Lang thang giữa những tấm bia mộ trắng nằm tựa vào bức tường của nghĩa địa không còn sử dụng thuộc xứ đạo St. Pancras, Fanny Elmer băng qua những bụi cỏ để đọc một cái tên, vội vã đi tiếp khi người quản trang tiến tới gần, vội vã bước vào đường phố, khi dừng lại cạnh một cửa sổ với những món đồ sứ xanh lơ, khi nhanh chóng bù lại thời gian đã mất, đột ngột bước vào một tiệm bánh, mua một ít bánh vòng, thêm ít bánh ngọt, đi tiếp để bất cứ ai muốn đi theo phải đi như chạy. Tuy nhiên, nàng không ăn mặc xoàng xĩnh một cách tẻ nhạt. Nàng mang tất lụa và đôi giày có khóa bạc, chỉ có điều sợi lông chim trên mũ nàng đã rủ xuống, và cái móc trên túi xách của nàng quá yếu, bởi một bản in chương trình triển lãm của viện bảo tàng tượng sáp Madame Tussauds[1] đã rơi ra trong lúc nàng rảo bước. Nàng có cặp mắt cá chân của một con hươu đực. Gương mặt nàng bị che kín. Dĩ nhiên, trong ánh chiều nhá nhem này, những cử động nhanh, những cái liếc mắt vội vàng, và những hy vọng cao xa đến một cách khá tự nhiên. Nàng đi ngang qua ngay bên dưới cửa sổ của Jacob.
Giờ khắc này tẻ nhạt, tối tăm và im lặng. Jacob đang ở nhà, tập trung vào một thế cờ vua, cái bàn cờ đặt trên một cái ghế đầu kẹp giữa hai chân. Một tay anh đang vuốt vuốt mái tóc sau gáy, anh chậm rãi giơ nó ra phía trước và nhấc quân hậu trắng ra khỏi ô cờ; rồi đặt nó lại vị trí cũ. Anh nhồi thuốc vào tẩu; trầm ngâm; di chuyển hai quân tốt; đẩy quân mã lên; rồi lại trầm ngâm với một ngón tay đặt trên quân tượng. Lúc này Fanny Elmer đi ngang qua bên dưới cửa sổ.
Nàng đang trên đường tới ngồi làm mẫu cho họa sĩ Nick Bramham.
Nàng ngồi, choàng một tấm khăn in hoa Tây Ban Nha, cầm trong tay một cuốn tiểu thuyết vàng ố.
“Thấp hơn một chút, thả lỏng hơn một chút, thế, tốt hơn rồi, đúng thế đó,” Braham lẩm bẩm; anh vừa vẽ nàng, vừa rít thuốc lá, và lẽ tự nhiên là không nói gì thêm. Đầu anh có thể là tác phẩm của một nhà điêu khắc, kẻ đã nắn vuông vầng trán, kéo dài cái miệng, và để lại dấu vết của những cú ấn và quẹt từ những ngón tay của mình lên đất sét. Nhưng đôi mắt không bao giờ nhắm lại. Chúng hơi lồi, và hơi ngầu đỏ, như thể do thường xuyên nhìn chăm chú, và khi anh nói, chúng có vẻ như bị quấy rầy, trong khoảnh khắc, rồi tiếp tục chăm chú. Một bóng đèn điện không có chụp treo bên trên đầu Fanny.
