Quyền Bính

Lượt đọc: 4218 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 556
Không có gì là không thể

❊ ❊ ❊

Rằm tháng tám tại Thượng Kinh, trời cao đang lúc hoàng hôn.

Mặt trời chưa xuống núi, một vành trăng tròn nhạt nhòa đã treo cao trên bầu trời phía Đông. Gió nhẹ hiu hiu, chim cu gáy bay về tổ, đúng là thời điểm tốt lành để bái nguyệt khi hoa cúc nở rộ khắp nơi, lúa vàng rực rỡ.

Tết Trung thu vốn là một ngày đại lễ, lúc này mỗi gia đình ở Thượng Kinh lẽ ra đã sớm hấp cua, luộc đậu nành, bày hoa cúc, đặt lễ vật, chuẩn bị vui vẻ hân hoan bái nguyệt thần.

Mặc dù năm nay mọi việc cần làm đều không thiếu sót, nhưng lại chẳng thể nào tìm thấy không khí hân hoan của những năm trước nữa. Toàn bộ kinh thành nước Tề đều bao trùm trong sự hoảng sợ và bất an...

Bách tính nghe những người chạy nạn từ nơi khác kể lại, bọn cướp nước Tần trong trận chiến tại Mục Dã Nguyên đã đánh bại đại quân của Bách Thắng Công, lại từ thành Mục Dã xuất phát, liên tiếp công phá ba quận Lê Dương, Bộc Dương, Nội Hoàng, thiêu rụi ba triệu thạch lương thực vụ thu tại kho lương phía Bắc nước Tề.

Quân Tần nếm được vị ngọt, một hơi xông lên, dọc theo sông Tế Bắc xuôi về phía Đông, lần lượt công hãm bốn phủ Dương Bình, Hoa Phủ, Cao Đường, Bình Nguyên, bảy trận bảy thắng, thiêu hủy hơn ba mươi tòa huyện thành, phủ thành, chém đầu hơn mười vạn, đốt sạch một triệu năm trăm nghìn thạch lương thực vụ thu... Phải biết rằng một năm ở phương Bắc nước Tề cũng chỉ thu hoạch được bảy triệu thạch lương thảo mà thôi.

Quân Tần cướp bóc như loài châu chấu, càn quét ba châu giàu có nhất ở phía Đông nước Tề, khiến hàng triệu người dân mất nhà cửa, tổn thất trực tiếp lên tới hàng chục triệu lượng bạc!

Sự hoảng sợ lan tràn điên cuồng khắp hai kinh mười ba châu của nước Tề, tin đồn nổi lên khắp các ngõ phố, lời đồn đại không dứt. Người ta lúc thì nói bọn cướp nước Tần không ăn lương thực mà chỉ ăn tim người; lúc thì bảo chúng đã đánh chiếm phủ Hà Gian, xâm nhập vùng kinh kỳ, không bao lâu nữa sẽ xuất hiện dưới chân thành Thượng Kinh; lúc lại bảo, kẻ cầm quân đánh đến lần này chính là vị tiểu chất tử mà Thượng Quan Thừa tướng năm đó gắng sức chủ trương thả đi, thật đúng là tự làm tự chịu...

Ban đầu đồn thổi dữ dội nhưng ít người tin, lòng tin của bách tính đối với đại nhân Bách Thắng Công đã đạt tới mức mù quáng, dù biết quân Tề bại trận ở Mục Dã Nguyên, họ vẫn ngây thơ và cố chấp cho rằng, đây lại là vở kịch hay "dụ địch vào sâu", "bắt rùa trong hũ" của lão công gia, căn bản không tin một thằng nhóc mới ra đời lại có thể đánh bại nhân vật giống như thần thánh rơi khỏi tầng mây.

Nhưng khi quân cần vương từ khắp nơi lần lượt tiến vào kinh sư, Thuận Thiên phủ lục soát kinh thành, truy bắt gián điệp, không khí ở Thượng Kinh không thể kiềm chế mà trở nên căng thẳng, vật giá tăng vọt, nhà nhà đóng chặt cửa nẻo, tựa như dáng vẻ "sơn vũ dục lai phong mãn lâu" (mưa gió sắp đến, gió đầy lầu)...

Bách tính bình thường còn như vậy, huống hồ là phụ mẫu quan của họ, huống hồ là "kẻ cầm đầu" của phụ mẫu quan?

