang nói với anh - cô của Masham...”

“Ồ, nói tiếp đi chứ,” Timmy nói, vì Jacob đang cười sặc sụa đến độ không thể nói.

“Cô của Masham...”

Timmy cũng cười sặc lên nên không nói được.

“Cô của Masham...”

“Cái gì ở Masham khiến người ta bật cười nhỉ?” Timmy nói.

“Chết tiệt - một kẻ đã nuốt cái kẹp cà vạt của mình,” Jacob nói.

“Bộ trưởng Tư pháp trước khi anh ta năm mươi tuổi,” Timmy nói.

“Anh ta là một quý ông,” Jacob nói.

“Công tước xứ Wellington[3] là một quý ông,” Timmy nói.

“Keat[4] thì không.”

“Lãnh chúa Salisbury[5] thì có.”

“Còn Thượng đế thì sao?” Jacob hỏi.

Lúc này quần đảo Scilly hiện ra như thể được chỉ thẳng bởi một ngón tay vàng ló ra từ một đám mây; và mọi người đều biết cảnh tượng đó kỳ diệu thế nào, và những tia sáng lớn rộng đó, dù chúng có soi sáng quần đảo Scilly hay mộ của những thập tự quân trong các thánh đường hay chăng, luôn làm lay chuyển chính những nền tảng của chủ nghĩa hoài nghi và dẫn tới những câu nói đùa về Thượng đế.

Hãy ở lại với em

Bóng chiều hôm buông rồi

Và sâu hơn, bóng tối

Ở lại đi, chàng ơi,[6]

Timmy Durrant ca.

“Ở chỗ của tôi, chúng tôi có một bài ca bắt đầu bằng câu: Hỡi Thượng đế vĩ đại, con thấy và nghe gì?”[7] Jacob nói.

Lũ hải âu nhẹ nhàng đu đưa trong những nhóm nhỏ hai hoặc ba con, rất gần chiếc thuyền; con chim cốc, như thể lao theo cái cổ cong dài trong cuộc truy tìm miên viễn, lướt sát bên trên mặt nước tới tảng đá kế bên; và tiếng róc rách của thủy triều trong các hang động vọng ngang qua mặt nước, trầm trầm, đơn điệu, như giọng một kẻ đang nói chuyện với chính mình.

Nào nào Tảng đá Thời gian

Mở ra cho gã hoang đàng ẩn thân,[8]

Jacob ca.

Như một chiếc răng cùn của một con quái vật, một tảng đá nâu nhô lên mặt nước; ngập dưới những thác nước không ngừng chảy.

Nào nào Tảng đả Thời gian,

Jacob nằm ngửa, nhìn lên bầu trời giữa trưa; mọi đám mây đã bị cuốn đi, khiến nó giống như một thứ gì đó được phô bày vĩnh viễn khi đã dở bỏ lớp che đậy.

Lúc sáu giờ một cơn gió nhẹ thổi vào từ một cánh đồng băng; lúc bảy giờ mặt nước có sắc tím nhiều hơn sắc xanh; và lúc bảy giờ rưỡi có một lớp màng xù xì trên mặt nước quanh quần đảo Scilly, và gương mặt của Durrant, trong lúc anh ngồi lái thuyền, có màu của một cái hộp sơn mài đỏ được đánh bóng suốt nhiều thế hệ. Tới chín giờ mọi ánh lửa và sự hỗn độn biến mất khỏi bầu trời, để lại những cái nêm màu xanh táo và những cái đĩa màu vàng nhạt; và tới mười giờ những ngọn đèn lồng trên thuyền tạo nên những màu sắc lạ lùng trên sóng, giãn dài ra hoặc co ngắn lại, khi sóng trải rộng hoặc phình lên. Tia sáng từ ngọn hải đăng nhanh chóng lan ngang qua mặt nước. Từ triệu triệu dặm xa những vì sao li ti nhấp nháy; nhưng sóng vỗ vào thuyền, và lao sầm vào những tảng đá với sự trang nghiêm đều đều và đáng sợ.

