“Đây không phải là toa hút thuốc,” bà Norman yếu ớt phản đối với vẻ lo lắng khi cánh cửa mở toang và một thanh niên cường tráng nhảy vào trong. Có vẻ như gã không nghe thấy bà. Mãi tới Cambridge con tàu mới dừng lại, và bà bị nhốt một mình ở đây, trong một toa tàu, với một gã thanh niên.
Bà sờ vào cái nhíp của hộp đựng đồ trang điểm, và chắc chắn rằng cả lọ nước hoa lẫn một cuốn tiểu thuyết thuê từ thư viện của Mudie[1] đều sẵn sàng khi cần tới (gã đang đứng quay lưng về phía bà, đặt cái túi xách vào giá hành lý). Bà sẽ ném lọ nước hoa bằng tay phải, bà quyết định, và giật sợi dây báo hãm tàu bằng tay trái. Bà đã năm mươi tuổi, có một đứa con trai học đại học. Dù sao đi nữa, sự nguy hiểm của bọn đàn ông là một thực tế. Bà đọc nửa cột trên tờ báo; rồi len lén nhìn qua mép tờ báo để xác định về vấn đề an toàn bằng cách kiểm tra ngoại hình... Bà muốn cho gã mượn tờ báo. Nhưng đám người trẻ tuổi có đọc tờ Morning Post hay chăng? Bà nhìn xem gã đang đọc gì - tờ Daily Telegraph.
Chú ý tới đôi tất (lỏng lẻo), cái cà vạt (loại xoàng), rồi một lần nữa bà nhìn vào mặt gã. Bà dừng lại ở cái miệng. Đôi môi khép. Đôi mắt hạ thấp, vì gã đang đọc. Tất cả đều rắn rỏi, nhưng trẻ trung, dửng dưng, vô tình - còn về việc đánh ngã một người! Không, không, không! Bà nhìn ra cửa sổ, mỉm cười, rồi hướng ánh mắt về chỗ cũ, vì gã không chú ý tới bà. Nghiêm nghị, vô tình... lúc này gã ngẩng lên, lướt ánh mắt qua bà... Theo cách nào đó, dường như gã khá lạc lõng, một mình với một phu nhân lớn tuổi... rồi gã dán đôi mắt - màu xanh lơ - vào cảnh vật. Gã không nhận ra sự hiện diện của bà, bà nghĩ. Thế nhưng bà không có lỗi nếu đây không phải là một toa hút thuốc - nếu đó là ý định của gã.
Không ai từng nhìn thấy người nào như gã, nói gì tới một quý bà cao tuổi đang ngồi đối diện với một thanh niên xa lạ trong một toa tàu. Họ nhìn thấy tổng thể - họ nhìn thấy mọi dạng sự việc - họ nhìn thấy chính họ... Lúc này bà Norman đọc ba trang của một trong những cuốn tiểu thuyết của ông Norris[2]. Bà có nên nói với chàng thanh niên này (nói cho cùng, cậu ta chỉ trạc tuổi con trai của bà): “Nếu cậu muốn hút thuốc, đừng bận tâm tới tôi” không nhỉ? Không: dường như gã hoàn toàn dửng dưng với sự có mặt của bà... Bà không muốn xen ngang.
Nhưng vì, thậm chí ở lứa tuổi này, bà chú ý tới sự dửng dưng của gã; theo cách này cách khác, ít nhất là với bà, có lẽ gã cũng tốt bụng, đẹp trai, thú vị, nổi bật, cường tráng, như con trai của bà. Người ta có thể hình dung ra những đức tính nào khác tùy thích từ những ấn tượng của bà. Dù sao, đây là cậu Jacob Flanders, mười chín tuổi. Không ích gì khi vội vàng đánh giá mọi người. Người ta phải đi theo những gợi ý, không chính xác là những gì được nói ra, cũng không hoàn toàn là những gì được thực hiện - ví dụ, khi con tàu lăn bánh vào sân ga, Flanders mở toang cửa, và vừa xách giúp bà cái hộp trang điểm, vừa nói, hay đúng hơn là lẩm bẩm: “Để tôi cầm cho” với vẻ rất e thẹn; thật sự anh khá lúng túng về việc đó.
“Ai...” vị phu nhân nói, khi gặp con trai của mình; nhưng vì có một đám đông trên sân ga và Jacob đã đi mất, bà không hoàn tất câu nói của mình. Vì đây là Cambridge, vì bà đang ở đó vào dịp cuối tuần, vì suốt cả ngày dài bà không nhìn thấy gì khác ngoài những thanh niên, trên những đường phố và quanh những cái bàn tròn, hình ảnh của người bạn đường cùng toa đã hoàn toàn lạc khỏi tâm trí của bà, như một cây kim gút cong bị một đứa bé thả xuống những xoáy nước của một cái giếng thiêng[3] và biến mất mãi mãi.
Họ bảo bầu trời như nhau ở mọi nơi. Những du khách, những kẻ đắm tàu, những kẻ tha hương và đang hấp hối cảm thấy an ủi với ý nghĩ này, và không còn ngờ gì, nếu bạn là một kẻ có xu hướng thần bí, sự an ủi, thậm chí sự giải thích, sẽ tuôn trút xuống như mưa từ bề mặt nguyên vẹn đó. Nhưng bên trên Cambridge - dù sao thì cũng bên trên mái Nhà nguyện của Trường King’s College[4] - có một sự khác biệt. Một thành phố lớn sẽ gieo vào bóng đêm ngoài khơi một ánh sáng rực rỡ. Có lạ lùng chăng nếu cho rằng bầu trời, khi luồn qua những khe hở của Nhà nguyện King’s College, trở nên sáng hơn, mỏng manh hơn, lấp lánh hơn bầu trời nơi khác? Phải chăng Cambridge không chỉ bừng lên trong đêm mà cả trong ngày?
Hãy nhìn xem, khi họ chìm vào buổi lễ, những tà áo tung bay uyển chuyển làm sao, như thể bên trong chúng không có gì rắn đặc, hữu hình. Những gương mặt đẹp như tượng, sự bảo đảm, thẩm quyền được kiểm soát bởi lòng sùng kính, dù những đôi giày ống to bước đều bên dưới những tấm áo choàng. Họ bước đi trong đám rước mới trật tự làm sao. Những cây nến sáp dày đứng thẳng; những chàng trai trẻ đứng lên trong những chiếc áo choàng trắng; trong khi cái bục hình con đại bàng[5] nâng đỡ quyển thánh kinh lớn để mọi người đều nhìn thấy.
Một luồng ánh sáng nghiêng xuyên ngang qua mỗi cửa sổ, tím và vàng, ngay cả trong làn bụi dày của nó, trong lúc, ở nơi nó đổ xuống nền đá, lớp đá đó có màu đỏ, vàng và tím mềm mại của phấn. Tuyết hay cây xanh, mùa đông hay mùa hạ, chẳng thứ nào chi phối được lớp kính màu cũ. Các phía của một cái đèn lồng bảo vệ ngọn lửa, giúp nó cháy đều ngay cả trong một đêm nhiều gió nhất - cháy đều và nghiêm trang soi sáng những thân cây - mọi thứ trong Nhà nguyện đều trật tự như thế. Những giọng nói nghiêm trang cất lên; cây đàn organ đáp lại một cách thấu hiểu, như thể củng cố đức tin của con người với sự tán thành của các yếu tố tự nhiên. Những thân hình mặc áo choàng trắng di chuyển từ phía này sang phía khác; khi bước lên những bậc thang, khi bước xuống, tất cả đều rất đỗi trật tự.