Thừa tướng phủ khí độ vẫn như cũ, cây hòe cổ thụ vẫn cứng cáp như xưa, chỉ có điều thực sự không chống đỡ nổi sự tàn phá của gió thu, tán cây xanh đậm ngày hè, nay đã có chút khô vàng lốm đốm.

Hai đội nghi trượng uy nghiêm, hộ tống một chiếc kiệu lớn hoa lệ, đang lặng lẽ chờ đợi trong sân. Chẳng bao lâu sau liền thấy một lão giả dáng vẻ thanh tú, râu tóc bạc phơ từ sân sau chậm rãi đi tới.

Lão giả kia mặc mãng bào, lưng quấn đai ngọc, chính là đương triều nhất phẩm Thái phó, Tả Thừa tướng Thượng Quan Vân Hạc, tự Minh Đức. So với bốn năm trước, ông ta càng thêm gầy gò, mái tóc vốn hoa râm đã biến thành trắng muốt, trên khuôn mặt được bảo dưỡng kỹ càng kia, cuối cùng cũng ngoan cường bò lên vài nếp nhăn biểu hiện cho sự già nua.

Thậm chí ngay cả cái lưng từng thẳng tắp, nay cũng đã hiện lên vẻ hơi còng xuống.

Ông ta quá lo lắng, quá hao tâm tổn trí. Kể từ sau khi bắt đầu biến pháp theo "Tề quốc cải lương trâu nghị" của Trương Gián Chi đó, triều cục liền ngày một mất kiểm soát...

Chuyện này phải bắt đầu từ chỗ mấu chốt của nước Tề, vấn đề của nước Tề nằm ở bốn chữ "nhập bất phu xuất" (thu không bù chi).

Quốc gia này tiêu tiền quá mức! Về phương diện nội bộ, vì chế độ "chinh tịch cử tiến" (bổ nhiệm) quan lại thịnh hành, khiến các thế gia đại tộc vô tư sắp xếp con cháu vào triều đình, hưởng sự chu cấp của quốc gia, thậm chí môn khách, nô bộc của một số hào môn, cũng có thể treo cái chức quan như Huyện thừa, Chủ sự, đường hoàng nhận bổng lộc của triều đình.

Trong tình huống này, số lượng quan lại chính phủ liên tục bành trướng tăng vọt, quan lại dư thừa, chức vụ hư cấu vô số, đến trước khi có tân chính, đã đạt tới hơn hai vạn người, gấp mười lần thời sơ khai của quốc gia! Điều này dẫn đến chi phí chính phủ tăng mạnh, chỉ riêng hạng mục này mỗi năm tiêu tốn nào chỉ vài ngàn vạn?

Còn về phương diện đối ngoại, sự đối đầu trăm năm với hai nước Tần, Sở, khiến số lượng quân đội ở mức cao không xuống được, trước trận đại chiến lần này, số người trong biên chế của Binh bộ đã đạt tới đỉnh cao lịch sử, khoảng một triệu hai trăm năm mươi chín nghìn người, khiến chi phí quân sự tăng lên, đúng như trong "Trâu nghị" đã nói: "Chi phí nuôi quân, chiếm bảy tám phần trong thiên hạ."

Chi phí to lớn như vậy, mà thu nhập lại như thế nào?

Nước Tề ban cho hoàng thân quốc thích, sĩ tộc hào môn, nhân viên quân sự, công vụ đặc quyền cực lớn, cho phép họ miễn nộp thuế má, miễn lao dịch. Thậm chí cả hương thân thổ hào thông thường, cũng có thể thông qua hối lộ quan phủ địa phương mà trốn tránh thuế má. Mà những tầng lớp đặc quyền không đóng góp gì cho quốc gia này, lại nắm giữ hơn năm phần mười diện tích đất đai thiên hạ, hơn bảy phần mười xưởng sản xuất, hầu như toàn bộ khoáng sản muối sắt...

Cho nên chi phí khổng lồ của quốc gia, liền đổ hết lên người những nông dân chỉ canh tác chưa đầy năm phần đất của nước Tề! Quốc khố như vậy sao có thể không trống rỗng?