Dù hẳn là có thể gõ cửa ngôi nhà tranh và hỏi xin một ly sữa, phải khát lắm người ta mới buộc phải làm như thế. Nhưng có lẽ cụ Pascoe sẽ hoan nghênh điều đó. Ngày hè có thể khá lê thê buồn chán. Khi đang rửa bát đĩa trong căn phòng nhỏ, bà có thể nghe cái đồng hồ rẻ tiền trên mặt lò sưởi tích tắc, tích tắc, tích tắc... tích tắc, tích tắc, tích tắc. Bà ở nhà một mình. Chồng bà đang ra ngoài giúp ông chủ trại Hosken; con gái bà đã lấy chồng và sang Mỹ. Con trai cả của bà cũng đã kết hôn, nhưng bà không hợp với vợ anh ta. Ông mục sư theo phái Giám lý[9] đã tới và đưa người con trai nhỏ hơn đi. Bà ở nhà một mình. Một con tàu, có lẽ trên đường tới Cardiff, hiện đang băng ngang chân trời, trong lúc một đóa hoa hình chuông của bụi mao địa hoàng gần đó đong đưa qua lại với quả lắc là một con ong nghệ. Những ngôi nhà thôn dã vùng Cornwall này được dựng trên rìa một vách đá; trong vườn, kim tước mọc dễ dàng hơn cải bắp; một người nguyên thủy nào đó đã chất đống những tảng đá hoa cương để tạo thành bờ giậu. Theo phỏng đoán lịch sử, một cái chậu đã được khoét trên một trong những tảng đá này để đựng máu của nạn nhân, nhưng trong thời đại của chúng ta, nó phục vụ một cách hiền lành hơn với tư cách chỗ ngồi của những du khách muốn nhìn toàn cảnh mũi Gurnards Head.[10] Không một ai phản đối một chiếc váy in hoa màu xanh lơ và một chiếc tạp dề trắng trong một khu vườn thôn dã.

“Nhìn xem - bà ấy phải kéo nước từ một cái giếng trong vườn.”

“Hẳn là ngôi nhà rất đơn độc vào mùa đông, với gió quét qua những dãy đồi đó, và những lượn sóng ập lên những tảng đá.”

Ngay cả trong một ngày hè, bạn cũng nghe tiếng sóng rì rào.

Khi kéo nước xong, cụ Pascoe đi vào nhà. Hai du khách tiếc rằng họ không mang theo ống nhòm, để có thể đọc tên của con tàu hơi nước nặng nề. Thật sự, đó là một ngày đẹp trời đến độ không cần tới ống nhòm người ta cũng có thể nhìn rõ mọi thứ trong tầm mắt. Hai chiếc thuyền đánh cá, có lẽ đến từ vịnh St. Ives, lúc này đang di chuyển theo hướng ngược với con tàu hơi nước, và mặt biển cứ luân phiên thay đổi từ rõ ràng sang mờ đục. Về phần con ong, sau khi đã hút đầy mật, nó ghé thăm cây tục đoạn và từ đó bay thẳng một đường tới mảnh vườn của cụ Pascoe, một lần nữa hướng ánh mắt của hai du khách về phía chiếc váy in hoa và tấm tạp dề trắng của bà cụ, vì bà đã bước tới cửa nhà và đang đứng đó.

Bà đứng đó, che mắt và nhìn ra biển.

Có lẽ bà đã nhìn ra biển lần thứ một triệu. Một con bướm ngũ sắc đang duỗi cánh trên cây tục đoạn, non nớt và vừa ra khỏi kén, như màu xanh lơ và nâu trên đôi cánh nó chứng tỏ. Cụ Pascoe đi vào trong, lấy một chảo đựng kem, bước ra và đứng rửa nó. Mặt bà chắc chắn không dịu dàng, gợi tình hay phóng đãng, mà cứng rắn, hiểu biết, khá khỏe khoắn, biểu thị cho máu thịt của cuộc sống trong một căn phòng đầy những người đàn ông sành sỏi. Bà sẽ nói dối một câu, dù ngay sau đó là sự thật. Trên bức tường sau lưng bà treo một con cá đuối phơi khô lớn. Câm lặng trong phòng khách, bà đánh giá những tấm thảm, những cái tách bằng sứ, và những tấm ảnh, dù căn phòng cũ kỹ chỉ được che chở khỏi làn gió mặn bởi bề dày của một cục gạch, và giữa những tấm màn che viền đăng ten bạn nhìn thấy lũ chim ó biển liệng xuống như một hòn đá rơi, và vào những ngày giông bão, lũ hải âu lảo đảo bay qua không trung, và những ánh đèn của con tàu hơi nước khi cao khi thấp. Sự u buồn là những âm thanh của một đêm đông.

Những tấm ảnh đã được giao đúng hạn hôm Chủ nhật, và bà mải mê nhìn cảnh đám cưới của tiểu thư Cynthia ở Tu viện.[11] Cả bà nữa, thích được ngồi trong một cỗ xe với những cái nhíp đàn hồi tốt. Những âm tiết nhanh, mềm mại trong lời lẽ của những kẻ có học thức khiến bà xấu hổ với vài âm tiết thô thiển của mình. Và rồi suốt đêm bà nghe tiếng Đại Tây Dương nghiến trên những tảng đá thay vì những cỗ xe ngựa hai bánh và tiếng những người hầu huýt gió gọi xe ô tô... Thế nên hẳn bà đang mơ mộng trong lúc rửa cái chảo đựng kem. Nhưng những kẻ lắm chuyện, lanh lợi đã chuồn tới các thị trấn. Như một kẻ keo kiệt, bà tích trữ những cảm giác của mình trong lồng ngực. Bà không hề thay đổi chút nào suốt những năm qua, và khi quan sát bà một cách ganh tị, dường như tất cả những thứ bên trong bà phải là vàng ròng.

