Căn Phòng Của Jacob

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Một

❊ ❊ ❊

“Archer,” bà Flanders nói với vẻ dịu dàng mà những bà mẹ thường thể hiện đối với con trai cả của mình, “sẽ tới Gibralta vào ngày mai.”

Thư từ mà bà đang chờ đợi (tản bộ lên đồi Dods trong lúc những tiếng chuông nhà thờ ngẫu nhiên gióng một khúc tụng ca quanh đầu bà, cái đồng hồ điểm đúng bốn giờ thông qua những nốt nhạc xoay vòng; kính cửa ửng lên màu tím bên dưới một đám mây giông; và hơn hai mươi ngôi nhà trong làng co rúm lại bên nhau, vô cùng khiêm tốn, bên dưới một quầng bóng râm), thư từ, với mọi thông điệp khác nhau của nó, những bao thư có ghi địa chỉ với những nét chữ đậm, những nét chữ nghiêng, giờ đã được dán lên những con tem nước Anh, thêm những con tem Thuộc địa, hoặc đôi khi được vội vã đóng dấu với một vạch vàng; thư từ sẽ gieo rắc vô số thông điệp trên cõi thế. Chúng ta có lợi lộc gì hay không với thói quen liên lạc phong phú này không phải là việc để chúng ta nói. Nhưng việc viết thư được thực hành một cách láo toét hiện nay, cụ thể bởi những chàng trai đang lãng du ở những vùng ngoại quốc, dường như rất có khả năng.

Chẳng hạn, hãy xét cảnh tượng này.

Jacob Flanders ra hải ngoại và ở lại Paris, phá vỡ hành trình của mình. (Cô gái già Birkbeck, em họ của mẹ anh, đã qua đời hồi tháng Sáu trước đó và để lại cho anh một trăm bảng.)

“Anh không cần lặp đi lặp lại toàn bộ chuyện chết tiệt đó nữa, Cruttendon,” Mallinson nói; tay họa sĩ nhỏ con đầu hói này ngồi ở một cái bàn đá hoa, áo lốm đốm vết cà phê, xung quanh là những vỏ chai rượu vang, đang nói rất nhanh, và chắc chắn đã khá say.

“Nè, Flanders, đã viết xong lá thư cho quý bà của anh rồi hả?” Cruttendon hỏi, khi Jacob tới và ngồi xuống bên cạnh họ, cầm trong tay một phong thư gửi cho bà Flanders, gần Scarborough, Anh Quốc.

“Anh có tán thành Velasquez không?” Cruttendon hỏi.

“Nhờ Trời, anh ta có,” Mallinson nói.

“Anh ta luôn luôn có cái kiểu này,” Cruttendon bực bội.

Jacob nhìn Mallinson với vẻ bình thản quá mức.

“Tôi sẽ nói cho anh biết ba điều vĩ đại nhất từng được viết trong toàn thể nên văn chương,” Cruttendon bật thốt. “Hãy treo ở đó như quả trên cành, hỡi linh hồn ta..”[1] Anh ta bắt đầu...

“Đừng lắng nghe một người vốn không thích Velasquez,” Mallinson nói.

“Adolphe, đừng cho ông Mallinson thêm chút rượu vang nào nữa,” Cruttendon nói.

“Hãy chơi đẹp, hãy chơi đẹp,” Jacob tỏ ra công bằng. “Cứ để cho một gã đàn ông say nếu anh ta thích. Đó là Shakespeare, Cruttendon. Tôi đồng ý với anh ở câu đó. Shakespeare có khí phách hơn tất cả cái đám ếch nhái chết tiệt này cộng lại. ‘Hãy treo ở đó như quả trên cành, hỡi linh hồn ta,’” anh vừa bắt đầu trích dẫn, bằng một giọng khoa trương réo rắc, vừa vung vẩy ly rượu của mình. “Cầu cho quỹ dữ biến mi thành than đen, tên vô lại mặt mày tái mét!”[2] Anh cảm thán trong lúc rượu tràn qua mép ly.

“Hãy treo ở đó như quả trên cành, hỡi linh hồn ta,” cả Cruttendon lẫn Jacob đồng thời bắt đầu lại, và cả hai cười phá lên.