Mà quan lại sĩ tộc nước Tề lại cứ đắm chìm trong khoái cảm đánh bại cường Tần, mơ giấc mộng xuân về quốc gia mạnh nhất thiên hạ, kiêu sa dâm dật, hủ bại đồi trụy, quốc khố bị đám vắt này hút máu đến mức thâm hụt hàng vạn, hình thức hư không vẫn chưa đủ. Lại còn gia tăng thuế má, tát cạn đầm bắt cá, nông dân không nộp nổi thuế thì đập phá, cướp đoạt, bắt bớ, đánh đập! Sự bóc lột áp bức như thế, bách tính sao có thể không làm phản?

Cách đây bốn năm năm, tình thế đã đến mức nguy cấp, nếu không cải cách, sẽ tự sụp đổ mà không cần đánh!

Đây chính là bối cảnh Trương Gián Chi năm đó dâng "Tề quốc cải lương trâu nghị".

Cho nên sau khi suy nghĩ thấu đáo, Thượng Quan Thừa tướng quyết định biến pháp...

Tháng hai năm Hưng Hóa thứ mười hai, lập Cách tân chính vụ điều lệ ty, bàn hành tân pháp; tháng tư, phái tám bộ Ngự sử đi tuần tra ruộng đồng, thủy lợi, sưu dịch các châu phủ; tháng bảy, lập Quân du pháp cho bốn châu Tề, Lỗ, Vân, Hợp; tháng chín, lập Thanh miêu pháp; tháng mười một, ban hành Nông điền thủy lợi pháp. Từng đạo lệnh được thi hành xuống, hiệu quả có thể nói là "lập can kiến ảnh" (thấy kết quả ngay tức thì), thu nhập hai loại thuế năm đó liền tăng gấp đôi!

Được khích lệ mạnh mẽ, Thượng Quan Thừa tướng năm sau lại thừa thắng xông lên, ban hành thêm "Thị dịch pháp", "Mộ dịch pháp", "Tài binh pháp", "Trí tướng pháp" cùng mười ba hạng lệnh tổng cộng, khiến thu nhập thuế năm thứ hai lại tăng gấp đôi nữa!

Những sắc lệnh này liên quan đến các phương diện sĩ, nông, công, thương, binh của nước Tề, vô cùng phức tạp, nếu phân tích giải thích từng điều một, e rằng phải nói mất ba ngày ba đêm, nhưng xét đến tận cùng, chính là hai chữ "khai nguyên" (mở rộng nguồn thu).

Cái gọi là "khai nguyên", tự nhiên là tăng thu nhập quốc gia, cụ thể mà nói, chính là đo đạc lại đất đai trong thiên hạ, đánh thuế vào đất đai khai khẩn mới vốn ẩn giấu không khai báo; bãi bỏ đặc quyền, đánh thuế vào tầng lớp đặc quyền vốn không nộp thuế, và bắt họ dùng tiền chuộc để thay thế lao dịch; chính phủ xuất vốn, cho bách tính vay hạt giống, trâu cày, thúc đẩy nông nghiệp phát triển;

Thậm chí vẫn do chính phủ xuất vốn, thu mua hàng hóa ế ẩm của thương nhân vào lúc giá bình ổn, đợi đến khi thị trường thiếu hàng thì bán ra. Đồng thời cấp vốn vay cho thương nhân, khuyến khích thương mại phát triển. Dùng để đạt tới mục đích "thông hữu vô, quyền quý tiện, dĩ bình vật giá, ức kiêm tịnh" (lưu thông hàng hóa, cân nhắc giá trị, để bình ổn vật giá, ức chế sự thôn tính).

Dưới bàn tay sắt của Thượng Quan Thừa tướng, hàng loạt biện pháp được thực thi, kẻ vốn không nộp thuế nay đã nộp, nên thu nhập quốc gia đạt được mức tăng trưởng phi thường xuyên; còn các biện pháp phát triển nông nghiệp, khuyến khích công thương lại khiến thu nhập thường xuyên của quốc gia tăng trưởng ổn định, tiền đồ không thể không nói là mỹ hảo. Nếu có thể quán triệt thực hiện, quốc gia sao phải lo không phú cường? Dân sinh sao phải lo không an lạc?

Tuy nhiên chúng ta biết rằng, lý tưởng và hiện thực luôn có khoảng cách, đôi khi thậm chí còn đi ngược chiều nhau. Sau thời kỳ trăng mật hai năm đầu, biến pháp của nước Tề bắt đầu lộ ra từng vấn đề một...