Bà cụ minh mẫn, sau khi dán mắt lên mặt biển, một lần nữa lui vào trong. Hai du khách quyết định đã tới lúc di chuyển tới mũi Gurnards Head.

Ba giây sau bà Durrant gõ cửa.

“Cô Pascoe?” Bà gọi.

Với dáng vẻ khá ngạo mạn, bà quan sát hai du khách đang băng qua con đường mòn. Bà xuất thân từ một nòi giống ở Highland, nổi tiếng với các thủ lĩnh của nó.

Cụ Pascoe xuất hiện.

“Cháu ganh tị với cô về bụi hoa đó,” bà Durrant nói, chỉ cây dù mà bà đã dùng để gõ cửa vào khóm cỏ ban âu[12] mọc bên cạnh cửa. Cụ Pascoe nhìn bụi cỏ với vẻ không tán thành.

“Cháu mong con trai cháu về tới trong một hai ngày nữa,” bà Durrant nói. “Đến từ Falmouth với một người bạn trên một chiếc thuyền nhỏ... Có tin gì của Lizzie chưa, cô Pascoe?”

Đôi ngựa pony đuôi dài của bà đứng giật giật tai trên đường, cách đó hai mươi thước. Thỉnh thoảng thằng bé Curnow lại xua ruổi cho chúng. Nó thấy bà chủ của mình đi vào trong nhà; bước ra trở lại; và đi ngang qua, đang sôi nổi nói chuyện, xét từ cử động của đôi bàn tay, quanh khoảnh đất trồng rau trước nhà. Cụ Pascoe là cô của bà ta. Cả hai đang nhìn kỹ một bụi cây. Bà Durrant cúi xuống và ngắt một nhánh cây. Kế tiếp bà chỉ (những cử động của bà dứt khoát; bà giữ thân người rất thẳng) bên luống khoai tây. Chúng bị trụi lá. Mọi dây khoai năm đó đều trụi lá. Bà Durrant chỉ cho cụ Pascoe thấy khoai của bà bị tàn rụi tệ hại thế nào. Bà Durrant sôi nổi nói; cụ Pascoe ngoan ngoãn lắng nghe. Thằng bé Curnow biết rằng bà Durrant đang nói rằng việc đó hoàn toàn đơn giản; bạn chỉ cần pha thuốc trừ sâu vào một ga-lông nước; “Cháu đã tự tay làm việc đó trong vườn của cháu,” bà Durrant đang nói.

“Cô sẽ không còn củ khoai tây nào... cô sẽ không còn củ khoai tây nào,” bà Durrant đang nói với giọng nhấn mạnh khi họ đi tới cổng. Lúc này thằng bé Curnow trở nên bất động như đá.

Bà Durrant cầm lấy dây cương và leo lên ngồi vào vị trí của xà ích.

“Hãy săn sóc cái chân đó, hoặc cháu sẽ mời bác sĩ tới cho cô,” bà gọi với lại; vuốt ve đôi ngựa; và cỗ xe lăn bánh. Thằng bé Curnow chỉ kịp nhón chân nhảy lên xe. Nó ngồi ở giữa băng ghế sau, nhìn bà chủ của nó.

Bà Pascoe đứng ở cổng nhìn theo họ; đứng ở cổng cho tới khi cỗ xe quẹo ở góc đường; đứng ở cổng, lúc nhìn sang phải, lúc sang trái; rồi đi trở vào nhà.