...Nếu bạn đặt một cái đèn lồng cạnh một gốc cây, mọi côn trùng trong rừng đều bò tới đó - một sự sự tập hợp lạ lùng, vì dù chúng bò, nhảy và va đầu vào lớp kính, dường như chúng không có một mục đích nào cả - một sự điên rồ nào đó đã thôi thúc chúng. Người ta phát mệt khi quan sát chúng, trong lúc chúng lẩn quẩn quanh cái lồng đèn và va đầu vào đó một cách mù quáng như thể muốn vào bên trong, một con cóc lớn, kẻ hồ đồ nhất trong đám, đang len lỏi qua số còn lại. A, nhưng gì thế nhỉ? Một tràng súng săn kinh khủng vang lên - những tiếng răng rắc ghê tai; tiếng rì rào lan tỏa - sự thinh lặng êm ái trùm lên âm thanh. Một cây sồi to ngã xuống, một dạng của cái chết trong cánh rừng. Sau đó, gió thổi u buồn trong những hàng cây.
Nhưng buổi lễ trong Nhà nguyện của Trường King’s College này - vì sao lại cho phép phụ nữ tham gia? Chắc chắn, nếu tâm trí lang thang (và Jacob trông có vẻ xao lãng khác thường, đầu anh ngửa ra sau, cuốn sách thánh ca mở sai trang), nếu tâm trí lang thang, đó là vì có nhiều tiệm mũ và những kệ quần áo đủ màu được trưng bày bên trên những chiếc ghế đệm cói. Dù đầu óc và thân thể có thể khá thành kính, người ta vẫn có một cảm giác về những cá thể - một số thích màu xanh lơ, số khác màu nâu; một số thích những cọng lông chim, số khác hoa păng-xê và hoa lưu ly. Không ai nghĩ tới việc mang một con chó vào nhà thờ. Bởi dù một con chó hoàn toàn ổn trên một con đường sỏi nhỏ, và không hề tỏ vẻ bất kính đối với những bông hoa, cách thức nó đi giữa một dãy ghế, nhìn ngó, giơ một chân lên, và tới gần một cây cột với một mục đích khiến máu lạnh đi vì kinh khủng (nếu bạn là thành viên của một giáo đoàn - sự e thẹn nằm ngoài vấn đề), một con chó sẽ phá hủy hoàn toàn buổi lễ. Những phụ nữ này cũng thế; dù họ rất ư thành kính và nổi bật, được bảo chứng bởi thần học, toán học, tiếng Latin và tiếng Hy Lạp của chồng họ. Chỉ có Thượng đế biết vì sao. Bởi một lẽ, Jacob nghĩ, họ xấu xa như tội lỗi.
Lúc này có tiếng sột soạt và lẩm bẩm. Anh bắt gặp ánh mắt của Timmy Durrant; đang nhìn anh, rất nghiêm khắc; và rồi, rất nghiêm trang, nháy mắt với anh.
“Waverley,”[6] căn biệt thự trên con đường tới Girton được gọi như thế, không phải vì ông Plumer hâm mộ Scott hoặc vì phải chọn một cái tên nào đó, nhưng những cái tên cũng hữu ích khi bạn phải tiếp đãi những sinh viên đại học, và vì họ đang chờ lên năm thứ tư, mọi người trò chuyện về những cái tên nằm bên trên các cánh cổng vào giờ ăn trưa ngày Chủ nhật.
“Buồn tẻ quá,” bà Plumer hấp tấp xen ngang. “Có ai biết cậu Flanders không?”
Durrant biết; do đó hơi đỏ mặt, và vừa bối rối nói một câu gì đó về việc chắc chắn vừa nhìn ông Plumer và kéo cái ống quần bên phải trong lúc nói. Ông Plumer đứng lên và tới đứng trước lò sưởi. Bà Plumer cười phá lên như một gã trai trẻ thẳng tính thân thiện. Nói tóm, người ta không thể tưởng tượng ra bất kỳ thứ gì kinh khủng hơn cảnh tượng này, môi trường này, bối cảnh này, thậm chí khu vườn tháng Năm cũng khốn khổ với sự cằn cỗi giá lạnh và một đám mây chọn khoảnh khắc đó để lướt ngang qua mặt trời. Dĩ nhiên là có khu vườn. Mọi người đồng loạt nhìn nó. Do đám mây, những chiếc lá gợn lên màu xám, và có chim sẻ trong vườn - hai con chim sẻ.
“Tôi nghĩ,” bà Plumer nói, lợi dụng khoảnh khắc trì hoãn, trong lúc đám thanh niên nhìn đăm đăm khu vườn, để nhìn chồng mình, và ông ta, dù không chấp nhận toàn bộ trách nhiệm về hành động đó, đưa tay giật dây chuông.
Không có lý do gì để biện minh cho sự xâm phạm một giờ của đời người này, trừ sự suy ngẫm diễn ra đối với ông Plumer trong lúc ông xắt thịt cừu, rằng nếu không có vị giáo sư đại học nào tổ chức một bữa tiệc trưa, nếu hết Chủ nhật này tới Chủ nhật khác trôi qua, nếu đám thanh niên tốt nghiệp ra trường, trở thành những luật sư, bác sĩ, nghị viên, doanh nhân - nếu không có vị giáo sư đại học nào tổ chức một bữa tiệc trưa...
“Này, thịt cừu tạo nên nước sốt bạc hà (dùng để chấm thịt cừu nướng), hay nước sốt bạc hà tạo nên thịt cừu?” Ông hỏi chàng trai bên cạnh mình, để phá vỡ sự im lặng đã kéo dài năm phút rưỡi.
“Em không biết, thưa thầy,” chàng trai nói, đỏ bừng mặt.
Đúng lúc này Flanders bước vào. Anh đã nhầm giờ.
Hiện giờ, dù họ đã xong bữa, bà Plumer dọn món phụ là súp cải bắp lên. Jacob quyết định, dĩ nhiên, rằng anh sẽ ăn phần thịt của mình trong thời gian bà dọn xong món phụ, ngẩng lên một hai lần để đo lường tốc độ của mình - chỉ vì anh đang đói ghê gớm. Khi nhìn thấy điều này, bà Plumer bảo rằng bà chắc chắc rằng cậu Flanders sẽ không bận tâm - và món bánh tạc được đưa lên. Gật đầu theo một cách thức khác thường, bà ra hiệu để cô người hầu mang tới cho Flanders món súp cải bắp bổ sung. Bà liếc nhìn cái chân cừu. Không còn nhiều thịt cho bữa trưa.
