Quyền của Eva

Lượt đọc: 67 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 20
ĐẠI TIỆC SINH NHẬT

❊ ❊ ❊

Mỗi người, nhất là anh em ruột cùng cha mẹ, đều có những tính cách khác nhau hay còn gọi là cá tính... Không ai cho rằng tất cả những cá thể cùng loài có thể nhìn giống nhau như khuôn đúc cả...

THỜI GIAN CỨ THẾ TRÔI QUA nhưng vẫn chưa thấy tin tức gì về Cây Nhỏ cả. Mỗi ngày của tôi là một vòng xoay bất di bất dịch của bài tập ở trường, tập đàn piano và học nấu ăn với cô Viola. Tôi bị bắt học nấu món bò Wellington và cừu Parsifal. Tôi còn phải học chiên gà, cá trê và đậu bắp. Ngoài ra còn phải làm bánh mì trắng, bánh mì nâu, bánh mì bột bắp và bánh mì mềm.

Cô Viola cứ phải suốt ngày quay cuồng không ngừng nghỉ với những công việc này và dường như chúng cũng chẳng buông tha tôi. Trong những lúc rảnh rỗi hiếm hoi tôi đều dành hết cho ông nội.

Rồi tháng 10 cũng đến, ôi tháng 10 dấu yêu. Tôi và ba anh em trai nữa đều làm sinh nhật vào tháng 10, còn thêm Lễ Halloween nữa chứ. Thật dồn dập quá nhiều niềm vui. Đúng thật có quá nhiều, nhất là đối với mẹ, thế là bà kêu tôi, Lamar, Sul Ross và Sam Houston lại.

“Các con, năm nay chúng ta sẽ làm một bữa đại tiệc sinh nhật cho cả bốn đứa thay vì làm riêng từng cái một. Thú vị đúng không? Chúng ta sẽ mời bạn bè của tất cả các con lại và tổ chức một bữa tiệc hoành tráng ra trò.”

“Cái gì chứ?”

“Ấy, vậy chả công bằng gì cả!”

“Gượm nào.”

“Meeeeeẹ.”

Mẹ định trông chờ một niềm vui chung cho sự sắp đặt này à? Không hề đâu nhé. Cả bọn đồng loạt kêu than ầm ĩ dai dẳng, nhưng thật bất ngờ, mẹ không hề động lòng, gạt mọi thứ sang một bên và vẫn giữ vững quyết định của mình.

“Đủ rồi đấy!” bà ra lệnh.“Quá thể rồi. Mẹ và cô Viola phải làm quá nhiều rồi. Nếu cô ấy phải làm bốn bữa tiệc sinh nhật trong một tháng thì cô ấy sẽ nghỉ việc, mẹ thề là cô ấy sẽ làm thế thật đấy. Và các con không được quyền than vãn với cô ấy nghe chưa. Đây là quyết định của mẹ không phải của cô ấy đâu.”

“Callie Vee có thể giúp cô ấy nấu nướng mà,” Lamar nói giọng trịch thượng. “Nó đang học mà, cho nó giúp đi, con muốn có sinh nhật của riêng mình.”

Tôi ném cho anh ấy một cái nhìn căm hận làm anh bất giác lùi lại.

Mẹ cứ thế lấn tới và bắt đầu công tác chuẩn bị trong cả tuần liền bao gồm cả Viola và SanJuanna làm việc quần quật (còn tôi thì được miễn vì cũng là sinh nhật của mình, bỏ mặc đề nghị ác độc của anh Lamar). Bốn đứa chúng tôi cũng chỉ biết đứng nhìn và tự trút giận vào nhau, suốt ngày lầm bầm kêu thán về sự bất công này. Và rồi thứ bảy đầu tiên của tháng 10 cũng đến, chúng tôi tụ tập lại cùng nhau cho bữa sinh nhật chung trong tâm trạng buồn vui lẫn lộn.

Công việc của cô Viola là nấu cả núi thức ăn; SanJuanna thì bưng bê liên tục. Còn Alberto thì dựng lều rạp đề phòng trời mưa và buộc chặt bà ngựa Sunshine từ xứ Shetland già nua và cáu kỉnh, tránh trường hợp nó sút cương chạy lượn vòng quanh như rắn và giày xéo đồ đạc dưới vó chân.

Nhưng bao nỗi bực tức chất chứa trong lòng mấy ngày qua chợt tan biến ngay khi bữa tiệc bắt đầu, vì sao ư? Vì hôm ấy là một bữa tiệc hoành tráng nhất từng được tổ chức ở Fentress. Tất cả trẻ con trong thị trấn được mời tham dự và cả bố mẹ của chúng nữa. Nào là cưỡi ngựa, pháo hoa tay, tên lửa chai, bóng vồ, thảy móng ngựa được quà, kẹo kéo, và ăn táo bằng miệng mà không dùng tay. Còn có quà mừng, giấy màu và cờ phướn nữa.

Hằng hà bánh sandwich ngon lành và xúc xích; còn thịt đông và thịt xông khói nóng dùng với sốt mơ; thịt bò nướng khô xắt lát mỏng dùng với cây cải ngựa cay nồng mà bọn trẻ luôn né tránh; sương sa và kem ăn đến ngán thì thôi; bánh hồ đào và bánh trứng chanh đường; đặc biệt là chiếc bánh sô-cô-la đen cao bốn tầng, mỗi tầng bên hông thì khắc tên màu trắng rất hoa mỹ của mỗi anh em có sinh nhật trong tháng của chúng tôi còn ở trên cắm đầy nến, tổng cộng là bốn mươi chín cây (mười hai cây cho tôi, mười bốn cây cho Lamar, mười lăm cây cho Sam Houston và tám cây cho Sul Ross. Tất cả bọn chúng cùng tạo lên một biển lửa, tôi nhận thấy rằng nếu cứ tiếp tục tổ chức đại tiệc sinh nhật chung kiểu này thì phải tìm ra một hệ thống đèn cầy mới hoặc phải làm một cái bánh to hơn gấp bội.)