Chẳng bao lâu đôi ngựa đã tấn công con đường băng qua trảng với những cặp chân trước năng nổ. Bà Durrant buông cặp dây cương lỏng lẻo xuống, và ngả người ra phía sau. Sự sôi nổi đã rời khỏi bà. Cái mũi diều hâu của bà mỏng như một mảnh xương bị tẩy trắng qua đó bạn hầu như nhìn thấy ánh sáng. Đôi bàn tay, đặt trên cặp dây cương trên đùi bà, rất ổn định ngay cả trong lúc bà ngủ. Môi trên của bà ngắn đến độ nó hầu như tự nhấc lên khỏi những cái răng cửa trong một nụ cười nhếch mép. Tâm hồn bà bay lướt qua những dặm dài trong lúc tâm hồn của cụ Pascoe gắn chặt vào nơi chốn quạnh quẽ của nó. Tâm hồn bà lướt qua những dặm đường trong lúc đôi ngựa trèo lên con đường đồi dốc. Bà thả tâm hồn tới phía trước và phía sau, như thể những ngôi nhà tranh không mái, những đống xỉ quặng, và những khu vườn nhà um tùm những bụi mao địa hoàng và mâm xôi gieo bóng lên tâm trí bà. Khi lên tới đỉnh đồi, bà dừng xe lại. Những ngọn đồi xanh nhạt đang vây quanh bà, trên mỗi ngọn rải rác những tảng đá xa xưa; bên dưới là biển, đa dạng như một biển ở miền nam; bản thân bà ngồi đó nhìn từ đồi xuống biển, người vươn thẳng, mũi khoằm, giữ cân bằng ngang nhau giữa tâm trạng u ám và vui vẻ. Đột nhiên bà quất nhẹ đôi ngựa khiến thằng bé Curnow lại phải nhón chân nhảy lên xe.

Lũ quạ đáp xuống; lũ quạ bay lên. Những cây mà chúng chạm tới một cách thất thường dường như không đủ cho số lượng đông đảo của chúng. Những ngọn cây cất tiếng ca với cơn gió luồn qua chúng; những cành cây kêu cọt kẹt và thỉnh thoảng buông xuống những lớp vỏ khô hay nhánh khô nhỏ, dù đang là giữa mùa hè. Lũ quạ cứ bay lên rồi hạ xuống, cất cánh với số lượng ít hơn mỗi lần trong lúc những loài chim chín chắn hơn đã tìm được chỗ nghỉ, bởi buổi chiều đã qua lâu, đủ khiến cho không gian bên trong cánh rừng hầu như tối sẫm. Những lớp rêu mềm; những thân cây trông như những bóng ma. Bên ngoài chúng là một cánh đồng cỏ lấp lánh ánh bạc. Cỏ bông bạc dựng những chiếc giáo bằng lông của chúng từ những gò đất xanh rì ở đầu cánh đồng. Một dòng nước lấp loáng. Lũ bướm đêm thân vằn[13] lượn vòng vòng trên những bông hoa. Cam và tím, màu hoa sen cạn[14] và màu bánh anh đào nhòa vào bóng chiều nhá nhem, nhưng những cây thuốc lá và lạc tiên, mà trên đó lũ bướm đêm lớn đang lượn vòng, thì trắng lóa như đồ sứ. Lũ quạ quật cánh vào nhau trên những ngọn cây và đang đậu xuống để ngủ thì, từ phía xa xa, một âm thanh quen thuộc ngân vang - to dần - khá ồn ào trong tai chúng - khiến những đôi cánh buồn ngủ vọt lên không trung lần nữa - tiếng chuông báo giờ ăn tối ở ngôi nhà.

Sau sáu ngày hứng chịu gió biển, nắng mưa, Jacob Flanders đã mặc một chiếc áo khoác ăn tối. Vật thể kín đáo màu đen này đã xuất hiện thi thoảng trong con thuyền, giữa những lon đồ hộp, những hũ dưa chua, thịt bảo quản, và trong lúc chuyến đi tiếp tục nó trở nên ngày càng không thích hợp, khó lòng tin tưởng. Và giờ đây, thế giới đang ổn định, được thắp sáng bởi ánh nến, chỉ có cái áo khoác mặc trong bữa ăn tối bảo toàn cho anh. Anh không thể biết ơn nó sao cho đủ. Dù vậy, cổ, cổ tay và gương mặt anh bị phơi trần không có gì che đậy, và toàn bộ con người anh, dù có phơi ra hay chăng, bừng bừng và tỏa sáng đến độ khiến cho ngay cả màu đen cũng trở thành một tấm màn che không hoàn hảo. Anh rút lại bàn tay to đỏ ửng nằm trên tấm khăn trải bàn. Nó len lén khép lại trên những cái ly mỏng mảnh và những cái nĩa bạc cong cong. Những khúc xương của món thịt sườn ram được trang trí với những đường viền hồng hồng và hôm qua anh đã gặm món thịt lợn hong khói đến tận xương! Đối diện anh là những hình dáng mờ mờ, trong suốt nửa phần màu vàng và xanh lơ. Phía sau chúng, một lần nữa, là khu vườn xanh xám, và giữa những chiếc lá hình quả lê của bụi cây escallonia[15], những chiếc thuyền đánh cá dường như bị tóm lấy và treo lên. Một con tàu đang chầm chậm lướt qua sau lưng của những người phụ nữ. Hai hoặc ba thân hình đang vội vã băng qua sân hiên trong bóng chiều chạng vạng. Cánh cửa mở ra, đóng lại. Không có gì ổn định hay vẫn nguyên vẹn. Như những chiếc mái chèo khi chèo phía này, khi phía nọ, những câu nói phát ra lúc đây, lúc đó, từ một trong hai phía của cái bàn.