“Lũ ruồi đáng nguyền rủa này,” Mallinson nói, vỗ nhẹ vào cái đầu hói của mình. “Chúng chọn tôi vì lẽ gì chứ?”

“Một thứ có mùi ngọt,” Cruttendon nói.

“Im đi, Cruttendon,” Jacob nói. “ Cái gã này không lịch sự gì hết,” anh giải thích với Mallinson rất nhã nhặn. “Cứ muốn xen vào chuyện nhậu nhẹt của mọi người. Nghe này. Tôi muốn gọi sườn nướng. Tiếng Pháp cho từ sườn nướng là gì? Sườn nướng, Adolphe. Này anh đần, anh có hiểu không hả?”

“Và tôi sẽ nói cho anh biết, Flanders, điều đẹp đẽ thứ hai trong toàn thể nền văn chương,” Cruttendon nói, hạ đôi bàn chân xuống sàn nhà, và nghiêng người ngang qua cái bàn, khiến mặt anh ta chạm vào mặt của Jacob.

“Nào nhảy điệu xoay vòng, con mèo và chiếc vĩ cầm,[3]” Mallinson xen vào, gõ những ngón tay trên bàn. “Điều đẹp đẽ tuyệt vời nhất trong toàn thể nền văn chương... Cruttendon là một anh chàng rất tốt,” anh ta thân mật nhận xét. “Nhưng cậu ta hơi ngốc.” Và anh ta hất đầu về phía trước.

Vâng, không một lời nào về cảnh tượng này được kể lại với bà Flanders; cũng không có lời nào về việc chuyện gì đã xảy ra khi họ thanh toán tiền, rời khỏi quán, và đi bộ trên đại lộ Raspaille.

Sau đây là một mẩu đối thoại khác; thời gian vào khoảng mười một giờ sáng; địa điểm là một xưởng vẽ; và ngày hôm đó là Chủ nhật.

“Tôi nói nghe này, Flanders,” Cruttendon nói, “Tôi muốn có một trong những bức tranh nhỏ của Mallinson ngay khi có một bức của Chardin. Và khi tôi bảo rằng...” anh ta bóp mạnh đuôi của một tuýp màu teo tóp... “Chardin là một tay vĩ đại cừ khôi... Hiện giờ ông ta đang bán chúng để thanh toán cho bữa ăn. Nhưng hãy chờ cho tới khi những tay buôn tranh tóm lấy ông ta. Một tay vĩ đại cừ khôi - chà, một tay rất vĩ đại cừ khôi.”

“Cuộc sống hỗn độn ở đây hết sức thú vị,” Jacob nói. “Tuy nhiên, nó là một nghệ thuật ngu xuẩn, Cruttendon ạ.” Anh lững thững băng ngang qua căn phòng. “Có tác phẩm của Pierre Louys[4] nữa cơ đấy.” Anh cầm một cuốn sách lên.

“Nào, quý ngài thân mến của tôi, anh có định ngồi xuống hay không vậy?” Cruttendon nói.

“Đó là một tác phẩm lập thể,” Jacob nói, dựng một bức tranh lên một cái ghế.

“Ồ, tôi vẽ bức đó lâu lắm rồi,” Cruttendon ngoái đầu nhìn và đáp.

“Theo tôi, anh là một họa sĩ khá có tài,” một lúc sau Jacob nói.

“Giờ nếu anh thích nhìn xem hiện tại tôi đang theo đuổi cái gì,” Cruttendon nói, đặt một bức tranh trước mặt Jacob. “Đấy. Nó đó. Thế giống nó hơn. Thế...” anh ta đưa ngón cái vạch một vòng tròn ngoằn ngoèo quanh một bóng đèn tròn sơn trắng.

“Một tác phẩm lập thể xinh xắn,” Jacob nói, đứng dạng chân trước bức tranh. “Nhưng điều tôi muốn anh giải thích...”

Cô Jinny Carslake, xanh xao, ốm yếu, bước vào phòng.

“Ồ, Jinny, đây là một anh bạn, Flanders. Một người Anh. Giàu có. Quan hệ rộng. Nói tiếp đi, Flanders...”

Jacob không nói gì.