Còn về vẻ đẹp của phụ nữ, nó giống như ánh sáng trên biển, không bao giờ trung thành với một lượn sóng duy nhất. Tất cả chúng đều có nó; tất cả chúng đều đánh mất nó. Lúc nàng tẻ ngắt và dày như một miếng thịt lợn muối xông khói; lúc trong suốt như một tấm kính đang treo. Những gương mặt cố định là những gương mặt tẻ ngắt. Tại đây Phu nhân Venice được trưng bày như một tượng đài để ngưỡng mộ, nhưng được khắc bằng thạch cao, đặt trên mặt lò sưởi và không bao giờ bám bụi. Một phụ nữ ngăm đen sang trọng hoàn mỹ từ đầu tới chân chỉ phục vụ như một bức minh họa trên cái bàn phòng khách. Những phụ nữ trên đường phố có gương mặt của những quân bài; những phác họa được phủ đầy một cách chính xác bằng màu hồng hay vàng, và đường viền được vẽ một cách sít sao quanh chúng. Khi nghiêng người ra từ ở một cửa sổ tầng trên cùng và nhìn xuống, bạn nhìn thấy chính bản thân vẻ đẹp; hoặc trong góc của một chiếc xe buýt hai tầng; hoặc ngồi xổm trong một cái hào - vẻ đẹp bừng lên, hiện ra đột ngột, rồi rút lui ngay khoảnh khắc sau đó. Không ai có thể kỳ vọng vào nó, tóm lấy nó hoặc bọc nó lại trong giấy. Người ta chẳng thể tìm được gì quý giá trong những cửa tiệm, và có trời biết ngồi nhà thì sẽ tốt hơn là thường xuyên lui tới những cửa sổ gắn kính dày với hy vọng tách ra khỏi chúng màu xanh lóng lánh, màu đỏ sáng ngời. Thủy tinh biển[2] trong một cái đĩa lót tách đánh mất vẻ rực rỡ của nó cũng nhanh như lụa. Do vậy nếu bạn nói về một phụ nữ đẹp, bạn chỉ muốn nói rằng một thứ gì đó đang bay nhanh mà trong một giây đã sử dụng đôi mắt, đôi môi hay đôi má của, chẳng hạn, Fanny Elmer, để bừng lên rực rỡ thông qua chúng.
Nàng không đẹp, vì nàng ngồi cứng đờ; môi dưới của nàng quá trề; đôi mắt nàng quá gần nhau. Nàng là một cô gái gầy ốm, với đôi mắt sáng và mái tóc đen, lúc này đang phụng phịu, hoặc cứng đơ do ngồi lâu. Nàng giật mình khi Bramham bẻ gãy thỏi chì than. Bramham đã nổi nóng. Anh ta ngồi xổm trước bếp ga hơ nóng đôi bàn tay. Trong lúc đó nàng nhìn bức tranh của anh. Anh ta làu bàu. Fanny khoác một cái áo ngủ lên người và đun một ấm nước.
“Trời ạ, nó thật tệ,” Bramham nói.
Fanny ngồi xệp xuống sàn, vòng tay quanh gối và nhìn anh ta, với đôi mắt đẹp của nàng - vâng, vẻ đẹp đang bay vút qua căn phòng, tỏa sáng ở đó trong khoảnh khắc. Đôi mắt của Fanny dường như dò hỏi, xót thương, là chính bản thân tình yêu, trong khoảnh khắc. Nhưng nàng chỉ cường điệu mà thôi. Bramham không nhìn thấy gì cả. Và khi ấm nước đã sôi, nàng lồm cồm đứng lên, giống một con ngựa non hoặc một con chó con hơn một phụ nữ đáng yêu.
Lúc này Jacob bước tới cửa sổ và đứng đút tay vào túi. Ông Springett ở mé đối diện bước ra, nhìn cửa sổ tiệm của mình, rồi lại trở vào. Lũ trẻ con lướt qua, dán mắt vào những que kẹo hồng hồng. Chiếc xe tải của Pickford lượn xuống mé dưới phố. Một đứa bé trai đu người trên một sợi thừng. Jacob quay đi. Hai phút sau anh mở cánh cửa trước và bước về hướng Holborn.
Fanny Elmer gỡ cái áo choàng ra khỏi móc áo. Nick Bramham tháo kim găm tấm toan và cuộn nó lại, kẹp dưới cánh tay. Họ tắt đèn và bước ra phố, duy trì hướng đi qua tất cả mọi người, xe hơi, xe buýt hai tầng, xe ngựa, cho tới khi họ tới Quảng trường Leicester, năm phút trước khi Jacob tới đó, vì đường đi của anh xa hơn chút xíu, và anh đã dừng lại cạnh một tòa nhà ở Holborn chờ xem đức vua ngồi xe ngang qua, thế nên khi Jacob đẩy những cánh cửa xoay và tới đứng bên cạnh họ, Nick và Fanny đang nghiêng người trên cái hàng rào. “Xin chào, nãy giờ không nhìn thấy anh,” Nick nói, năm phút sau đó.