“Ồ, Clara, Clara!” Bà Durrant cảm thán, và Timothy Durrant bổ sung, “Clara, Clara,” Jacob xác định cái hình dáng trong làn sương mù vàng là Clara, em gái của Timothy. Cô gái ngồi mỉm cười và đỏ mặt. Với đôi mắt sẫm màu của ông anh trai, nàng mơ hồ và dịu dàng hơn anh nàng. Khi tiếng cười lắng lại, nàng nói, “Nhưng, mẹ à, điều đó đúng. Anh ấy đã nói thế, phải không? Cô Eliot đã đồng ý với chúng ta...”

Nhưng cô Eliot, cao, tóc xám, đang nhường chỗ bên cạnh mình cho ông cụ đã đến từ sân hiên. Bữa ăn tối sẽ không bao giờ kết thúc, Jacob nghĩ, và anh không muốn nó kết thúc, dù con tàu đã đi từ một góc của khung cửa sổ tới góc kia, và một ánh đèn đánh dấu phần cuối của cái cầu tàu. Anh thấy bà Durrant đang nhìn đăm đăm ánh đèn đó. Bà quay sang anh.

“Cậu là người chịu trách nhiệm, hay Timothy?” Bà hỏi. “Xin thứ lỗi nếu tôi gọi cậu là Jacob. Tôi đã nghe nói nhiều về cậu.” Rồi đôi mắt quay trở lại với biển. Đôi mắt bà thẫn thờ khi bà nhìn cảnh vật.

“Trước kia đây là một ngôi làng nhỏ,” bà nói, “giờ nó đã phát triển...” Bà đứng lên, mang theo tấm khăn ăn, và đứng cạnh cửa sổ.

“Anh có cãi cọ với Timothy không?” Clara e thẹn hỏi. “Tôi thì có lẽ sẽ có.”

Bà Durrant quay lại từ cửa sổ.

“Đang càng lúc càng muộn,” bà nói, ngồi thẳng người, và nhìn xuống bàn. “Các vị nên xấu hổ, tất cả các vị. Ông Clutterbuck, ông nên cảm thấy xấu hổ.” Bà cao giọng, vì ông Clutterbuck lãng tai.

“Bọn cháu xấu hổ,” một cô gái nói. Nhưng cụ già có bộ râu quai nón tiếp tục ăn món bánh tạc nhân mận. Bà Durrant bật cười và ngả lưng vào ghế, như thể đang chiếu ý ông ta.

“Chúng tôi xin trình bày với bà, bà Durrant,” một thanh niên đeo đôi kính dày cộp và có một bộ ria hung đỏ nói. “Tôi xin nói những điều kiện đã được hoàn thành. Cô ta nợ tôi một đồng sô-vơ-ren.”

“Không, trước khi có cá, bà Durrant,” Charlotte Wilding nói.

“Đó là vụ đánh cược, với con cá,” Clara nghiêm trang nói. “Phải có hoa thu hải đường, mẹ à. Để ăn với cá của anh ta.”

“Ôi trời,” bà Durrant nói.

“Charlotte sẽ không trả tiền cho anh,” Timothy nói.

“Sao anh dám...” Charlotte nói.

“Đặc quyền sẽ là của tôi,” ông Wortley nhã nhặn nói, đưa ra một cái hộp bằng bạc đầy những đồng sô-vơ-ren và đặt một đồng lên bàn. Sau đó bà Durrant đứng lên và đi ngang qua phòng, giữ thân người rất thẳng, và các cô gái trong làn sương mù vàng, xanh lơ và bạc đi theo bà, cả cô Eliot lớn tuổi trong chiếc váy nhung; và một phụ nữ nhỏ bé hồng hào, đứng ngần ngừ ở cửa, sạch sẽ, cẩn trọng, có lẽ là một nữ gia sư. Tất cả đi ra ngoài ngang qua cánh cửa mở.

“Khi cô già bằng tôi, Charlotte ạ...” bà Durrant nói, kéo cánh tay của cô gái vào phía trong cánh tay của bà khi họ bước qua lại trên sân hiên.

“Vì sao bà buồn như vậy?” Charlotte hấp tấp hỏi.

“Với cô tôi trông có vẻ buồn à? Tôi hy vọng là không,” bà Durrant nói.

“Ờ, ngay lúc này thì vậy. Bà đâu có già.”

“Đủ già để là mẹ của Timothy.” Họ dừng lại.