Đó không phải là lỗi của bà - vì làm sao bà có thể kiểm soát việc cha bà tạo ra bà cách đây bốn mươi năm ở vùng ngoại ô của Manchester? Và một khi đã chào đời, bà còn có thể làm gì khác ngoài việc lớn lên với bản tính keo kiệt, nhiều tham vọng, với một nhận thức chính xác theo bản năng về những nấc thang danh vọng và sự chuyên cần như loài kiến trong việc đẩy George Plumer lên phía trước của bà, để leo tới đỉnh của cái thang đó? Và đỉnh của cái thang đó là gì? Bà ý thức được rằng rõ ràng tất cả những nấc thang đó đều ở bên dưới một nấc; vì cho tới thời điểm George Plumer trở thành Giáo sư Vật lý, hoặc bất cứ danh phận nào khả dĩ, bà Plumer chỉ có thể bám chặt vào vị thế của mình, nhìn xuống mặt đất, và thôi thúc hai cô con gái chất phác của bà trèo lên những nấc thang.
“Hôm qua tôi ở chỗ trường đua,” bà nói, “với hai đứa con gái nhỏ của tôi.”
Cũng không phải là lỗi của chúng. Chúng bước vào phòng khách, với váy trắng và khăn thắt lưng xanh. Chúng trao những điếu thuốc. Rhoda kế thừa đôi mắt xám lạnh của cha nó. George Plumer có đôi mắt xám lạnh, nhưng bên trong chúng có một tia sáng khó hiểu. Ông ấy có thể nói về Ba Tư và những trận gió Mậu dịch, Đạo luật Cải cách[7] và chu kỳ của các vụ thu hoạch. Trên kệ của ông là những cuốn sách của Wells và Shaw[8]; trên bàn là những tuần báo nghiêm túc giá sáu xu được viết bởi những người đàn ông mang ủng lấm bùn - tiếng cọt kẹt và kêu rít hàng tuần của những bộ não được rửa trong nước lạnh và được vắt khô - những tờ báo u sầu.
“Tôi cảm thấy tôi không biết sự thật về bất cứ thứ gì cho tới khi đã đọc cả hai tờ này!” Bà Plumer tươi tỉnh nói, vỗ vào bảng mục lục với bàn tay trần đỏ hồng, chiếc nhẫn đeo trên đó trông rất không phù hợp.
“Chúa ơi, Chúa ơi, Chúa ơi!” Jacob kêu lên, khi bốn chàng sinh viên rời khỏi ngôi nhà. “Ôi, Chúa ơi!”
“Thật đáng tởm!” Anh nói, nhìn lướt qua con đường để tìm một bụi tử đinh hương hay một chiếc xe đạp - bất cứ thứ gì để lấy lại cảm giác về sự tự do.
“Thật đáng tởm,” anh nói với Timmy Durrant, tóm tắt sự khó chịu của mình trước thế giới đã bày ra với anh vào giờ ăn trưa, một thế giới có khả năng tồn tại - không còn ngờ gì về điều đó - nhưng rất không cần thiết; tin vào những thứ như thế - Shaw và Wells và những tờ tuần báo nghiêm túc giá sáu xu! Những kẻ lớn tuổi tầm thường và suy sụp đó theo đuổi cái gì nhỉ? Họ không bao giờ đọc Homer, Shakespeare, những tác giả thời Elizabeth hay sao? Anh thấy rõ ràng nó đi ngược lại những cảm giác anh đã rút ra từ tuổi trẻ và xu hướng tự nhiên. Những kẻ khốn khổ đã dựng lên mục tiêu hạn chế này. Thế nhưng trong anh có chút niềm thương hại. Hai cô bé khốn khổ đó...
Mức độ bồn chồn của anh chứng tỏ anh đã bị kích động. Anh xấc xược và thiếu kinh nghiệm, nhưng khá chắc chắn là các thành phố mà những người già nua của nòi giống đã xây dựng bên trên đường chân trời hiện ra như những căn nhà ngoại ô bằng gạch, những trại lính, và những địa điểm của kỷ luật, chống lại một ngọn lửa đỏ và vàng. Anh nhạy cảm; nhưng từ này mâu thuẫn với sự điềm tĩnh trong cách thức anh khum bàn tay để che gió cho que diêm. Anh là một thanh niên xuất chúng.
Dù sao, bất kể là sinh viên hay người bán hàng, nam hay nữ, lứa tuổi hai mươi phải đến như một cú sốc - thế giới của người già - xuất hiện trong đường viền màu đen đó bên trên bản thể của chúng ta; bên trên thực tế; những vùng đất hoang và Byron; biển và ngọn hải đăng; bộ hàm của con cừu với những cái răng vàng khè bên trong; bên trên niềm tin ngoan cố không thể kiềm chế vốn khiến cho tuổi trẻ trở nên cáu kỉnh một cách quá quắt - “Tôi là cái tôi là, và có ý định là,” thứ vốn không có hình thức nào trên đời này trừ phi Jacob tạo ra nó cho chính mình. Vợ chồng giáo sư Plumer sẽ cố ngăn cản anh tạo ra nó. Wells và Shaw và những tờ tuần báo nghiêm túc giá sáu xu sẽ ngồi trên đầu nó. Mỗi lần anh ăn trưa ở ngoài vào ngày Chủ nhật - trong những bữa tiệc và tiệc trà - sẽ có cú sốc tương tự - sự chán ghét - bực mình - rồi thích thú, bởi anh hướng vào nội tâm với mỗi bước chân trong lúc đi cạnh bờ sông, với sự chắc chắn hoàn toàn, sự trấn an từ mọi phía, những hàng cây cúi đầu, những ngọn tháp xám mềm lại trong màu xanh lơ, những giọng nói lướt qua và dường như dừng lại giữa không trung, bầu không khí mùa xuân của tháng Năm, bầu không khí náo nức với những phần tử của nó - cây hạt dẻ nở hoa, thụ phấn; bất kể nó là gì, cái mang tới quyền lực cho bầu không khí tháng Năm đang làm mờ đi những hàng cây, trao nhựa cho những chồi non, tô màu xanh lên cây cối. Và dòng sông chảy ngang qua, lặng lẽ, chậm rãi, quyện quanh chiếc mái chèo nhúng vào nó và thả rơi những giọt trắng, trở nên xanh thẳm và sâu bên trên những bụi cói nghiêng ngả, như thể vuốt ve mơn trớn chúng.
Ở nơi họ cột thuyền, cây cối rũ thấp đến độ những chiếc lá cao nhất của chúng cũng luồn trong những làn sóng gợn và cái nêm màu xanh do lá tạo thành trong dòng nước chao động giữa chiều rộng của nhánh lá khi những chiếc lá di chuyển. Lúc này, một cơn gió nổi lên - ngay ở một mép của bầu trời; và khi Durrant ăn quả anh đào, anh thả những quả anh đào màu vàng bị hư xuyên qua các phiến lá xanh, những cuống lá sáng lên lấp lánh trong lúc chúng vặn vẹo qua lại, và đôi khi một quả anh đào ăn dở sẽ chìm xuống, đỏ rực lên giữa màu xanh. Cánh đồng cỏ ở ngang tầm mắt của Jacob khi anh nằm ngửa ra; được mạ vàng với những đóa hoa mao lương, nhưng cỏ không có lớp nước mỏng màu xanh của loại cỏ nghĩa trang chảy tràn qua những tấm mộ bia, mà đứng yên, dày và mọng nước. Ngẩng lên nhìn ra sau, anh thấy những đôi chân của lũ trẻ con lún sâu trong cỏ, và cả chân của đàn bò. Nhóp nhép, nhóp nhép, anh nghe thấy; rồi một bước ngắn qua cỏ; rồi lại nhóp nhép, nhóp nhép, nhóp nhép, trong lúc chúng gặm tới tận gốc cỏ. Ở trước mặt anh, hai con bướm trắng lượn vòng càng lúc càng cao quanh một cây du.