“Chính là bức đó - nó không đúng,” Jinny Carslake nói.

“Không,” Cruttendon dứt khoát. “Không thể làm được.”

Anh ta lấy bức tranh ra khỏi cái ghế và dựng nó trên sàn nhà với mặt sau hướng về phía họ.

“Mời ngồi xuống, quý vị. Cô Carslake tới từ quê hương của anh đó, Flanders. Từ Devonshire. Ồ, tôi nghĩ là cô đã nói Devonshire. Tốt lắm. Cô ta còn là một cô con gái của giáo hội nữa. Con cừu đen của gia đình[5]. Mẹ cô ta viết cho cô ta những lá thư như thế. Tôi bảo này - cô có một lá nói về cô chứ? Điều đó thường tình thôi. Chúng tới vào những ngày Chủ nhật. Tác động của chuông nhà thờ, anh biết mà.”

“Anh đã gặp hết những tay họa sĩ chưa?” Jinny hỏi. “Mallinson có say xỉn không? Nếu anh tới xưởng vẽ của anh ta, anh ta sẽ tặng anh một trong những bức tranh của anh ta. Tôi nói này, Teddy...”

“Chờ một chút,” Cruttendon nói. “Giờ là mùa nào trong năm nhỉ?” Anh ta nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Chúng tôi nghỉ làm việc vào những ngày Chủ nhật, anh Flanders.”

“Anh ta có...” Jinny nói, nhìn Jacob. “Anh...”

“Có, anh ta sẽ đi với chúng ta,” Cruttendon đáp.

Và sau đó, địa điểm là Versaille, Jinny đứng trên rìa tảng đá, vừa nghiêng người bên trên ao nước, vừa bám chặt vào đôi cánh tay của Cruttendon, không thì nàng có thể rơi tõm xuống ao.

“Kia! Kia!” Nàng kêu lên. “Ngay trên mặt nước!” Một con cá lừ đừ, thân dẹp đã nổi lên từ dưới lòng nước sâu để đớp những vụn bánh của nàng. “Anh nhìn xem,” nàng nói, nhảy xuống. Và khi đó dòng nước trắng chói chang, mạnh mẽ và bị nghẽn, bắn tung vào không trung. Cái vòi nước tự trải ra. Xuyên qua nó vang vang tiếng quân nhạc ở phía xa. Toàn bộ mặt nước chao động với những giọt nước rơi xuống. Một quả bóng bay xanh lơ nảy nhẹ trên mặt nước. Toàn thể các cô giữ trẻ, lũ trẻ con, các cụ già và đám thanh niên xúm xít cạnh bờ, nghiêng người và vẫy gậy của họ mới sôi nổi làm sao! Một bé gái dang rộng tay chạy về phía quả bóng bay, nhưng nó chìm xuống bên dưới vòi nước.

Edward Cruttendon, Jinny Carslake, và Jacob Flanders đi thành một hàng dọc theo con đường sỏi vàng; băng qua những hàng cây; và bước về phía căn nhà nghỉ mát mùa hè nơi Marie Antoinette[6] từng uống nước sô cô la. Edward và Jinny bước vào trong, nhưng Jacob chờ ở bên ngoài, ngồi trên cán của cây gậy chống. Họ lại bước trở ra.

“Sao hả?” Cruttendon nói, mỉm cười với Jacob.

Jinny chờ đợi; Edward chờ đợi; và cả hai nhìn Jacob.

“Sao hả?” Jacob nói, mỉm cười và ấn cả hai bàn tay lên chiếc gậy.

“Đi tiếp,” anh quyết định; và xuất phát. Hai người kia đi theo anh, mỉm cười.

Sau đó họ tới một quán cà phê nhỏ trên một con phố vắng nơi mọi người ngồi uống cà phê, quan sát những người lính, trầm ngâm gạt tàn thuốc vào những cái gạt tàn.