Cô Eliot đang nhìn qua cái kính thiên văn của ông Clutterbuck ở rìa sân hiên. Ông cụ lãng tai đứng bên cạnh cô, vê vê bộ râu, và xướng tên của những chòm sao: “Tiên Nữ, Mục Tử, Thiên Xứng[16], Tiên Hậu...”

“Tiên Nữ,” cô Eliot lẩm bẩm, di chuyển nhẹ cái kính viễn vọng.

Bà Durrant và Charlotte nhìn dọc theo ống của cái kính về phía bầu trời.

“Có cả triệu triệu ngôi sao,” Charlotte nói với vẻ chắc chắn. Cô Eliot rời mắt khỏi cái kính. Đám thanh niên đột nhiên cười rộ trong phòng ăn.

“Cho tôi xem với,” Charlotte nôn nao.

“Những ngôi sao khiến tôi chán chết,” bà Durrant nói, bước xuôi xuống mé dưới sân hiên với Julia Eliot. “Có lần tôi đã đọc một cuốn sách về những ngôi sao... Họ đang nói gì vậy?” Bà dừng lại trước cửa sổ phòng khách. “Timothy,” bà nhận xét.

“Anh chàng im lặng,” cô Eliot nói.

“Phải, Jacob Flanders,”

“Ồ, mẹ! Con không nhận ra mẹ!” Clara Durrant kêu lên, bước tới từ hướng đối diện với Elsbeth. “Thơm quá,” nàng hít một hơi, vò nát một lá cỏ roi ngựa.

Bà Durrant quay lưng và bước đi một mình.

“Clara!” Bà gọi. Clara bước tới chỗ bà.

“Họ thật khác biệt nhau!” Cô Eliot nói.

Ông Wortley đi ngang qua họ, phì phèo một điếu xì gà.

“Tôi cảm thấy hài lòng với từng ngày tôi sống...” ông nói khi đi ngang qua họ.

“Thật thú vị khi đoán...” Julia Eliot lẩm bẩm.

“Khi bước ra ngoài lần đầu chúng ta có thể nhìn thấy những bông hoa trong luống hoa đó,” Elsbeth nói.

“Giờ chúng ta thấy rất ít,” cô Eliot nói.

“Chắc hẳn cô ta rất đẹp, và mọi người yêu quý cô ta, dĩ nhiên,” Charlotte nói. “Tôi cho là ông Wortley..” cô dừng lại.

“Cái chết của Edward là một bi kịch,” cô Eliot quả quyết.

Tới đây ông Erskine nhập bọn với họ.

“Không có cái gọi là sự im lặng,” ông dứt khoát. “Tôi có thể nghe thấy hai mươi âm thanh khác nhau trong một đêm như thế này, chưa kể giọng của các cô các cậu.”

“Có muốn đánh cược không?” Charlotte nói.

“Đồng ý,” ông Erskine nói. “Một, biển; hai, gió; ba, một con chó; bốn...”

Những người khác đi ngang qua.

“Timothy khốn khổ,” Elsbeth nói.

“Một đêm rất đẹp,” cô Eliot hét vào tai ông Clutterbuck.

“Thích nhìn những vì sao không?” Ông cụ nói, xoay cái kính thiên văn về phía Elsbeth.

“Việc nhìn những vì sao có khiến cho ông thấy buồn không?” Cô Eliot la lớn.

“Ái chà, không, ái chà, không,” ông Clutterbuck cười khẽ khi hiểu ra cô nói gì.

“Vì sao nó lại làm cho tôi buồn chứ? Không phút giây nào - ái chà, không đâu.”

“Cám ơn, Timothy, nhưng tôi sẽ vào trong,” cô Eliot nói. “Elsbeth, đây là cái khăn choàng.”

“Tôi sẽ vào trong,” Elsbeth lẩm bẩm, mắt dán vào cái kính thiên văn. “Chòm Tiên Hậu,” cô lẩm bẩm. “Các cô đâu hết cả rồi?” Cô hỏi, rời mắt khỏi cái kính. “Trời tối quá!”

Bà Durrant ngồi trong phòng khách cạnh một ngọn đèn dầu, quấn lại một cuộn len. Ông Clutterbuck đọc tờ Times. Cách một quãng có một ngọn đèn thứ hai, và các quý cô trẻ tuổi ngồi quanh nó, đưa kéo qua những tấm vải dát bạc để cắt phục trang cho các buổi diễn kịch nghiệp dư. Ông Wortley đọc một cuốn sách.

“Phải; ông ta hoàn toàn đúng,” bà Durrant nói, đứng thẳng lên và ngưng quấn cuộn len. Và trong lúc ông Clutterbuck đọc phần còn lại của bài diễn văn của Ngài Lansdowne[17] bà ngồi thẳng lưng, không chạm tới cuộn len.