“Không có chi,” Jacob nói.
“Cô Elmer,” Nick giới thiệu.
Jacob nhấc ống vố khỏi miệng, rất lúng túng.
Anh rất lúng túng. Và khi họ đã ngồi xuống một cái trường kỷ bọc vải lông, để mặc cho khói bay lên giữa họ và sân khấu, và nghe xa xa những giọng hát cao vút và khúc giao hưởng vui nhộn thỉnh thoảng xen ngang, anh vẫn còn lúng túng. Duy chỉ có Fanny nghĩ: “Một giọng nói thật êm tai!” Nàng nghĩ anh ta nói thật ít nhưng thật dễ nghe. Nàng nghĩ những chàng trai cao quý và xa cách biết bao, và họ vô ý biết bao, và người ta có thể ngồi cạnh Jacob và lặng lẽ nhìn anh ta. Anh ta trẻ con biết bao, khi trở về nhà mệt nhoài vào một buổi chiều tối, nàng nghĩ, và nghiêm nghị biết bao; hơi độc đoán, có lẽ; “Nhưng mình sẽ không nhượng bộ,” nàng nghĩ. Anh ta đứng lên và tựa vào hàng rào. Khói bay lơ lửng quanh anh ta.
Và dường như vẻ đẹp của những chàng trai mãi mãi đặt vào khói thuốc, bất kể họ đuổi theo những quả bóng đá, quật những quả bóng crikê, khiêu vũ, chạy hay sải bước trên đường một cách mạnh mẽ thế nào. Có thể họ sẽ sớm đánh mất nó. Có thể họ nhìn vào mắt của những người hùng xa xăm, và khá xem thường vị trí của họ ở giữa chúng ta, nàng nghĩ (rung động như một sợi dây đàn vĩ cầm dưới chiếc vĩ). Dù sao đi nữa, họ yêu sự im lặng và nói những lời đẹp đẽ, từng từ rơi xuống như một cái đĩa mới được cắt, không phải tiếng ồn ào của những đồng xu nhỏ nhẵn nhụi như cách thức của những cô gái; và họ di chuyển rất dứt khoát, như thể họ biết phải ở lại bao lâu và đi lúc nào. Chà, nhưng Flanders chỉ đi lấy một tờ chương trình.
“Các vũ công tới đúng ngay phút cuối,” anh nói, quay lại chỗ họ.
Và không phải nó thật thú vị hay sao, Fanny tiếp tục suy nghĩ, việc những chàng trai móc ra từ túi quần vô số đồng xu bạc, và nhìn chúng, thay vì cất chúng trong một cái ví?
Sau đó nàng lại là chính mình, xoay tròn ngang qua sân khấu trong những đường viền ren trắng, và âm nhạc là điệu nhảy tưng bừng của linh hồn nàng, và toàn thể cơ cấu, bệ đá và bánh răng của thế giới được se êm ái vào những cú xoay và rơi này, nàng cảm thấy, khi nàng đứng cứng người, tựa vào cái hàng rào cách Jacob Flanders hai bộ.
Chiếc găng tay nhăn nhúm của nàng rơi xuống sàn. Khi Jacob trao nó lại cho nàng, nàng giật mình với vẻ tức giận. Mãi mãi luôn có một tình cảm đắm say phi lý. Và Jacob thấy sợ nàng trong khoảnh khắc - quá mãnh liệt, quá nguy hiểm khi những cô gái đứng cứng người; nắm chặt cái hàng rào; đột nhiên cảm thấy yêu.
Giờ là giữa tháng Hai. Những mái nhà của khu ngoại ô Hampstead Garden nằm trong một làn sương mù nhiễu động. Trời quá nóng để đi bộ. Một con chó sủa, sủa mãi ở mé dưới thung lũng. Những cái bóng trong trẻo lướt trên đồng.