“Nhưng anh ta hoàn toàn khác biệt,” Jinny nói, đan hai bàn tay bên trên ly của mình. “Tôi không nghĩ rằng anh biết Ted có ý gì khi anh ta nói một điều như thế,” nàng nói, nhìn Jacob. “Nhưng tôi biết. Đôi khi tôi có thể tự giết mình. Đôi khi anh ta nằm trên giường suốt ngày dài - chỉ nằm đó... Tao không muốn bọn bay đậu ngay trên bàn”; nàng xua hai bàn tay. Bầy chim bồ câu xấc láo với bộ lông óng ánh đang lạch bạch bước quanh chân họ.

“Hãy nhìn cái mũ của người phụ nữ đó xem,” Cruttendon nói. “Họ nghĩ thế nào về nó nhỉ?... Không, Flanders, tôi không nghĩ tôi có thể sống như anh. Khi một người đi trên con đường đối diện với Viện bảo tàng Anh - nó được gọi là gì? - đó là điều tôi muốn nói. Tất cả đều như thế cả. Những người phụ nữ béo tốt đó - và người đàn ông đang đứng giữa đường như thể anh ta sắp sửa có một cơn...”

“Mọi người cho chúng ăn,” Jinny nói, xua lũ chim bồ câu đi. “Chúng là những con vật già ngu ngốc.”

“À, tôi không biết,” Jacob đáp, rít điếu thuốc. “Có nhà thờ St. Paul.”

“Tôi định vào làm trong một văn phòng,” Cruttendon nói.

“Vớ vẩn,” Jacob nhận xét.

“Nhưng anh không thuộc dạng đó,” Jinny nói, nhìn Cruttendon. “Anh điên rồi. Ý tôi là, anh chỉ nghĩ tới việc vẽ tranh.”

“Phải, tôi biết. Tôi không cưỡng lại được. Nói nghe này, Vua George sẽ nhượng bộ về vụ các thượng nghị sĩ chứ?”

“Ông ta sẽ phải vui vẻ làm điều đó,” Jacob đáp.

“Đó!” Jinny nói. “Anh ta thật sự biết.”

“Anh thấy đó, tôi sẽ nếu tôi có thể,” Cruttendon nói, “nhưng đơn giản là tôi không thể.”

“Tôi nghĩ tôi có thể,” Jinny nói. “Chỉ là tất cả những kẻ người ta không ưa lại là người thực hiện nó. Ý tôi là ở nhà. Họ không nói chuyện gì khác cả. Ngay cả những người thích mẹ tôi.”

“Nè, nếu tôi tới sống ở đây...” Jacob nói. “Phần chia của tôi là gì, Cruttendon? Ồ tốt lắm. Hãy có nó theo cách riêng của anh. Lũ chim ngốc nghếch đó, ngay khi người ta muốn chúng thì chúng bay vù mất.”

Và cuối cùng dưới những bóng đèn hồ quang trong nhà ga xe điện ngầm Gare des Invalides, với một trong những chuyển động lạ lùng, rất nhẹ nhàng nhưng rất dứt khoát, vốn có thể gây tổn thương hoặc đi lướt qua mà không nhận ra nhưng nói chung tạo nên khá nhiều bất tiện, Jinny và Cruttendon quấn lấy nhau; Jacob đứng tách ra. Họ phải chia tay. Một điều gì đó phải được nói. Không có gì được nói cả. Một người đàn ông đẩy một chiếc xe đẩy hành lý ngang qua chân của Jacob, gần đến mức hầu như ông ta đã làm cho chúng bị xây xước. Khi Jacob lấy lại thăng bằng, hai người kia đang quay đi, dù Jinny ngoái đầu lại, và Cruttendon vẫy tay; họ biến mất như chính thiên tài vĩ đại mà anh từng là.