“A, cậu Flanders đấy à,” bà nói, nói với vẻ tự hào, như thể với chính Ngài Lansdowne. Rồi bà thở dài và bắt đầu quấn lại cuộn len.

“Ngồi xuống đó đi,” bà nói.

Jacob bước ra từ chỗ tối cạnh cửa sổ, nơi trước đó anh đi lại quanh quẩn. Ánh sáng đổ lên người anh, soi sáng mọi vết nứt trên làn da của anh; nhưng không cơ nào trên mặt anh động đậy trong lúc anh ngồi nhìn ra khu vườn.

“Tôi muốn nghe về chuyến đi của cậu,” bà Durrant nói.

“Vâng,” anh đáp.

“Hai mươi năm trước chúng tôi từng làm việc đó.”

“Vâng,” anh đáp. Bà nhìn anh chăm chú.

“Cậu ta lúng túng một cách khác thường,” bà nghĩ, nhận thấy anh đang chọc ngón tay vào đôi tất ra sao. “Thế nhưng trông rất khác biệt.”

“Vào thời đó...” bà nói tiếp, kể cho anh nghe họ đã dong buồm như thế nào... “chồng tôi rất hiểu biết về việc đi thuyền, vì ông từng có một chiếc du thuyền trước khi chúng tôi cưới nhau...” và rồi họ đã liều lĩnh bất chấp lời khuyên của những ngư phủ ra sao, “suýt chút đã trả giá cho việc đó bằng tính mạng của chúng tôi, nhưng rất tự hào về bản thân!” Bà vung bàn tay đang cầm cuộn len lên.

“Tôi cầm cuộn len giúp bà nhé?” Jacob ngập ngừng hỏi.

“Cậu nên làm điều đó cho mẹ cậu,” bà Durrant nói, một lần nữa chăm chú nhìn anh, trong lúc bà thay cuộn len. “Phải, nó sẽ diễn ra tốt hơn.”

Anh mỉm cười; nhưng không nói gì.

Elsbeth Siddons quanh quẩn phía sau họ với một thứ gì đó bằng bạc trên cánh tay.

“Bọn cháu muốn...” cô nói. “Cháu đã tới...” cô dừng lại.

“Jacob khốn khổ,” bà Durrant lặng lẽ nói, như thể bà đã biết anh trong suốt đời anh. “Họ sẽ khiến cho cậu phải diễn trong vở kịch của họ.”

“Cháu yêu mến bà biết bao!” Elsbeth nói, quỳ xuống cạnh cái ghế của bà Durrant.

“Đưa giùm tôi cuộn len,” bà Durrant nói.

“Anh ta đến - anh ta đến!” Charlotte Wilding kêu lên. “Tôi đã thắng cược!”

“Có một chùm khác ở cao hơn,” Clara Durrant lẩm bẩm, trèo lên một nấc thang khác. Jacob giữ cái thang trong lúc nàng vươn tay ra để với chùm nho ở trên cao.

“Đó!” Nàng nói, cắt cuống chùm nho. Trông nàng nửa phần trong suốt, xanh xao, đẹp tuyệt trên đó, giữa những chiếc lá nho và những chùm nho vàng và tím đỏ, những ánh sáng bơi bên trên nàng trong những hòn đảo đầy màu sắc. Những chậu phong lữ và thu hải đường nằm dọc theo những tấm ván, những nhánh cà chua bò lên mấy bức tường.

“Mấy chiếc lá thật sự cần được tỉa mỏng bớt,” nàng tự nhủ, và một chiếc lá xanh, xòe ra như một lòng bàn tay, xoay tròn rơi xuống qua đầu của Jacob.

“Tôi đã có nhiều hơn mức tôi có thể ăn,” anh nói, ngẩng lên.

“Việc đó nghe có vẻ vô lý...” Clara bắt đầu, “quay trở lại London...”

“Vớ vẩn,” Jacob nói, một cách dứt khoát.

“Vậy... năm sau anh phải tới, đúng thời điểm,” Clara nói, và cắt một chiếc lá nho khác, khá ngẫu nhiên.

“Nếu... nếu...”

Một đứa bé vừa chạy ngang qua căn nhà kính vừa hét lên. Clara chậm rãi xuống thang với cái giỏ đựng nho.

“Một chùm nho trắng và hai chùm tím,” nàng nói, đặt hai chiếc lá to lên trên chúng, và chúng nằm gọn gàng ấm áp trong giỏ.

“Tôi đã có một thời gian vui vẻ,” Jacob nói, nhìn xuống phía căn nhà kính.

“Vâng, quả là rất vui vẻ,” Clara nói mơ hồ.

“Ồ, cô Durrant,” anh nói, cầm lấy giỏ nho; nhưng nàng bước ngang qua anh, đi về phía cửa căn nhà kính.