Hoàng thân quốc thích, hào môn đại tộc, quan lại trung ương bắt đầu phàn nàn kể khổ, thù hận biến pháp; quan lại địa phương bắt đầu "dương phụng âm vi" (bằng mặt không bằng lòng), thậm chí trực tiếp thay đổi chính sách, khôi phục chế độ cũ, ngay cả thương nhân, nông dân vốn nên ủng hộ cũng có vẻ oán thán khắp nơi, sợ như sợ hổ.

Mà thu nhập quốc khố vốn là thứ có thể làm Thượng Quan Thừa tướng nở mày nở mặt nhất, sau hai năm tăng vọt, cũng xuất hiện đà suy thoái không thể đảo ngược, đến năm ngoái chỉ nhiều hơn trước khi biến pháp chưa đầy một thành...

Mất đi pháp bảo này, những sĩ tộc hào môn bị tổn hại lợi ích kia, càng hung hăng công kích tân chính, muốn loại bỏ rồi mới hả dạ. Tuy không dám trực tiếp công kích lão Thừa tướng, nhưng việc gây khó dễ, bức hại các quan lại thực thi biến pháp, thì lại không từ thủ đoạn, không tiếc sức lực.

Dù có Thượng Quan Thừa tướng hết lòng che chở, các quan lại biến pháp trong ngoài đều khốn đốn, vẫn ưu tư khó quên, tâm lạnh ý nguội, cáo bệnh xin từ chức, trốn được xa bao nhiêu thì trốn, có vẻ như muốn tránh không kịp.

Đây đều không tính là gì, quan trọng hơn là, vị hoàng đế bệ hạ vốn chuyên tâm tu thiền, không hỏi thế sự, cuối cùng không chịu nổi sự ồn ào của đám hoàng thân quốc thích kia, bắt đầu hỏi han đến tình hình biến pháp. Tuy lão Thừa tướng trải qua ba triều đại, môn sinh thuộc hạ đầy thiên hạ, trong triều có thể nói là rễ sâu gốc chắc, lại thêm sự thấu hiểu và hứa hẹn của Bách Thắng Công, ngay cả hoàng đế cũng không thể dễ dàng lay chuyển địa vị của ông ta.

Nhưng "phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ" (dưới gầm trời này không đâu không phải là đất của vua), Đại Tề này dù sao vẫn là của hoàng đế bệ hạ, mà ông ta Thượng Quan Vân Hạc có "trâu bò" đến đâu cũng không thay đổi được thân phận là kẻ làm công, đối với sự nghi ngờ đến từ ông chủ, ông ta không thể không kiên nhẫn giải thích... Nếu cứ nhất mực "cương bích tự dụng" (cứng nhắc, độc đoán), cố chấp làm theo ý mình, sớm muộn gì cũng có ngày bị mọi người phản bội, kết cục thê thảm.

Nhưng Thượng Quan Thừa tướng hiểu từ ngày biến pháp, bản thân đã bước lên một con đường không thể quay đầu, bởi vì biến pháp đã chạm đến lợi ích của quá nhiều người, thay đổi quá nhiều thành pháp tổ tông. Ngay cả khi thành công, còn có khả năng đi vào vết xe đổ của Vệ Ương, chưa nói đến nếu thất bại... chẳng phải sẽ bị đám quyền quý kia xé xác làm mồi nhậu sao?

Cho nên ông ta vừa cắn răng kiên trì, vừa khổ sở suy tư xem vấn đề rốt cuộc nằm ở đâu?

Vấn đề nằm ở đâu? Đây cũng là vấn đề mà các chính trị gia, sử gia hậu thế tranh luận không ngừng. Có người nói là căn bệnh thâm căn cố đế của chính tân pháp; có người nói tân pháp là tốt, chỉ là người bên dưới "dương phụng âm vi", thực thi làm hỏng; lại có người nói, Thượng Quan Thừa tướng quá kiêu ngạo, không thể đoàn kết quần chúng, dẫn đến mọi người phản bội, biến pháp thất bại, vân vân và vân vân, ý kiến trái chiều nhau.