“Jacob ngủ rồi,” Durrant nghĩ, ngẩng lên từ cuốn tiểu thuyết. Anh đọc tiếp vài trang nữa rồi ngẩng lên theo một cách thức kỳ lạ, có hệ thống, và mỗi lần ngẩng lên anh lấy vài quả anh đào ra khỏi cái túi giấy, ăn chúng với vẻ lơ đãng. Những con thuyền khác trôi qua, băng ngang dòng nước đen từ phía này sang phía kia để tránh nhau, vì hiện giờ có nhiều chiếc đang cột bên bờ, có những chiếc váy trắng và một làn gió mạnh trong cột không khí giữa hai cây to, vòng quanh chúng là một sợi chỉ xanh lơ - bữa tiệc ngoài trời của Phu nhân Miller. Thêm nhiều thuyền nữa tới gần, và Durrant, vẫn không ngồi lên, đẩy chiếc thuyền tới gần bờ hơn.
“Ôi-i-i,” Jacob rên lên khi chiếc thuyền lắc lư, những cây cối lắc lư, và những chiếc váy trắng và quần fla-nen trắng kéo thành một đường dài và uốn lượn nhấp nhô trên bờ sông.
“Chao ôi!” Anh ngồi dậy, và cảm thấy như thể một một sợi dây thun đã bắn vào mặt mình.
“Họ là bạn của mẹ tôi,” Durrant nói. “Thế nên già Bow cứ tiếp tục gặp phiền toái về chiếc thuyền.”
Chiếc thuyền này đã đi từ Falmouth tới vịnh St. Ives, vòng quanh bờ biển. Một chiếc du thuyền to, trọng tải mười tấn, sẽ được trang bị phù hợp vào ngày hai mươi tháng Sáu, Durrant nói.
“Có sự khó khăn về tiền mặt,” Jacob nói.
“Người của tôi sẽ lo liệu việc đó,” Durrant (con của một ông chủ ngân hàng đã qua đời) đáp.
“Tôi dự định bảo lưu sự độc lập kinh tế của mình,” Jacob cứng cỏi. (Anh đang kích động.)
“Mẹ tôi có nói gì đó về việc sẽ tới Harrogate,” anh buồn bã nói thêm, sờ vào túi áo, nơi anh cất những lá thư.
“Có đúng là cậu anh sắp trở thành một người theo Hồi giáo không?” Timmy Durrant hỏi.
Jacob đã kể chuyện về Cậu Morty của mình trong phòng của Durrant đêm trước.
“Tôi mong ông ấy sẽ làm mồi cho cá mập, nếu mọi người biết sự thật này,” Jacob nói. “Nè, Durrant, không còn quả nào hết!” Anh cảm thán, vò nát cái túi đựng quả anh đào, rồi ném nó xuống sông. Anh nhìn thấy bữa tiệc ngoài trời của Phu nhân Miller trên đảo trong lúc ném cái túi xuống sông.
Một sự bối rối, bực dọc, ảm đạm hiện lên trong mắt anh.
“Chúng ta đi tiếp nhé... đám đông đáng tởm này...” anh nói.
Thế là họ chèo thuyền đi, ngang qua hòn đảo.
Vầng trăng trắng mảnh không cho phép bầu trời tối lại; suốt đêm, những chùm hoa hạt dẻ trắng lóng lánh giữa màu xanh; những bụi mùi tây dại mờ mờ hiện ra trong những cánh đồng.
Hẳn những người phục vụ ở trường Trinity đang xáo trộn những cái đĩa sứ như xào bài, từ tiếng lanh canh có thể nghe thấy ở Sân Lớn. Tuy nhiên, phòng của Jacob nằm ở Sân Neville; tầng trên cùng, thế nên khi tới được cửa phòng của anh người ta cũng mệt đứt hơi; nhưng anh không có ở đó. Có lẽ anh đang ăn tối ở Đại Sảnh. Trời sẽ hoàn toàn tối mịt ở sân Neville khá lâu trước lúc nửa đêm, chỉ những cây cột đối diện vẫn luôn sáng trắng; và những đài phun nước. Cánh cổng có một hiệu ứng kỳ lạ, như dải đăng-ten bên trên màu xanh nhạt. Ngay cả bên trong cửa sổ bạn cũng có thể nghe thấy tiếng đĩa lanh canh, tiếng trò chuyện râm ran từ các bữa ăn; Đại Sảnh sáng rực đèn, và những cánh cửa xoay mở ra, khép lại với một tiếng thình thịch. Có ai đó đến muộn.
Căn phòng của Jacob có một cái bàn tròn và hai cái ghế thấp. Trên mặt lò sưởi là một cái lọ cắm những lá cờ vàng; một bức ảnh chụp mẹ anh; những tấm danh thiếp từ các hiệp hội với những vầng trăng lưỡi liềm nhỏ xíu, những cái huy hiệu, và những cái tên viết tắt; những lá thư và những tẩu thuốc; trên bàn là xấp giấy đóng lề màu đỏ - một luận văn, không ngờ gì nữa - “Lịch sử có bao gồm Tiểu sử của những Vĩ nhân hay không?” Có đủ sách; rất ít sách tiếng Pháp; nhưng đâu có kẻ nào xứng đáng đọc những gì anh thích, khi có tâm trạng, với nhiệt tình thái quá. Cuộc đời của Công tước xứ Wellington, chẳng hạn; Spinoza[9]; các tác phẩm của Dickens[10]; tập trường ca Nữ hoàng Faery; một quyển tự điển Hy Lạp với những cánh hoa anh túc dán ép vào lụa giữa những trang giấy; tất cả các tác phẩm thời Elizabeth. Đôi dép lê của anh đã mòn kinh khủng, như hai chiếc thuyền bị cháy tới tận mép nước. Có những bức ảnh từ những người Hy Lạp, và một bản in khắc từ Ngài Joshua[11] - tất cả đều rất Ăng-lê. Cả những tác phẩm của Jane Austen[12], có lẽ để chiều theo tiêu chuẩn của một ai đó khác. Cuốn sách của Carlyle[13] là một giải thưởng. Có những cuốn sách về các họa sĩ Ý thời Phục hưng, một cuốn Sổ tay về các chứng bệnh của ngựa, và mọi cuốn sách giáo khoa thông thường. Không sinh khí, bầu không khí trong một căn phòng trống rỗng chỉ khiến những bức màn phồng lên; những đóa hoa trong lọ lay động. Một thớ sợi trong cái ghế bành đan bằng cành liễu gai kêu cọt kẹt, dù không có ai ngồi ở đó.