Không - bà Flanders không được kể gì về chuyện này, dù Jacob cảm thấy có thể nói một cách an toàn rằng không gì trên đời có ý nghĩa quan trọng hơn thế; còn về phần Cruttendon và Jinny, anh nghĩ họ là hai người nổi bật nhất mà anh từng gặp - dĩ nhiên không thể thấy trước rằng theo dòng thời gian rốt cuộc Cruttendon chọn việc vẽ cảnh vườn cây ăn quả; do đó đã tới sống ở Jent; và cho tới lúc này phải nắm bắt được bản chất của hoa táo, người ta sẽ nghĩ thế, vì vợ của anh ta, kẻ mà vì nàng anh ta làm điều đó, đã bỏ trốn với một tiểu thuyết gia; nhưng không; Cruttendon vẫn vẽ những vườn cây ăn quả, một cách điên cuồng, trong cảnh quạnh hiu. Thế rồi Jinny Carslake, sau cuộc tình dan díu với Lefanu, tay họa sĩ người Mỹ, thường lui tới với những triết gia Ấn Độ, và hiện giờ bạn tìm thấy nàng trong những dinh thự ở Ý, nâng niu một cái hộp nữ trang nhỏ chứa đựng những viên sỏi bình thường nhặt được trên đường. Nhưng nếu bạn nhìn chúng chăm chú, nàng nói, vô số sẽ trở thành duy nhất, theo cách nào đó đây là một điều ẩn mật của cuộc đời, dù nó không ngăn cản nàng khỏi việc đi theo sau món mì ống khi nó di chuyển quanh bàn, và đôi khi, vào những đêm xuân, nàng thổ lộ những tâm sự lạ lùng nhất với những chàng trai Anh e thẹn.

Jacob không có gì phải giấu mẹ anh. Chỉ là vì bản thân anh cũng không thể hiểu nổi sự phấn khích lạ lùng của mình, còn việc viết nó ra thì...

“Những lá thư của Jacob rất giống cậu ta,” bà Jarvis nói, gấp tờ giấy lại.

“Thật sự dường như nó đang có...” bà Flanders nói, và dừng lại, vì bà đang cắt một cái váy và phải trải thẳng mẫu hoa văn, “...một thời gian rất vui vẻ.”

Bà Jarvis nghĩ về Paris. Sau lưng bà cửa sổ đang mở, bởi đó là một đêm trời dịu; một đêm lặng gió; khi vầng trăng có vẻ như bị quấn chặt và những cây táo đứng im phăng phắc.

“Tôi không bao giờ thương hại người đã chết,” bà Jarvis nói, dời tấm nệm sau lưng, và vòng hai bàn tay ra sau đầu. Betty Flanders không nghe thấy, vì cây kéo của bà tạo nên rất nhiều tiếng ồn trên bàn.

“Họ đang an nghỉ,” bà Jarvis nói. “Còn chúng ta sử dụng những ngày của mình vào những việc ngu xuẩn mà không biết vì sao.”

Bà Jarvis không được mọi người trong làng ưa thích.

“Bà chưa bao giờ đi dạo vào giờ này ban đêm à?” Bà hỏi bà Flanders.

“Tất nhiên là tiết trời đẹp tuyệt,” bà Flanders nói.

Thế nhưng đã nhiều năm trôi qua kể từ khi bà mở cánh cổng vườn cây ăn quả và ra ngoài đi dạo trên đồi Dods sau bữa ăn tối.

“Trời rất khô ráo,” bà Jarvis nói, khi họ đóng cổng vườn và bước lên thảm cỏ.

“Tôi sẽ không đi xa,” Betty Flanders nói. “Phải, Jacob sẽ rời Paris vào Thứ Tư.”

“Jacob vẫn luôn là bạn tôi trong số ba đứa nhỏ,” bà Jarvis nói.

“Nè, bạn thân mến của tôi, tôi sẽ không đi xa hơn nữa,” bà Flanders nói. Họ đã trèo lên ngọn đồi tối tăm và tới khu trại La Mã.

Cái lũy nhô cao dưới chân họ - cái vòng tròn bằng phẳng bao quanh khu trại hoặc nấm mồ. Betty Flanders đã đánh mất biết bao nhiêu cây kim tại đây; và cả cái trâm cài tóc màu đỏ hạt lựu nữa.

“Đôi khi trời trong hơn thế này nhiều,” bà Jarvis nói, đứng bên trên bờ lũy. Không có mây, nhưng có một màn sương mù trên biển và trên những trảng cỏ. Những ánh đèn của Scarborough sáng lập lòe, như thể một người phụ nữ đeo một cái vòng cổ nạm kim cương đang xoay đầu sang phía này phía khác.

“Không khí lặng lẽ làm sao!” Bà Jarvis nói.

Bà Flanders chà những ngón chân lên mặt cỏ, suy nghĩ về cây trâm cài tóc màu đỏ hạt lựu.