“Anh quá tốt - quá tốt,” nàng nghĩ, tới Jacob, nghĩ anh không được nói rằng anh đã yêu nàng. Không, không, không.

Lũ trẻ con đang xoay tròn ngang qua cửa, ném tung mọi thứ lên trời.

“Đám quỷ nhỏ!” Nàng kêu lên. “Chúng có thứ gì thế?” Cô hỏi Jacob.

“Củ hành, tôi nghĩ,” Jacob đáp. Anh nhìn chúng, không cử động.

“Tháng Tám năm sau, nhớ nhé, Jacob,” bà Durrant nói, bắt tay với anh trên sân hiên nơi những đóa hoa vân anh treo lủng lẳng, như những chiếc hoa tai đỏ thắm, phía sau đầu anh. Ông Wortley bước ra khỏi chỗ cửa sổ với đôi dép lê màu vàng, cầm theo tờ Times và rất thân mật giơ tay ra.

“Tạm biệt,” Jacob nói. “Tạm biệt,” anh lặp lại. “Tạm biệt,” anh nói thêm lần nữa.

Charlotte Wilding mở toang cửa sổ phòng ngủ và la lớn: “Tạm biệt, anh Jacob!”

“Cậu Flanders!” ông Clutterbuck la lên, cố thoát khỏi cái ghế tổ ong.[18] “Jacob Flanders!”

“Quá muộn rồi, Joseph,” bà Durrant nói.

“Không quan tâm gì tới tôi,” cô Eliot nói, cắm cái giá ba chân đỡ kính thiên văn lên bãi cỏ.

❀ ❀ ❀

[1] Mũi đất nằm ở phía tây Cornwall.

[2] Domesday Book, được biên soạn theo lệnh của vua William Kẻ chinh phục năm 1085.

[3] Arthur Wellesley, Đệ nhất Công tước xứ Wellington (1769-1852), Anh hùng trong trận Waterloo và là Thủ tướng Anh (1828-30); trong Căn phòng của Jacob, ông tiêu biểu cho các giá trị của Đế chế Anh.

[4] John Keats (1785-1821), nhà thơ lãng mạn chủ đạo của Anh, chết trẻ vì bệnh lao, một nhân vật được nhắc tới một cách phù hợp với đoạn này, khi giọng văn thay đổi một cách tinh tế.

[5] Lord Salisbury (1830-1903): một chính khách thuộc Đảng Bảo thủ, từng giữ chức vụ Thủ tướng Anh ba lần.

[6] Abide With Me: một bài thánh ca thịnh hành của nhạc sĩ chuyên soạn thánh ca Henry Francis Lyte (1793-1847).

[7] Great God, what do I see and hear: một bài thánh ca do một nhạc sĩ vô danh sáng tác, sau đó được sửa lại bởi W.B. Coyler (1812) và T. Corterill (1819).

[8] Rock of Ages: một bài thánh ca của nhạc sĩ chuyên soạn thánh ca Augustus Montague Toplady (1740-78).

[9] Giáo hội Giám lý do John Wesley (1703-1791) sáng lập năm 1784.

[10] Mũi đất trên bờ biển phía bắc của bán đảo Penwith ở Cornwall. Tên của nó có lẽ xuất phát từ hình dáng của nó, giống như đầu của một con cá chào mào.

[11] Tiểu thư Cynthia Charteris kết hôn với Herbert Asquith, con trai của Thủ tướng Anh tại Tu viện Westminster năm 1910, họa sĩ John Singer Sargeant vẽ chân dung của bà năm 1909.

[12] St. John’s wort (Hypericum perforatum), còn gọi là cỏ Thánh John: một loài thảo dược có hoa màu vàng tươi. Nó có tên gọi này do thường nở hoa vào dịp lễ Thánh John (24/6).

[13] Convolivulus moth (Agrius convolvuli): loài bướm đêm to cánh nâu xám, thân trên có sọc màu hồng hoặc đen.

[14] Nasturtium (Tropaoelum).

[15] Một loài cây thuộc họ Gạc nai (Escalloniales), thân bụi, hoa màu trắng hoặc đỏ, thường được trồng làm hàng rào.

[16] Nguyên văn: Sidonia; thực tế không có chòm sao này mà chỉ có tiểu tinh cầu 579 Sidonia thuộc chòm sao Thiên Xung (Libra). Nguồn tham khảo: https://in-the-sky.org/data/object.php?id=A579

[17] Henry Petty Fitznaurice (1845-1927): chính khách Anh.

[18] Beehive chair: loại ghế nhẹ đan chéo như hình tổ ong, bằng cành liễu hoặc rơm, có chỗ ngồi trũng sâu xuống.

Người dịch: Nguyễn Thành Nhân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.