Cơ thể sau một trận ốm dài trở nên uể oải, thụ động, có thể tiếp nhận sự ngọt ngào, nhưng yếu đến độ không thể dung chứa nó. Những giọt lệ dâng lên khóe mắt và rơi xuống khi con chó sủa trong thung lũng, đám trẻ con chạy như bay sau những cái vòng lắc, miền quê tối sầm lại và sáng bừng lên. Trông như thể ở bên ngoài một tấm màn mỏng. Chà, nhưng hãy kéo tấm màn kín lại hơn kẻo tôi ngất đi vì cảm giác ngọt ngào, Fanny Elmer thở dài, trong lúc nàng ngồi trên một cái ghế dài trên đường Judges Walk nhìn về khu vực Hampstead Garden Suburb. Nhưng con chó vẫn tiếp tục sủa. Những chiếc ô tô bóp còi trên đường. Nàng nghe thấy tiếng lao xao văng vẳng. Nỗi niềm bối rối đọng xuống tim nàng. Nàng đứng lên và cất bước. Cỏ xanh tươi mơn mởn; mặt trời nóng ấm. Quanh cái ao, lũ trẻ con đang khom xuống để thả những con thuyền nhỏ; hoặc hét lên the thé khi bị những người vú em kéo lại.
Vào giữa trưa, những cô gái bước ra khỏi cửa. Tất cả những người đàn ông đang bận rộn trong thành phố. Họ đứng cạnh bờ của ao nước xanh lơ. Cơn gió mới làm tản mác những giọng nói của lũ trẻ con. Lũ trẻ con của mình, Fanny Elmer nghĩ. Những người phụ nữ đứng quanh ao nước, xua lũ chó to lông bờm xờm đang nhảy cỡn lên ra xa. Em bé được đu đưa nhè nhẹ trong chiếc xe đẩy. Đôi mắt của tất cả những người giữ trẻ, những bà mẹ, và những phụ nữ lang thang hơi long lanh, chăm chú nhìn vào lũ trẻ con. Họ gật nhẹ đầu thay vì trả lời khi những cậu bé giật giật váy họ, nài nỉ họ đi tiếp.
Và Fanny di chuyển, nghe thấy một âm thanh nào đó - có lẽ tiếng còi tầm của một nhà máy - cao cao giữa không trung. Lúc này, giữa những hàng cây, chính con chim hét cũng đang cất giọng hót, thả vào bầu không khí ấm một chuỗi hân hoan, nhưng dường như nỗi sợ hãi đã kích thích nó, Fanny nghĩ; như thể cả nó cũng băn khoăn với một niềm hân hoan đến thế trong tim nó - như thể nó đang bị theo dõi khi đang hót, và bị sự náo động thôi thúc nên phải hót lên. Kia rồi! Nó bồn chồn bay sang cây bên cạnh. Nàng nghe thấy tiếng hót của nó xa xôi mơ hồ hơn. Ở mé bên ngoài là tiếng bánh xe lăn lạch cạch và tiếng rì rào của gió.
Nàng đã tiêu hết mười xu cho bữa ăn trưa.
“Chà, cô ơi, cô ta đã để quên cái ô,” một phụ nữ mặc áo sọc trong căn phòng vách kính gần cửa của quán ăn của công ty Express Dairy làu bàu.
“Có lẽ tôi sẽ đuổi kịp cô ta,” Milly Edwards, cô gái hầu bàn với những bím tóc vàng nhạt đáp; và cô ta lao qua cửa.
“Không xong rồi,” cô ta nói, quay lại một lúc sau đó với cái ô rẻ tiền của Fanny. Cô ta đưa tay lên sờ vào bím tóc.
“Ồ, cánh cửa đó!” Người phụ nữ thu ngân làu bàu.
Hai bàn tay của cô ta đeo găng tay đen hở ngón, và những đầu ngón tay đang ghi vào những tờ biên lai sưng phồng lên như những thỏi xúc xích.
“Một phần bánh nướng và rau xanh. Một cốc cà phê to và bánh xốp. Bánh mì nướng trải trứng gà. Hai cái bánh hoa quả.”