Người đàn ông lớn tuổi run rẩy, loạng choạng bước xuống các bậc thang, hơi sát vào một bên, gần bức tường, với hai tay chắp sau lưng, tà áo choàng của ông ta bay ngược về phía sau [Jacob ngồi trên bệ cửa sổ nói chuyện với Durrant; anh hút thuốc, còn Durrant đang xem bản đồ]. Rồi một người khác, kẻ đang giơ tay lên và ca tụng những cây cột, cánh cổng, bầu trời; một người khác nữa, bước thong dong và tự mãn. Mỗi người bước lên một cầu thang; ba ngọn đèn được thắp lên bên trong những khung cửa sổ tối.
Nếu có bất cứ ánh sáng nào cháy lên bên trên Cambridge, nó phải xuất phát từ ba căn phòng đó; Hy Lạp cháy ở đây; khoa học ở kia; triết học ở tầng trệt. Cụ Huxtable khốn khổ không thể đi thẳng người; Sopwith đã ca tụng bầu trời hằng đêm suốt hai mươi năm nay; và Cowan[14] vẫn lặng lẽ cười với cùng những câu chuyện. Nó không đơn giản, thuần khiết, hay hoàn toàn tuyệt diệu, ngọn đèn của sự học hỏi, vì nếu bạn nhìn thấy họ ở đó, dưới ánh sáng của nó (dù trên tường có tranh của Rossetti[15], hay tranh chép lại của Van Gogh[16] hay không, có những bông hoa tử đinh hương trong bát hay những cái ống nước han rỉ hay không), trông họ mới giống các giáo sĩ làm sao! Giống một vùng ngoại ô nơi bạn tới để ngắm cảnh và ăn một cái bánh đặc biệt làm sao! “Chúng tôi là nhà cung cấp độc nhất của thứ bánh này!” Rồi bạn quay trở lại London; vì bữa thết đãi đã kết thúc.
Giáo sư già Huxtable, sau khi thực hiện với phương pháp của một cái đồng hồ việc thay y phục, buông người vào cái ghế; nhồi thuốc vào tẩu; chọn tờ báo; vắt chéo đôi chân; và rút cặp kính ra. Toàn bộ thịt trên mặt của ông xệ xuống thành những nếp gấp như thể những cơ chống đỡ đã bị dời đi. Thế nhưng cứ tháo dỡ toàn bộ ghế của một toa tàu khỏi chỗ của chúng và đầu của cụ Huxtable sẽ chứa hết tất cả. Lúc này, khi đôi mắt của ông hạ xuống dòng chữ in, cả một đám diễu hành nặng nhọc bước qua những hành lang bộ não của ông, bước nhanh, trật tự, và được củng cố, trong lúc cuộc diễu hành tiếp diễn, bởi những dòng suối mát, cho tới khi toàn bộ sảnh đường, mái vòm, bất kể người ta gọi nó là gì, tràn ngập những ý tưởng. Một sự tập hợp như thế không diễn ra trong bất kỳ bộ não nào khác. Thế nhưng đôi khi ông ngồi đó suốt nhiều giờ liền, nắm chặt tay vịn của cái ghế, như một người bám chặt vì bị mắc cạn, và rồi, chỉ vì cục chai ở chân của ông đau nhói lên, hoặc đó có thể là do bệnh gút, ông nguyền rủa mới ghê gớm làm sao, và, than ôi, bạn hãy nghe ông nói về tiền, miễn cưỡng móc khỏi cái ví da thậm chí đồng xu bằng bạc nhỏ nhất, một cách giấu giếm và nghi ngờ như một bà lão nông dân với tất cả những lời nói dối của mình. Chứng liệt và co thắt lạ lùng - sự soi sáng diệu kỳ. Vầng trán vĩ đại thanh thản cưỡi trên tất cả những thứ này, và bạn có thể tưởng tượng rằng đôi khi trong lúc ngủ hay ở trong những không gian lặng lẽ của đêm, ông nằm đắc thắng trên một cái gối bằng đá.
Trong lúc đó, Sopwith tiến hành một chuyến đi kỳ lạ từ chỗ lò sưởi, cắt cái bánh sô-cô-la thành nhiều phần. Cho tới nửa đêm hoặc muộn hơn, sẽ có nhiều sinh viên trong phòng ông, đôi khi có tới mười hai người, đôi khi ba hoặc bốn; nhưng không ai thức giấc khi họ đi hay đến; Sopwith tiếp tục nói. Nói, nói, nói - như thể người ta có thể nói về mọi thứ - bản thân linh hồn trượt qua đôi môi trong những chiếc đĩa bạc vốn sẽ tan rã trong tâm trí của bọn người trẻ tuổi, như bạc, như ánh trăng. Hoặc khi ở xa họ sẽ nhớ tới nó, và nhìn lại nó, chìm sâu trong sự mù mờ, rồi một lần nữa hồi sinh.
“Chà, ta không bao giờ có thể... Đó là anh bạn cũ Chucky. Cậu bé thân mến của tôi, thế giới đang đối xử với cậu ra sao?” Và Chucky nhỏ bé khốn khổ bước vào, anh chàng tỉnh lẻ không thành công, tên thật của anh ta là Stenhouse, nhưng dĩ nhiên khi sử dụng cái tên kia Sopwith nhớ lại mọi thứ, mọi thứ, “tất cả những gì ta không bao giờ có thể trở thành” - phải, dù hôm sau, khi mua tờ báo và bắt chuyến tàu sớm, với ông dường như tất cả đều trẻ con, phi lý; bánh sô-cô-la, đám trai trẻ; Sopwith kết luận cô đọng về mọi thứ; không, không phải tất cả; ông sẽ gửi con trai của mình tới đó. Ông sẽ dành dụm từng xu để gửi con trai của mình tới đó.