Cho đến khi đại học giả Vương An Thạch đăng bài "Luận Thượng Quan Vân Hạc biến pháp thất bại sớ", cuối cùng mới nhận được sự đồng tình của các bên, mới coi như hình thành một cách nói chính thức:

Vương An Thạch cho rằng, có ba phương diện nguyên nhân, thứ nhất: "Thượng Quan Vân Hạc biến pháp" nhắm vào chỉ là phần lông mao, nhưng không chạm đến vấn đề cốt lõi – "chi tiêu quá nhiều"!

Mà chi tiêu quá nhiều là vì triều đình quan lại dư thừa quá nhiều, quân đội khống ngạch (số lượng ảo) quá nhiều. Không nhắm vào "quan lại dư thừa", "quân số ảo", vấn đề tài chính căn bản không giải quyết được. Nhưng cải cách của Thượng Quan Thừa tướng, lại lấy việc tăng thu nhập quốc khố làm chủ đạo, như vậy thì không thể giải quyết khó khăn tài chính.

"Cải lương trâu nghị" của Quán Đào đã nói rõ ràng, ngoài "khai nguyên" còn phải "tiết lưu" (tiết kiệm chi tiêu)! Thông qua việc cắt giảm quan lại dư thừa của chính phủ, thu nhỏ chi tiêu chính phủ; thông qua kiểm tra nghiêm ngặt quân lương khống, giảm bớt chi phí quân sự. Theo tính toán của Quán Đào, nếu làm tốt việc tiết lưu, chi phí quân sự chính trị ít nhất mỗi năm sẽ giảm bớt mười triệu lượng, quốc khố sao lại có thể túng thiếu?

Mà hiện nay Thượng Quan Thừa tướng chỉ "khai nguyên" không "tiết lưu", giống như đổ nước vào một cái thùng đầy lỗ thủng, sao có thể đổ đầy được?

Thứ hai, bản thân chính sách cũng có khuyết điểm chí mạng – lấy việc thực thi "Thanh miêu pháp" làm ví dụ. Thanh miêu pháp quy định phàm dân hộ các hạng ở châu huyện, mỗi năm trước hai vụ thu hoạch hạ thu, có thể đến quan phủ địa phương vay tiền mặt hoặc lương thực, để bổ trợ canh tác.

Nhưng khi thực hiện lại khác xa với lý tưởng. Nếu dân nghèo tự nguyện vay tiền quan, còn có thể nói, nhưng thực tế lại là quan địa phương cưỡng ép nông dân bảo lãnh cho nhau, sau đó chia đều số lượng cho từng nhà, gọi là "tán thanh miêu" (phân tán thanh miêu), lý do làm như vậy, một mặt là để đối phó với nhiệm vụ triều đình hạ xuống, mặt khác là để đảm bảo sau thu hoạch thu hồi toàn bộ vốn lẫn lãi.

Mà trong quá trình phân phát cụ thể, đối tượng là nhà trung thượng chứ không phải là hộ nghèo, vì sợ hộ nghèo không có khả năng trả nợ, mà nhà trung thượng người ta còn cần phải vay tiền xuống giống, vượt qua nạn đói mùa xuân sao?

Cần tiền thì không có, không cần thì lại không thể từ chối, đây còn bàn gì đến chuyện huệ dân nữa?

Có người muốn nói, việc tốt như vậy tại sao lại phải đẩy ra ngoài? Bạn tưởng không cần trả nợ à?

"Thanh miêu pháp" có quy định, phải thu lợi tức hai phần, tức là hai mươi phần trăm tổng số, nghĩa là quan phủ ép buộc cho người ta vay một khoản tiền tài hoặc lương thực căn bản không dùng đến, đến mùa thu lại bắt người ta trả thêm hai phần, cái này có khác gì cướp tiền? Chẳng văn minh hơn việc áp đặt các loại thuế khóa hà khắc là bao.

Còn thứ ba, là vì bệ hạ "hoành không xuất thế", khiến quốc lực nước Tề bị trọng thương, tình thế "tuyết thượng gia sương" (đã khổ còn khổ thêm), hai năm trước tích góp được chút gia sản, nhanh chóng tiêu tán sạch sẽ, biến pháp tự nhiên không thể duy trì... Cái này có hiềm nghi nịnh hót, không nói cũng được.

Cho nên cách nói có thẩm quyền chính là hai điều đầu, không có điều thứ ba.