Giọng lanh lảnh của những cô hầu bàn vang lên. Những khách ăn trưa nghe thấy những món mình gọi được lặp lại với sự tán thành; nhìn bàn bên cạnh được phục vụ với sự sốt ruột. Rốt cuộc món bánh mì nướng trải trứng gà của chính họ cũng được đưa lên. Ánh mắt họ không còn đi lạc sang những bàn khác nữa.
Những cái bánh ngọt ẩm vuông vắn rơi vào những cái miệng há ra như những cái giỏ hình tam giác.
Nelly Jenkinson, nhân viên đánh máy, thờ ơ bẻ vụn cái bánh của mình. Mỗi lần cửa mở, cô ta lại ngẩng lên. Cô ta mong nhìn thấy điều gì?
Tay buôn than mê mải đọc tờ Telegraph, không nhìn thấy cái đĩa lót, và lơ đãng đặt cốc lên tấm khăn trải bàn.
“Anh có bao giờ nghe thấy thứ chuyện phi lý giống như thế không?” Bà Parsons kết thúc, phủi những vụn bánh khỏi chiếc áo khoác lông.
“Một phần sữa nóng và bánh nướng. Một bình trà. Bánh mì nhỏ và bơ,” các cô hầu bàn xướng to.
Cánh cửa mở ra và đóng lại.
Đó là cuộc sống của kẻ lớn tuổi.
Việc nằm trong một chiếc thuyền để quan sát những lượn sóng thật thú vị. Ở đây có ba lượn sóng thường xuyên theo nhau ập tới. Thế rồi, lượn sóng thứ tư vội vã đuổi theo chúng, rất to và đầy đe dọa; nó nâng con thuyền lên; nó di chuyển tiếp; hợp nhất theo cách nào đó mà không đạt được bất cứ điều gì; trải ra bằng phẳng cùng với các lượn sóng còn lại.
Cái gì có thể bạo liệt hơn những nhánh cây quăng quật trong một cơn bão, toàn thể thân cây cong oằn lại, tới tận những đầu nhánh, duỗi ra và rùng mình theo hướng gió thổi, thế nhưng không bao giờ chuyển động trong tình trạng hỗn loạn? Cây bắp quằn quại và cúi thấp như thể chuẩn bị tự nhổ bật nó khỏi rễ, thế nhưng vẫn bị cột chặt vào đó.
Sao chứ, từ chính những cửa sổ này, ngay cả trong ánh sáng nhá nhem, bạn nhìn thấy một sự sưng phồng chạy qua đường phố, một niềm khát vọng, như thể với những cánh tay dang rộng, những đôi mắt khát khao, những cái miệng há hốc. Và rồi bạn lắng dịu lại một cách thanh bình. Bởi nếu trạng thái hạnh phúc cực độ này kéo dài chúng ta sẽ bị thổi bay vào không trung như những cái bong bóng nước. Những vì sao sẽ tỏa sáng xuyên qua chúng ta. Chúng ta sẽ rời khỏi cơn bão trong hình thù những giọt nước mặn - như đôi khi vẫn xảy ra. Bởi những tinh thần mạnh mẽ sẽ không có chiếc nôi nào cả. Không bao giờ có bất kỳ chiếc võng đu đưa hay thời giờ nghỉ ngơi vô mục đích nào dành cho họ. Không bao giờ có bất kỳ sự giả vờ, hay dối trá một cách thoải mái, hay giả định một cách vui vẻ rằng kẻ này cũng không khác chi kẻ nọ, rằng lửa ấm, rượu ngon, và sự tiêu pha phung phí là một tội lỗi.
“Mọi người rất tốt, một khi bạn biết họ.”
“Tôi không thể nghĩ xấu về cô ta. Người ta phải nhớ...” Nhưng có lẽ Nick, hoặc Fanny Elmer, hoàn toàn tin vào chân lý của khoảnh khắc cởi y phục, khoảnh khắc cảm thấy gò má đau nhói; chúng đã biến mất như cơn mưa đá đột ngột.