Sopwith tiếp tục nói; kết hợp những thớ sợi cứng nhắc của ngôn từ lúng túng - những điều đám trai trẻ thốt ra - xếp chúng quanh vòng hoa êm ái của chính mình, khiến cho khía cạnh tươi sáng lộ ra, những cây lá xanh tươi, những cái gai sắc nhọn, nam tính. Ông yêu nó. Thật sự, với Sopwith, một người đàn ông có thể nói bất cứ điều gì, cho tới khi y đã già, có lẽ, hoặc đã đi xuống dưới, đi sâu, khi những cái đĩa bạc phát ra những tiếng lanh canh trống rỗng, và dòng chữ trên bia mộ viết hơi quá đơn giản, và con dấu cũ trông quá tinh nguyên, và dấu ấn vẫn luôn như cũ - đầu của một cậu bé Hy Lạp. Nhưng ông sẽ vẫn tôn trọng. Một phụ nữ, khi xét đoán vị giáo sĩ này theo trực giác, bất giác sẽ khinh miệt ông ta.[17]
Cowan, Erasmus Cowan, nhấm nháp rượu pooctô một mình, hoặc với một người đàn ông nhỏ bé lạc quan, kẻ có ký ức lưu giữ một cách chính xác cùng quãng thời gian; nhấm nháp rượu, kể những câu chuyện của mình, và ngâm nga, không cần cuốn sách nào trước mặt, những vần thơ Latin, Virgil[18] và Catullus[19], như thể ngôn ngữ là rượu vang trên môi ông. Chỉ có điều - đôi khi nó sẽ xâm chiếm tâm trí người ta - sẽ ra sao nếu nhà thơ bước vào? “Đây là hình ảnh của ta ư?” Ông ta có thể hỏi, chỉ vào người đàn ông mập mạp, kẻ mà bộ não của ông ta, nói cho cùng, là đại diện của Virgil trong số chúng ta, dù cơ thể phàm ăn, còn về phần vũ khí, đó là những con ong, hay thậm chí lưỡi cày[20]. Cowan thực hiện các chuyến đi ra nước ngoài với một cuốn tiểu thuyết Pháp trong túi, một tấm chăn phủ quanh hai đầu gối, và biết ơn vì được quay trở lại nơi chốn của ông, trong hàng ngũ của ông, lưu giữ trong tấm gương nhỏ gọn của ông hình ảnh của Virgil, tỏa sáng khắp xung quanh với những câu chuyện hay ho về các vị giáo sư của Trường Trinity và những tia rượu pooctô đỏ. Nhưng ngôn ngữ là rượu vang trên môi ông. Không nơi nào khác thơ Virgil sẽ nghe như vậy. Và dù, khi tha thẩn dạo chơi dọc theo khu Backs[21], cô Umphelby lớn tuổi ngâm thơ Virgil khá du dương, cô luôn nảy ra câu hỏi này khi đi tới cầu Clare: “Nhưng nếu mình gặp ông ta, mình sẽ mặc gì nhỉ?” - và rồi, khi đi ngược lên đại lộ về phía Newnham, cô mặc cho trí tưởng tượng của mình chơi đùa trên những chi tiết khác về sự gặp gỡ giữa nam và nữ vốn chưa bao giờ được in ra. Do đó, số sinh viên tới nghe những bài giảng của cô không bằng phân nửa số của Cowan, và điều mà lẽ ra cô có thể nói khi giải thích văn bản mãi mãi bị gác lại. Nói tóm lại, cứ để cho một giáo viên đối mặt với hình ảnh của điều được dạy và tấm gương sẽ tan vỡ. Nhưng Cowan nhấm nháp rượu của ông, lời tán tụng của ông kết thúc, không còn đại diện của Virgil nữa. Không, mà đúng hơn, kẻ xây dựng, kẻ định giá, kẻ thẩm tra; đang điều hành những dòng giữa những cái tên, treo những bản danh sách trên những cánh cửa. Đó là cơ cấu mà qua đó ánh sáng phải tỏa sáng, nếu nó có thể tỏa sáng - ánh sáng của tất cả những ngôn ngữ này, tiếng Hoa và tiếng Nga, tiếng Ba Tư và tiếng Ả Rập, của những biểu tượng và hình, của lịch sử, của những điều đã biết và sắp biết. Để nếu vào ban đêm, trên những ngọn sóng nhào lộn ngoài khơi xa, người ta nhìn thấy một vầng hào quang trên mặt nước, một thành phố sáng rực, một sắc trắng thậm chí trên bầu trời, như vầng hào quang hiện giờ trên Sảnh đường của Trường Trinity nơi họ vẫn đang ăn tối, hay rửa bát, đấy chính là ánh sáng đang bùng lên tại đó - ánh sáng của Cambridge.
“Chúng ta hãy đánh vòng sang phòng của Simeon,” Jacob nói, và họ cuộn tấm bản đồ lại, sau khi đã giải quyết mọi thứ.
Tất cả các ngọn đèn đang tỏa sáng khắp sân, rơi trên những lớp sỏi, để lộ ra những mảng cỏ tối và những bụi cúc đơn độc. Lúc này đám trai trẻ đã trở về phòng của họ. Có trời biết họ đang làm gì. Cái có thể rơi xuống như thế là gì? Và khi nghiêng người bên trên một bồn hoa cửa sổ sủi bọt, người ta chặn đứng một quá khứ vội vã khác, và họ đi lên đi xuống cầu thang, cho tới khi một dạng viên mãn ngự trị sân trường, cái tổ ong đầy những ong, lũ ong về tổ, mập lên với tri thức, buồn ngủ, ngâm nga trong miệng, đột nhiên cất tiếng; bản Xô-nát Ánh trăng được đáp lại bởi một khúc nhạc Waltz.
Bản Xô-nát Ánh trăng văng vẳng; khúc nhạc waltz vỡ vụn. Dù đám người trẻ tuổi vẫn ra vào, họ bước đi như thể đang duy trì những cuộc hẹn. Thi thoảng có một tiếng thình thịch, như thể một món đồ nội thất nặng nề đã rơi xuống, một cách bất ngờ, tự nguyện, không nằm trong sự náo động chung của sự sống sau bữa ăn tối. Người ta cho rằng bọn trẻ tuổi ngước mắt lên khỏi cuốn sách của họ khi món đồ rơi xuống. Họ đang đọc phải không? Tất nhiên có một cảm giác về sự tập trung trong bầu không khí. Rất nhiều chàng trai trẻ ngồi sau những bức tường xám, một số chắc chắn đang đọc, những tờ tạp chí, những cuốn tiểu thuyết ba xu[22], không còn ngờ gì nữa; những cặp chân, có lẽ, gác trên tay tựa ghế; đang hút thuốc; đang nằm ườn trên những cái bàn, và đang viết trong lúc đầu của họ xoay quanh trong một vòng tròn khi cây bút di chuyển - bọn trai trẻ đơn giản, những người này, những kẻ sẽ... nhưng không cần thiết nghĩ tới lúc họ già đi; một số khác đang ăn bánh ngọt; họ đóng đô tại đây, trong những căn phòng hẹp; và, ái chà, hẳn anh chàng Hawkins đã nổi điên khi đột nhiên mở tung cửa sổ và la lên: “Jo—seph! Jo—seph!”, rồi anh ta cố hết sức chạy ngang qua sân, trong lúc một người đàn ông cao tuổi, đeo một tấm tạp dề xanh lá, đang bê một chồng nắp đậy bằng thiếc, ngần ngừ, lấy thăng bằng, và đi tiếp. Nhưng đây là một sự chệch hướng. Có những thanh niên đang đọc, nằm trong những cái ghế bành nông, cầm cuốn sách như thể cầm trong tay thứ gì đó sẽ nhìn xuyên qua họ; tất cả bọn họ đang đau khổ, đến từ các thị trấn trung du, con trai của các mục sư. Số khác đọc Keats. Và những cuốn lịch sử dài nhiều tập - chắc chắn hiện tại có ai đó đang bắt đầu đọc từ đầu để thấu hiểu Đế quốc La Mã Thần thánh, như một người phải đọc. Đó là một phần của sự tập trung, dù nó sẽ nguy hiểm vào một đêm xuân nóng bức - nguy hiểm, có lẽ, khi tập trung quá nhiều vào những cuốn sách đơn lẻ, những chương thật sự, khi vào bất kỳ lúc nào cánh cửa cũng có thể mở ra và Jacob xuất hiện; hoặc Richard Bonamy, không còn đọc Keats nữa, bắt đầu cuốn những cái đóm dài màu hồng từ một tờ báo cũ, nghiêng người về phía trước, và trông không còn có vẻ nôn nao và mãn nguyện nữa, mà hầu như dữ tợn. Vì sao? Có lẽ chỉ vì Keats chết trẻ - người ta cũng muốn làm thơ và yêu đương - ôi, bọn người tàn bạo! Nó cực kỳ khó khăn. Nhưng, nói cho cùng, không khó lắm nếu trên cầu thang kế tiếp, có hai, ba, năm chàng trai, tất cả đều tin chắc vào điều này - nghĩa là vào sự tàn bạo, và sự phân cách rõ ràng giữa đúng và sai. Có một cái trường kỷ, nhiều ghế, một cái bàn vuông, và cửa sổ đang mở, người ta có thể nhìn thấy họ ngồi như thế nào - những cặp chân thò ra ở đây, một gã co người trong một góc trường kỷ ở kia; và, giả sử, vì bạn không thể nhìn thấy anh ta, một kẻ nào đó đứng cạnh tấm chắn lò sưởi, đang nói. Dù sao, Jacob, đang ngồi dạng chân trên một cái ghế và ăn những quả chà là trong một cái hộp dài, chợt cười phá lên. Câu trả lời đến từ góc trường kỷ; vì cái tẩu thuốc của anh ta đang giơ lên giữa không trung, rồi được dời đi. Jacob xoay người một vòng. Anh có gì đó muốn nói về vấn đề ấy, dù chàng trai tóc đỏ cường tráng ngồi ở bàn dường như phủ nhận nó, chậm chạp lắc lư đầu qua lại; và rồi, lấy con dao bỏ túi ra, anh ta xoáy mũi dao hết lần này sang lần khác vào một mấu gỗ trên bàn, như thể khẳng định rằng giọng nói từ chỗ tấm chắn lò sưởi đang nói lên sự thật - mà Jacob không thể phủ nhận. Có khả năng, khi anh đã hoàn thành xong việc sắp xếp những phiến đá niên biểu[23], anh có thể tìm được điều gì đó để nói về vấn đề ấy - thật sự đôi môi anh đã hé mở - chỉ khi đó một tiếng cười lớn mới bật ra.