Bà Jarvis nhận thấy khó mà suy nghĩ về chính mình đêm nay. Trời rất lặng. Không có chút gió nào; không có thứ gì chạy, bay, hoặc tẩu thoát. Những cái bóng đen kịt đứng yên trên những trảng cỏ lấp loáng ánh bạc. Những bụi kim tước đứng im phăng phắc. Bà Jarvis cũng không nghĩ về Thượng đế. Có một nhà thờ ở phía sau họ, dĩ nhiên. Đồng hồ nhà thờ điểm mười giờ. Những tiếng điểm giờ có lan tới bụi kim tước không, hoặc cây táo gai có nghe thấy chúng không?

Bà Flanders đang cúi xuống để nhặt một hòn sỏi. Đôi khi người ta tìm thấy các thứ, bà Jarvis nghĩ, thế nhưng trong ánh trăng mờ tỏ này không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì, ngoại trừ những khúc xương, và những viên đá phấn nhỏ.

“Jacob đã mua nó bằng tiền riêng, và sau đó tôi đưa ông Parker tới để xem phong cảnh, và hẳn nó phải hạ giá...” bà Flanders lẩm bẩm.

Phải chăng những khúc xương khua động, hay là những thanh kiếm han rỉ? Phải chăng cây trâm cài tóc không đáng một xu của bà Flanders mãi mãi là một phần của sự tích lũy của cải? Và nếu tất cả những hồn ma tụ tập đông đảo và kề vai sát cánh với bà Flanders trong vòng tròn, chẳng phải trông bà có vẻ rất hoàn hảo trong vị trí của mình, một mệnh phụ Anh mạnh mẽ, đang ngày càng trở nên mập mạp?

Đồng hồ điểm một phần tư giờ.

Những âm ba yếu ớt nhòa vỡ giữa bụi kim tước cứng và những nhánh táo gai khi đồng hồ nhà thờ chia thời gian thành những một phần tư giờ.

Mênh mông và bất động, những trảng cỏ tiếp nhận phát biểu “Đã quá giờ mười lăm phút,” nhưng không đáp lại, trừ một bụi mâm xôi xào xạc.

Thế nhưng ngay cả trong ánh sáng này, người ta vẫn có thể đọc được những truyền thuyết trên những tấm mộ bia, những tiếng nói ngắn gọn cất lên, “Tôi là Bertha Ruck,” “Tôi là Tom Gage.” Và họ nói họ chết vào ngày nào trong năm, và Kinh Tân ước nói đôi điều gì đó cho họ, rất tự hào, rất nhấn mạnh, hoặc đầy an ủi.

Những trảng cỏ cũng tiếp nhận tất cả những điều đó.

Ánh trăng rơi xuống như một trang giấy nhợt nhạt trên bức tường nhà thờ, và soi sáng gia đình đang quỳ trong hốc tường, và phiến đá được gắn năm 1780 cho ông điền chủ của xứ đạo, kẻ tiếp nhận những người nghèo và tin vào Thượng đế - cứ thế giọng nói đều đều tiếp tục gieo xuống những bậc thang cuộn cẩm thạch, như thể nó có thể buộc thời gian và không gian phải tuân theo nó.

Lúc này một con cáo len lén ló ra từ sau những bụi kim tước.

Thông thường, thậm chí vào ban đêm, dường như nhà thờ đông nghịt người. Những cái ghế dài mòn cũ và nhờn mồ hôi, những chiếc áo tu sĩ móc trên giá áo, và những cuốn sách thánh ca đặt trên những gờ tường. Nó là một con tàu với toàn bộ thủy thủ đoàn trên boong. Những thanh gỗ căng ra để giữ những người chết và người sống, những thợ cày, những thợ mộc, các quý ông ưa săn cáo và những nông dân đang hít ngửi mùi bùn và rượu mạnh. Giọng của họ hòa vào nhau, phát âm một cách rõ ràng những từ dứt khoát, vốn mãi mãi cắt rời thời gian và những trảng cỏ mênh mông. Lời than van, niềm tin và khúc bi ca, sự tuyệt vọng và chiến thắng, nhưng đa phần là lương tri và sự dửng dưng vui vẻ, luôn mạnh mẽ thoát ra khỏi những cửa sổ vào bất cứ lúc nào trong suốt năm trăm năm nay. Tuy nhiên, như bà Jarvis nói khi bước vào trảng cỏ, “Nó lặng lẽ làm sao!” Lặng lẽ lúc ban trưa, ngoại trừ những cuộc săn chạy tán loạn ngang qua nó; lặng lẽ vào ban chiều, ngoại trừ lũ cừu lang thang; và vào ban đêm trảng cỏ hoàn toàn tĩnh lặng.