“Ồ,” Fanny nói, lao vào xưởng vẽ muộn bốn mươi lăm phút vì nàng đã lảng vảng ở khu vực gần bệnh viện Foundling chỉ để có cơ may nhìn thấy Jacob đi trên phố, móc chiếc chìa khóa ra và mở cửa. “Tôi e là tôi tới muộn”; Nick không nói lời nào đáp lại và Fanny trở nên thách thức.
“Tôi sẽ không bao giờ tới nữa,” cuối cùng nàng kêu lên.
“Vậy thì đừng tới nữa,” Nick đáp, và nàng chạy ào ra khỏi phòng không một lời tạm biệt.
Nó thật tuyệt vời - cái váy trong cửa tiệm Evelinas bên rìa đại lộ Shaftesbury! Lúc này là bốn giờ chiều một ngày đẹp trời đầu tháng Tư, và phải chăng Fanny là kẻ có thể trải qua bốn tiếng đồng hồ ngồi nhà trong một ngày trời đẹp? Những cô gái khác trong phố này ngồi trước những cuốn sổ kế toán, hoặc mệt mỏi rút những sợi chỉ dài giữa lụa và vải gạc; hoặc, đứng trong thương xá Swan and Edgars, với những dải ruy băng cài trên áo, nhanh chóng điền thêm những xu và pha-đin lên lưng của tờ hóa đơn và cuộn tấm vải lanh kích thước một thước và ba phần tư thước vào giấy lụa và hỏi người mới tới kế tiếp, “Quý khách cần gì?”
Trong tiệm Evelinas bên rìa đại lộ Shaftesbury, những thành phần y phục của một phụ nữ được trưng bày riêng rẻ. Ở mé tay trái là cái váy. Quấn quanh một cái cột ở giữa là một tấm khăn quàng lông chim. Xếp thành dãy như đầu của những tên nổi loạn trên cổng Temple Bar là những cái mũ - màu lục tươi và trắng, có quấn vòng hoa hoặc rũ xuống dưới những sợi lông chim nhuộm kỹ. Và trên tấm thảm là những đôi giày, với mũi nhọn màu vàng chóe, hoặc có hoa văn trên da xẻ khía đỏ tươi.
Được thưởng thức bởi những đôi mắt phụ nữ, cho tới bốn giờ, những thứ y phục trở nên ô uế như những cái bánh ngọt trong một cửa sổ tiệm bánh. Fanny cũng ngắm chúng. Nhưng đang đi trên phố Gerrard là một người đàn ông cao ráo trong chiếc áo khoác sờn mòn. Một cái bóng đổ ngang qua cửa sổ tiệm Evelina’s - cái bóng của Jacob, dù nó không phải là Jacob. Và Fanny quay đi, bước xuôi theo phố Gerrard và ước rằng nàng có thể đọc được nhiều sách. Nick không bao giờ đọc sách, không bao giờ nói về Ái Nhĩ Lan, hoặc Thượng viện Anh; và những cái móng tay của anh ta thì bẩn không còn chỗ nói! Nàng sẽ học tiếng Latin và đọc Virgil. Nàng từng là một độc giả tuyệt vời. Nàng đã đọc Scott; nàng đã đọc Dumas. Ở Học viện Mỹ thuật Slade[3] không ai đọc cả. Nhưng không ai ở trường Slade biết Fanny; hoặc đoán ra nàng cảm thấy nó có vẻ trống rỗng như thế nào: niềm đam mê đối với những đôi hoa tai, đối với những cuộc khiêu vũ, đối với Tonks và Steer[4]. Chỉ người Pháp mới có thể vẽ, Jacob nói. Bởi những tác phẩm hiện đại khá phù phiếm; môn vẽ ít được tôn trọng nhất trong các bộ môn mỹ thuật; và tại sao phải đọc bất kỳ thứ gì khác ngoài Marlowe và Shakespeare, Jacob nói, và Fielding[5] nếu bạn phải đọc tiểu thuyết?
“Fielding,” Fanny đáp, khi người đàn ông trên phố Charing Cross hỏi nàng muốn loại sách nào.