Tiếng cười tắt lịm trong bầu không khí. Âm thanh của nó hầu như không thể vọng tới bất cứ người nào đang đứng cạnh Nhà nguyện, vốn trải dọc theo phía đối diện của sân trường. Tiếng cười tắt lịm, và người ta chỉ có thể nhìn thấy cử chỉ của những cánh tay, chuyển động của những cơ thể tạo thành một hình dáng nào đó trong phòng. Có phải đó là một cuộc tranh luận? Một vụ đánh cược về các cuộc đua thuyền? Hay chẳng phải thứ gì giống như vậy cả? Cái gì đã được định hình bởi những cánh tay và cơ thể chuyển động trong căn phòng tranh tối tranh sáng?
Bên ngoài cửa sổ một hai bước không có thứ gì cả, ngoại trừ những tòa nhà bao bọc - những ống khói thẳng đứng, những mái nhà nằm ngang; quá nhiều gạch và công trình cho một đêm tháng Năm, có lẽ. Và rồi trước mắt người ta sẽ hiện ra những ngọn đồi trơ trụi của Thổ Nhĩ Kỳ - những đường vạch sắc nét, mặt đất cằn khô, những bông hoa đủ màu sắc, và màu sắc trên vai của những người đàn bà đứng chân trần dưới suối để đập vải lanh vào những tảng đá. Dòng suối tạo thành những cái thòng lọng nước quanh mắt cá chân của họ. Nhưng không cảnh tượng nào trong số đó có thể hiện lên rõ ràng qua những lớp bao bọc và những tấm vải trùm của màn đêm Cambridge. Ngay cả tiếng đồng hồ điểm giờ cũng bị bóp nghẹt; như thể được ngâm nga bởi một kẻ khả kính nào đó từ trên một cái bục giảng kinh; như thể các thế hệ học giả nghe thấy giờ khắc cuối cùng đang lăn qua cấp chức của họ và ban phát nó, vốn đã trở nên mòn nhẵn, với lời chúc phúc của họ, vì dụng ích của cuộc sống.
Có phải để nhận món quà này từ quá khứ mà chàng trai trẻ bước tới cửa sổ và đứng đó, nhìn ngang qua mảnh sân? Đó là Jacob. Anh đứng phì phèo tẩu thuốc trong lúc hồi chuông cuối của cái đồng hồ dịu nhẹ ngân vọng quanh anh. Có lẽ đã có một cuộc tranh luận. Trông anh có vẻ mãn nguyện; thật sự tinh thông; biểu hiện này hơi thay đổi khi anh đứng đó, âm thanh của cái đồng hồ chuyển tới anh (có thể là thế) một cảm giác về những tòa nhà cũ và thời gian; và bản thân anh, người thừa kế; và rồi ngày mai; và các bằng hữu; trong ý nghĩ về họ, với lòng tự tin tuyệt đối và niềm vui, dường như vậy, anh ngáp và vươn vai.
Trong lúc đó, sau lưng anh, cái hình dáng mà họ đã tạo nên, dù có tranh luận hay không, cái hình dáng có tính chất tinh thần, cứng cỏi nhưng phù du, như tính chất của tấm kính so với phiến đá đen của Nhà nguyện, đã tan ra thành từng mảnh, bọn trai trẻ đứng lên từ ghế và các góc trường kỷ, ồn ào xô đẩy nhau quanh phòng, kẻ này đẩy người kia vào sát cửa phòng ngủ, nó mở toang ra và họ té nhào vào trong. Lúc này Jacob bị bỏ lại đó, trong cái ghế bành nông, một mình với Masham? Anderson? Simeon? Ồ, đó là Simeon. Tất cả những người khác đã đi khỏi.
“... Julian Kẻ bội giáo...”[24] Ai trong hai người nói cụm từ đó và những từ lẩm bẩm khác xung quanh nó? Nhưng vào khoảng nửa đêm, thi thoảng một cơn gió mạnh nổi lên, như một nhân vật đeo mạng che mặt đột nhiên thức giấc; và hiện tại nhân vật này đang vỗ cánh bay qua Trường Trinity, cuốn lên những chiếc lá vô hình và xóa nhòa mọi thứ. “Julian Kẻ bội giáo” - rồi tới cơn gió. Thốc lên những nhánh du, thổi phồng những cánh buồm, những chiếc thuyền buồm cũ nhô lên hụp xuống, những lượn sóng xám trong Ấn Độ Dương nóng ấm trồi sụt nhấp nhô, rồi tất cả rơi xuống, bằng phẳng trở lại.
Vậy là, nếu tiểu thư đeo mạng che mặt đã bước qua các sân của trường Trinity, giờ đây nàng thiếp ngủ lần nữa, tất cả xiêm áo phủ quanh nàng, đầu nàng tựa vào một cây cột.
“Theo cách nào đó, nó có vẻ quan trọng.”
Giọng khe khẽ của Simeon.
Một giọng thậm chí khẽ hơn đáp lại anh ta. Tiếng gõ đanh của một cái tẩu thuốc lên mặt lò sưởi xóa bỏ những từ đó. Và có lẽ Jacob chỉ nói “ừ hử” hay không nói gì cả. Đúng vậy, không thể nghe thấy những từ đó. Nó là sự riêng tư, một dạng cử động uyển chuyển của tinh thần, khi tâm trí in lên tâm trí một cách không thể nào gột rửa.