Một cây trâm cài tóc màu hạt lựu đã rơi xuống cỏ. Một con cáo len lén bước qua. Một chiếc lá lật ngược lại. Bà Jarvis, năm mươi tuổi, nằm nghỉ ngơi trong khu trại dưới ánh trăng bảng lảng.

“...và,” bà Flanders nói, duỗi thẳng lưng, “tôi không bao giờ quan tâm tới ông Parker.”

“Tôi cũng vậy,” bà Jarvis đáp. Họ bắt đầu đi bộ về nhà.

Nhưng giọng nói của họ trôi bềnh bồng giây lát bên trên khu trại. Ánh trăng không hủy hoại bất cứ thứ gì. Trảng cỏ tiếp nhận mọi thứ. Tome Gage vẫn hét to chừng nào tấm bia mộ của ông còn tồn tại. Những bộ xương của người La Mã được bảo quản an toàn. Những cây kim may vá và cây trâm cài tóc màu hạt lựu của Betty Flanders cũng an toàn. Và đôi khi vào giữa trưa, dưới ánh mặt trời, trảng cỏ dường như tích trữ những báu vật này, như một người vú em. Nhưng vào nửa đêm khi không ai nói hay di chuyển, và cây táo gai hoàn toàn im lặng, sẽ là ngu xuẩn khi quấy rầy trảng cỏ với những câu hỏi - cái gì? và vì sao?

Tuy nhiên, cái đồng hồ nhà thờ điểm mười hai tiếng.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: “Hang there like fruit, my sou, till the tree die.” Một câu trong vở kịch Cymbeline của Shakespeare (Hồi 5, Cảnh 5, dòng 263).

[2] Nguyên văn: “The devil damn you black, you cream-faced loon!” Một câu trong vở kịch Macbeth của Shakespeare (Hồi 5, Cảnh 3, dòng 11).

[3] Tạm dịch từ nguyên văn “Hey diddle diddle, the cat and the fiddle...” Đây là câu đầu trong bài đồng dao cùng tên. Hey diddle diddle là tên của một điệu nhảy dân gian. Bài hát này rất phổ biến ở các nước nói tiếng Anh và có nguồn gốc rất lâu đời. Tác giả là Mother Goose, một cái tên mang tính chất giai thoại với nhiều giả thuyết khác nhau và vẫn chưa được xác định. Bà là tác giả của hàng trăm câu chuyện thiếu nhi, nhưng nổi tiếng nhất là những bài đồng dao. Chúng được xuất bản dưới cái tên Mother Goose. Bất kể việc thật sự cá nhân bà là ai, nhà thơ Pháp Charles Perrault là người đầu tiên xuất bản một tuyển tập tác phẩm của Mother Goose với tựa đề Les Contes de ma Mère l’Oie (Những câu chuyện của Mẹ Ngỗng của tôi) vào năm 1697. Năm 1729, tuyển tập này đã được Robert Samber dịch sang tiếng Anh với tựa đề Histories or Tales of Past Times, Told by Mother Goose. (Nguồn: https://www.poetryfoundation.org/poets/mother-goose).

[4] Pierre Louys (1870-1925) nhà thơ người Pháp.

[5] Nguyên văn: The back sheep of the family có nghĩa là: “đứa con hư hỏng trong nhà”. (BTV)

[6] Marie Antoinette (1755-1785): hoàng hậu cuối cùng của nước Pháp trước Cách mạng Pháp, vợ của Vua Louis XVI, bị xử tử bằng máy chém năm 1793.

Người dịch: Nguyễn Thành Nhân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.