Nàng mua cuốn Tom Jones.[6]
Lúc mười giờ sáng, trong một căn phòng mà nàng chia sẻ với một giáo viên, Fanny đọc Tom Jones - cuốn sách khó hiểu đó. Bởi cái cuốn sách tẻ ngắt này (Fanny nghĩ) về những nhân vật có họ tên kỳ quặc là thứ Jacob thích. Những người tốt thích nó. Những phụ nữ ăn mặc kém thời trang vốn không quan tâm tới việc họ vắt chéo chân như thế nào đọc Tom Jones - một cuốn sách khó hiểu; bởi có một cái gì đó, Fanny nghĩ, ở những cuốn sách mà nếu như mình được học hành tử tế hẳn mình sẽ thích - thích hơn nhiều so với những đôi hoa tai và các thứ hoa; nàng thở dài, suy nghĩ về những dãy hành lang ở trường Slade và cuộc khiêu vũ hóa trang vào tuần sau. Nàng chẳng có gì để mặc.
Những cuốn sách chứa đựng sự thật, Fanny Elmer nghĩ, đặt đôi chân lên mặt lò sưởi. Một số người có thật. Nick, có lẽ, chỉ có điều anh ta quá ngốc. Và không phụ nữ nào có thật - ngoại trừ cô Sargent, nhưng cô ta đã ra ngoài vào giờ ăn trưa để hít thở khí trời. Ở đó họ ngồi lặng lẽ trong một cuộc đọc sách ban đêm, nàng nghĩ. Không tới những thính phòng; không nhìn vào các cửa sổ cửa tiệm; không mặc y phục của nhau, như Robertson kẻ đã choàng chiếc khăn của nàng và nàng đã mặc cái áo chẽn của anh ta, điều mà Jacob chỉ có thể thực hiện một cách rất lúng túng; bởi anh ta thích Tom Jones.
Nó nằm đó trên đùi nàng, được phân thành hai cột, giá ba siling sáu xu; cuốn sách khó hiểu mà trong đó từ rất nhiều năm trước Henry Fielding đã chỉ trích Fanny Elmer về việc ưa thích màu đỏ thắm, bằng thứ văn xuôi hoàn hảo, Jacob nói. Bởi anh ta chưa bao giờ đọc những cuốn tiểu thuyết hiện đại. Anh ta thích Tom Jones.
“Tôi thích Tom Jones,” Fanny nói, lúc năm giờ ba mươi của cái ngày đầu tháng Tư đó, khi Jacob móc cái ống vố ra trong chiếc ghế bành đối diện.
Than ôi, những phụ nữ nói dối! Nhưng Clara Durrant thì không. Một tâm hồn hoàn mỹ; một bản chất thẳng ngay; một trinh nữ bị xiềng vào một tảng đá (ở một nơi nào đó khỏi quảng trường Lowndes) vĩnh viễn rót trà cho những cụ già mắt xanh lơ mặc áo chẽn trắng, vừa nhìn thẳng vào mặt bạn, vừa chơi nhạc của Bach. Trong số mọi phụ nữ, anh tôn trọng nàng nhất. Nhưng việc ngồi ở một cái bàn với bánh mì và bơ, với những phụ nữ lớn tuổi và khả kính mặc đồ nhung, và không bao giờ nói nhiều với Clara Durrant hơn Benson nói với con vẹt khi cô gái già Perry rót trà, là một tổn thương không thể chịu nổi đối với những quyền tự do và phép lịch sự của bản chất con người - hoặc những từ có tác động tương tự. Bởi Jacob không nói gì hết. Anh chỉ nhìn chòng chọc vào ngọn lửa. Fanny đặt cuốn Tom Jones xuống.
Nàng đang móc hoặc đan len.
“Đó là gì thế?” Jacob hỏi.
“Cho buổi khiêu vũ ở trường Slade.”
Và nàng lấy ra cái khăn trùm tóc; cái quần, đôi giày với những núm tua đỏ. Nàng nên dùng thứ nào?
“Tôi sẽ sang Paris,” Jacob nói.
Và mục đích của những cuộc khiêu vũ hóa trang là gì? Fanny nghĩ. Bạn gặp cùng những người; bạn mặc cùng một thứ y phục; Mangin say xỉn; Florinda ngồi lên đầu gối của anh ta. Cô ta ve vãn một cách thái quá - với Nick Bramham ngay lúc này.