“Chà, có vẻ như cậu đã nghiên cứu đề tài này,” Jacob nói, đứng lên và tới đứng cạnh cái ghế của Simeon. Anh lấy lại thăng bằng, anh hơi lảo đảo. Dường như anh cực kỳ hạnh phúc, như thể niềm vui của anh sẽ dâng ngập và đổ tràn tứ phía nếu Simeon lên tiếng.
Simeon không nói gì cả. Jacob vẫn đứng đó. Nhưng sự riêng tư - căn phòng tràn ngập nó, tĩnh lặng, sâu, như một ao nước. Không cần tới cử động hay lời nói, nó dịu dàng dâng lên và tràn ngập mọi thứ, xoa dịu, khơi gợi và trùm lên tâm trí với ánh sáng huy hoàng của ngọc trai, đến độ nếu bạn nói về một ánh sáng, về sự bùng cháy của Cambridge, nó không chỉ là những ngôn ngữ. Nó là Julian Kẻ bội giáo.
Nhưng Jacob di chuyển. Anh lẩm bẩm chúc ngủ ngon. Anh đi ra sân. Anh cài lại nút áo ngực. Anh quay trở về phòng, và là người duy nhất bước trở lại phòng mình vào giờ khắc đó, những bước chân của anh vang vọng, hình dáng anh lù lù xuất hiện. Tiếng bước chân anh vọng lại từ Nhà nguyện, vọng lại từ Đại Sảnh, vọng lại từ Thư viện, như thể nền đá cũ vang dội lại với thẩm quyền cao quý: “Chàng trai đó - chàng trai đó - chàng trai đó quay trở về phòng mình.”
❀ ❀ ❀
[1] Thư viện cho thuê này do Charles Edward Mudie (1818-1890), chủ nhà xuất bản người Anh thành lập năm 1842 và hoạt động cho tới năm 1894, có tác động rất lớn tới nền văn chương thời Victoria.
[2] William Edward Norris (1847-1925): nhà văn Anh.
[3] Wishing well: một cái giếng mà theo tín ngưỡng dân gian châu Âu, khi ném xuống đó những đồng xu và thốt ra điều ước, nó sẽ trở thành hiện thực.
[4] Mái vòm Nhà nguyện của King’s College do kiến trúc sư nổi tiếng John Wastell (1460-1518) xây dựng giữa năm 1512 và 1515.
[5] Thật ra trong Nhà nguyện của King’s College không có cái bục nào có hình dạng chim đại bàng; tác giả mượn hình ảnh chim đại bàng, biểu tượng của chiến tranh và quyền lực tối thượng để ám chỉ sự hiện diện của chiến tranh ngay cả dưới mái trường đại học. Một chi tiết dự báo cho Thế chiến I, mang tới cái chết cho Jacob và nhiều thanh niên Anh Quốc khác. (Theo Fighting Forces, Writing Women - Identity and Ideology in the First World War của Sharon Ouditt; trang 181). Bạn đọc quan tâm có thể tham khảo thêm tại: https://interestingliterature.com/2016/01/13/a-summary-and-analysis-of-jacobs-room/
[6] Đặt theo tên của loạt tiểu thuyết Waverley của nhà văn Walter Scott (1771-1832). Vì mãi tới năm 1827, Scott mới công bố tên thật của mình đối với các tác phẩm của ông, bìa của các cuốn sách sau đó được ghi là “Tác giả của Waverley”; Waverley là tên của cuốn đầu tiên trong loạt tiểu thuyết, xuất bản năm 1814.
[7] Reform Bill 1832: đạo luật này đưa ra những thay đổi lớn trong hệ thống bầu cử tại Anh.
[8] H.G. Wells (1866-1946): nhà văn Anh; George Bernard Shaw (1856-1950): kịch tác gia, phê bình gia người Ái Nhĩ Lan.
[9] Baruch Spinoza (1632-1677): triết gia người Hà Lan.
[10] Charles Dickens (1812-1870): nhà văn và nhà phê bình xã hội người Anh.
[11] Sir Joshua Reynolds (1723-1792) họa sĩ Anh chuyên vẽ chân dung. Ông là người sáng lập và chủ tịch đầu tiên của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Anh Quốc, được Vua George III phong tước Hiệp sĩ năm 1769.
[12] Nữ tiểu thuyết gia người Anh (1775-1817).
[13] Thomas Carlyle (1795-1881): triết gia, sử gia, nhà văn châm biếm, nhà toán học, và giáo sư người Anh.
[14] Huxtable, Sopwith và Cowan là các giáo sư hư cấu.
[15] Dan Grabiel Rossetti (1828-1882): họa sĩ, nhà thơ, dịch giả người Anh.
[16] Vincent van Gogh (1853-1890): họa sĩ người Hà Lan.
[17] Ở đoạn trên, Woolf đã mô tả các giáo sư đại học: “...trông họ mới giống các giáo sĩ làm sao!” Và ở đoạn này, bà trực tiếp bày tỏ thái độ của mình đối với thẩm quyền văn hóa. Để hiểu rõ thêm ẩn ý của bà, mời bạn đọc tham khảo nhận định sau đây của Christopher J. Keller: “Mô tả của Woolf về ‘đàn ông’ như một kẻ ‘vẫn tôn trọng’ thẩm quyền văn hóa của người thầy, và ‘đàn bà’ như một kẻ mà ‘khi xét đoán vị giáo sĩ này theo trực giác, bất giác sẽ khinh miệt ông ta,’.... Định nghĩa này nhận diện phụ nữ không phải do giới tính, mà phơi bày mối quan hệ phức tạp của phụ nữ với thẩm quyền văn hóa vốn đã buộc cô ta căm lặng và loại trừ cô ta, theo truyền thống. Cô ta chống lại sự phục tùng mù quáng mà thẩm quyền đe dọa áp đặt lên mình với gương mặt của một người đàn ông” (Divining the Priest: A Case Comment on Baehr v. Lewin). Nguồn: https://scholarship.law.umn.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1454&context=lawineq.
[18] Publius Vergilius Maro, thường gọi là Virgil (70-19 TCN): nhà thơ La Mã cổ đại.
[19] Gaius Valerius Catullus (khoảng 84-54 TCN) : nhà thơ La Mã cổ đại.
[20] Từ trường ca Georgies (Thơ nông nghiệp) của Virgil, Book 2.
[21] Toàn bộ các khu vực sau lưng các trường của Đại học Cambridge.
[22] Nguyên văn: shilling shockers: loại tiểu thuyết mỏng về tội phạm và bạo lực thịnh hành vào cuối thời kỳ Victoria của Anh quốc, giá ban đầu là một siling.
[23] Date-stones: những phiến đá được gắn trên tường một công trình, trên khắc ngày tháng hoàn thành công trình đó.
[24] Julian the Apotas (khoảng 331-363): Hoàng đế La Mã. Ông đã cố tiêu diệt Thiên chúa giáo bằng cách khủng bố tín đồ Thiên chúa giáo và cổ động ngoại giáo.