Bài viết này vừa xuất hiện, đánh giá của người đời đối với Vương An Thạch đột ngột tăng cao, nhiều quan cao hiển quý coi ông là "quốc khí", đua nhau cảm thán rằng: "Giả sử Thượng Quan Thừa tướng có kiến thức như Lâm Xuyên tiên sinh, thiên hạ thuộc về ai vẫn chưa biết được đâu."

Nhưng Tư Mã Quang cùng thời với Vương An Thạch cho rằng, với kiến thức của Thượng Quan Thừa tướng, không thể nào chỉ biết "khai nguyên", không biết "tiết lưu", lý do biết mà không làm, là vì chỉ riêng "khai nguyên" thôi đã có trở lực lớn đến thế, nếu lại "tiết lưu", cắt đứt đường tài lộc của người ta, e rằng sẽ lập tức bị các quan lại quý tộc, văn quan võ tướng đang tức giận nuốt chửng! Một ngày cũng không biến pháp nổi...

Tư Mã Quang còn cho rằng, Thượng Quan Thừa tướng rất rõ ràng sự lợi hại trong đó, nhưng ông ta còn rõ ràng hơn quốc khố nước Tề đã trống rỗng đến mức độ nào, nếu không tăng thu nhập, không đợi Tần quốc tới đánh, tự mình đã có thể sụp đổ. Nhưng ông ta vẫn "nghĩa vô phản cố" (quyết không quay đầu) mà làm, mục đích không phải là trị hết căn bệnh trầm kha, chỉ là để duy trì sự sống cho quốc gia đang bên bờ vực sụp đổ này thôi...

Tư Mã Quang đi sâu vào tận cùng linh hồn của Thượng Quan Thừa tướng, cho rằng nguyên nhân lão nhân gia làm vậy, là có thâm mưu viễn lự... Hai trăm năm đối đầu, ba nước đều đã "ngoại cường trung can" (bên ngoài mạnh mẽ bên trong khô kiệt), trăm bệnh quấn thân.

Ông ta hẳn cho rằng tình hình nước Tần, còn tệ hơn nước Tề... Trên giang hồ so sánh không nhất thiết luôn là so ai mạnh hơn, đôi khi cũng là so ai thê thảm hơn... Nếu chấn chỉnh tinh thần, kích phát toàn bộ tiềm năng, thừa lúc hắn bệnh lấy mạng hắn, liền có thể chuyển giao nguy cơ của bản thân sang cho nước Tần.

Tư Mã Quang cho rằng Thượng Quan Thừa tướng thực sự hy vọng Bách Thắng Công có thể trong cuộc chiến toàn quốc "tất kỳ công vu nhất dịch" (dốc toàn lực trong một trận đánh), hốt gọn chủ lực nước Tần, từ đó muốn gì được nấy, dùng tài sản nước Tần để nuôi nước Tề. Đây là một cuộc mạo hiểm to lớn đánh cược cả vận mệnh quốc gia, nếu thành công thì hai cái khó đều tự giải; nếu thất bại, chẳng qua là chết nhanh một chút mà thôi.

Điều này giải thích tại sao Thượng Quan Vân Hạc lại đồng ý kế hoạch tác chiến đối Tần của Bách Thắng Công... Coi như "tử mã đương hoạt mã y" (chữa ngựa chết như ngựa sống) vậy!

Có thể thấy, Tư Mã Quang đối với sự dám gánh vác trách nhiệm của Thượng Quan Thừa tướng, vẫn rất tán thưởng. Mặc dù ông cũng phải thừa nhận, Thượng Quan Vân Hạc đã đánh giá thấp sự tham lam ngu xuẩn của đám ngu xuẩn dưới tay, những kẻ đó vào lúc "đại hạ tương khuynh" (tòa nhà sắp đổ), còn nhân lúc biến pháp vơ vét tài sản dân chúng, điều này mới khiến mâu thuẫn vốn vài năm sau mới bùng phát, đã xuất hiện sớm như vậy.

Nhưng dù sao đi nữa, Thượng Quan Thừa tướng vẫn hoàn thành yêu cầu của Bách Thắng Công, tập hợp lực lượng để một trận chiến với nước Tần.

Trước khi thắng bại cuối cùng phân định, kết cục vẫn chưa biết được, chẳng phải sao?

Ít nhất nhìn vào hiện tại, là như vậy.