“Sang Paris à?” Fanny nói.
“Trên đường tôi tới Hy Lạp,” anh ta đáp.
Bởi, anh ta nói, không có gì đáng ghét như London vào tháng Năm.
Anh ta sẽ quên nàng.
Một con chim sẻ bay qua cửa sổ, tha một sợi rơm - một sợi rơm từ một đụn rơm đứng cạnh một kho thóc trong một sân nông trại. Con chó spaniel già lông nâu đánh hơi ở bệ lò sưởi để tìm một con chuột. Những nhánh phía trên của những cây du lấm tấm những cái tổ chim. Những cây hạt dẻ đã xòe những tán quạt của chúng. Và lũ bướm đang khoe mình trên những con đường mòn trong rừng. Có lẽ con bướm Tử y Hoàng đế[7] đang ăn tiệc, như Morris nói, trên một đống xác thú đã phân hủy ở dưới gốc một cây sồi.
Fanny nghĩ tất cả những điều này đến từ cuốn Tom Jones. Anh ta có thể đi một mình với một cuốn sách trong túi và quan sát những kẻ bán hàng rong. Anh ta sẽ đáp một chuyến tàu lúc tám giờ rưỡi và đi bộ suốt đêm. Anh ta nhìn thấy những con đom đóm, và mang về những con đom đóm nhốt trong những cái hộp tròn đựng thuốc. Anh ta sẽ đi săn với những con chó săn hươu dòng New Forest. Tất cả những điều này đến từ cuốn Tom Jones; và anh ta sẽ tới Hy Lạp với một cuốn sách trong túi và sẽ quên nàng.
Nàng đi lấy cái gương nhỏ có tay cầm. Đó là gương mặt của nàng. Và giả sử có người quấn một cái khăn xếp quanh đầu Jacob thì sao nhỉ? Đó là gương mặt của anh ta. Nàng thắp ngọn đèn dầu. Nhưng vì ánh sáng ban ngày lọt vào qua cửa sổ chỉ có nửa phần căn phòng được soi sáng bởi ngọn đèn. Và dù trông anh ta thật kinh khủng, khôi ngô, và sẽ tắc lưỡi với con chó săn nòi Forest, anh ta nói thế, và tới Trường Slade, trở thành một hiệp sĩ người Thổ hoặc một hoàng đế La Mã (và anh ta để cho nàng bôi đen đôi môi của anh ta, nghiến ngấu hai hàm răng của anh ta và cau mày trong tấm gương soi), cuốn Tom Jones vẫn nằm đó giữa hai người.
❀ ❀ ❀
[1] Viện bảo tàng tượng sáp Madame Tussauds do Anna Maria “Marie” Tussaud (1761-1850), nghệ sĩ tạo hình tượng sáp người Pháp sáng lập tại London năm 1835.
[2] Sea glass: những mảnh thủy tinh vỡ bị bào mòn do sóng gió và thời tiết được tìm thấy ở các bờ biển.
[3] Slade School of Art, thuộc Đại học London (UCL), do Felix Joseph Slade (1788-1868), luật sư kiêm nhà sưu tập sách và tranh in người Anh, sáng lập.
[4] Henry Tonks (1862-1937): nhà phẫu thuật kiêm họa sĩ Anh nổi tiếng; Philip Wilson Steer (1860-1942): họa sĩ nổi tiếng chuyên vẽ tranh phong cảnh. Cả hai đều là giảng viên của Học viện Mỹ thuật Slade và có nhiều ảnh hưởng tới các thế hệ sinh viên sau này.
[5] Henry Fielding (1707-1754): tiểu thuyết gia kiêm kịch tác gia nổi tiếng người Anh.
[6] The History of Tom Jones, a Foundling (Tiểu sử của Tom Jones, một đứa trẻ bị bỏ rơi), bộ tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Fielding.
[7] Purple Emperor (Apatura iris): tên một loài bướm to hiếm thấy ở Anh, cánh có màu tím trên nền viền màu đen nhung.