Bất kể hậu nhân biến ông thành yêu ma hay tôn làm thánh nhân, Thượng Quan Vân Hạc đều không quan tâm, điều duy nhất ông quan tâm, chính là tên béo chết tiệt Triệu Vô Cữu kia, khi nào có thể thắng trận chiến chết tiệt này!

Kiệu đi một đường về phía Tây, vào vườn thượng uyển phía Tây kinh thành, cuối cùng dừng lại trước Vạn Thọ điện, hoàng đế Hưng Hóa nước Tề thường niên ở đây...

Vạn Thọ điện này không giống với kiến trúc cung đình thông thường, càng giống Đại Hùng Bảo điện trong chùa, vì hoàng đế Hưng Hóa nước Tề là tín đồ Phật giáo cuồng nhiệt, bản chất thích làm hòa thượng cao hơn là làm hoàng đế, thậm chí vài lần muốn thực sự cạo đầu xuất gia, ngặt nỗi đám đại thần không gánh nổi chuyện mất mặt này, không phân phái hệ lấy cái chết ra ép, lúc này mới khiến hoàng đế từ bỏ ý định cạo trọc đầu... Nếu ông ta biết tình trạng hiện tại của hoàng đế nước Tần, chắc hẳn trong lúc hả hê vui sướng, vẫn sẽ có chút ngưỡng mộ nhỉ...

Nhưng không cạo trọc đầu không có nghĩa là lòng nhiệt thành tôn giáo của hoàng đế sẽ biến mất, từ năm năm trước khi Ý Quý phi qua đời, ông liền chuyển khỏi hoàng cung, ở trong Vạn Thọ điện này tu hành tại gia, chín con trâu cũng không kéo nổi.

Hôm nay Thượng Quan Thừa tướng tới đón Trung thu cùng hoàng đế, người tu hành thích thanh tịnh, nên dịp lễ tết chỉ cho vài đại thần thân tín ở bên, sẽ không tham dự những dịp lớn đó.

Kiệu vừa dừng, quản gia nhẹ nhàng vén rèm kiệu nói: "Thừa tướng, tới rồi."

Hít sâu một hơi, nhìn thoáng qua vành trăng tròn đang dần sáng lên nơi chân trời, Thượng Quan Thừa tướng chậm rãi đứng dậy, quản gia muốn tiến lên đỡ, ông lại xua xua tay, thản nhiên nói: "Lão phu còn đi nổi..." Nói xong liền xuống kiệu, hướng cổng đại điện bước tới.

Quản gia vội vàng nịnh nọt: "Đó là, Thừa tướng trường mệnh bách tuế, đến một trăm tuổi chân tay vẫn nhanh nhẹn như người trẻ tuổi..." Lời còn chưa nói hết, liền thấy lão Thừa tướng nhấc chân quá thấp, bị bậc cửa cao vút vấp phải, liền đổ nhào về phía trước, làm mọi người sợ ngây người.

May mà Thừa tướng không phải chịu kiếp nạn này, lúc này có người từ trong cửa nghênh đón ra, vừa vặn bị Thượng Quan Thừa tướng tông trúng cả người, kêu "ai u" một tiếng, liền bị tông ngã nhào xuống đất, làm đệm thịt cho Thừa tướng.

Đám hạ nhân vội vàng tiến lên, chân tay lóng ngóng dìu Thừa tướng dậy, may mắn là lão gia tử bình an vô sự. Nhìn lại kẻ bị đè bẹp trên đất, chính là tổng quản thái giám trong cung, Hoàng công công. Chỉ thấy lão già ngày thường được nuông chiều, đau đến mức nước mũi chảy ra: "Ai u... Tổ tông ơi, ta đây là chạy ra đây để đỡ tai họa cho ngài đấy..." "Còn chưa mau đỡ công công dậy?" Đám người vội vàng đỡ Hoàng công công dậy, đấm bóp vai lưng cho hắn, Thượng Quan Vân Hạc cũng chắp tay cười nói: "Công công đừng giận, lão phu cũng không cố ý." "Tạp gia có giận hay không không quan trọng." Hoàng công công đột nhiên hạ thấp giọng nói: "Vạn tuế gia đang nổi giận, Thừa tướng cẩn thận một chút."

[Dịch từ bản hv] ChuongId:574
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tam Giới Đại Sư

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.