Bữa tiệc bắt đầu rất trật tự và lịch thiệp nhưng càng về sau thì chuyển biến thành một mớ hỗn loạn không thể tưởng tượng được. Ajax chộp lấy một cuốn xúc xích rồi vừa chạy hết tốc lực vừa nuốt chửng nó trong khi cả bọn nít đuổi theo đánh đấm túi bụi.

Nhiệm vụ duy nhất của tôi là kèm cặp không để cho Sul Ross ăn quá nhiều bánh kem đến nỗi phát ốm. Nhưng xem ra chỉ hoài công vô ích vì Sul Ross luôn luôn ăn bánh kem đến phát ốm cho dù tôi có xem chừng nó hay không.

Bố và mẹ thì lo làm tốt bổn phận gia chủ hiếu khách của mình. Ông thì cầm ly bia chè chén cùng mấy người lớn khác. Ông tuyên bố có quà cho mỗi anh em chúng tôi gửi về từ Austin nhưng bị chậm trễ, sẽ chuyển tới trong tuần sau. Cả bọn thi nhau đoán mò nhưng ông nhất mực không tiết lộ một điều gì cả. Sau đó ông lui vào thư viện đánh một giấc ngon lành.

Travis, Lamar và Sam Houston thì quấn quanh Lula Gates như những hành tinh bay vòng quanh mặt trời và liên tục hỏi han quấy nhiễu: “Ăn thêm kem không Lula?”, “Lấy thêm bánh Lula nhé?”, “Lula vui không?”

Thế mà chẳng có ai thèm đoái hoài xem tôi có muốn thêm cái gì không cả. Nhưng rồi tôi cũng tự đi lấy bánh kem, tôi là một cô gái kiên cường mà.

Lula đứng trò chuyện cùng mẹ bạn ấy, những hạt mồ hôi nhỏ bé lấm tấm trên mũi và mái tóc dài buông như dòng thác ánh màu vàng bạc dưới ánh mặt trời.

Cô Gates mỉm cười với cả Travis và Lamar. Tôi trộm nghĩ, vậy là cô ấy rõ ràng muốn chấm một cậu nhà Tate cho Lula và cũng chẳng cần biết là cậu nào cả.

“Callie,” cô Gates bảo, “hai mẹ con cô đang bàn về hội chợ. Mấy việc thêu thùa của cháu làm đến đâu rồi? Nếu cô có thể nhận xét về con gái mình thì chỉ có thể nói rằng Lula đã làm cho cô ngạc nhiên về khả năng của con bé.”

“À,” tôi đáp.

“Cô chỉ định cho Lula đan dây cài áo thôi, nhưng khả năng làm đăng-ten của nó cũng tiến bộ vượt bậc rồi.”

“À, vậy à,” tôi nhận ra rằng mình chẳng có gì để đối đáp cả. Cuộc trò chuyện ngày càng lạc lõng đến khi Travis chen vào.

“Callie Vee đang đan tất Giáng Sinh đấy cô Gates, phải không chị?”

“Ừm, đúng rồi, đan tất.”

Travis tiếp, “Trời lạnh mà có tất mang thì thật tuyệt đúng không? Em mong là chị đan kịp trước khi Giáng Sinh đến.”

“Ôi, Travis,” cô Gates mỉm cười, “chắc chắn là phải xong rồi phải không Callie? Đan tất thì nhanh thôi mà.”

Tôi định bụng đáp, Không dễ thế đâu ạ.

“Lula chỉ mất một buổi chiều để đan đôi tất thôi,” cô Gates tiếp tục bảo.

“Thật à?” Travis ngỡ ngàng tiếp nhận thông tin này rồi nhìn tôi tỏ vẻ khó hiểu.

Tôi chẳng thích chiều hướng phát triển của cuộc nói chuyện này tí nào cả nên cắt ngang, “Lula à, cậu có muốn thử cưỡi con Sunshine không? Không việc gì phải lo lắng đâu, Alberto sẽ điểu khiển nó, không để nó làm bậy đâu. Nhưng nếu cậu ngại thì tớ sẽ cưỡi thử trước cho xem.”

“Được thôi Callie, ý kiến hay đấy,” Lula đáp rồi bọn tôi cùng xin phép rời đi.

Travis một lần nữa lại chứng tỏ khả năng giao tiếp đáng nể trong độ tuổi của mình, nó vẫn để mắt tới Lula nhưng vẫn thận trọng đi sau và tìm mọi cách lấy lòng cô Gates. Thằng bé này trưởng thành nhanh quá.

Khi đi ngang qua mấy cái bàn đang oằn mình chứa đầy thức ăn tôi nhìn thấy Sul Ross đang chạy về phía mấy bụi cây với hai chiếc đĩa đựng đầy bánh trên tay. Tôi đã quên bẵng mất nhiệm vụ ngăn cản nó ăn vượt quá số lượng bánh kem cho phép. Tôi cũng cảm thấy có lỗi nhưng thật ra, một thằng bé tám tuổi nên tự biết kềm chế chứ? Hơn nữa, hôm nay cũng là sinh nhật của tôi mà.

Bọn tôi băng qua khu trò ném móng ngựa mà Harry đang giám sát. Một mắt của anh quan sát Sam Houston vì nó rất hay ném lung tung; con mắt còn lại thì dán dính lên Fern Spitty, chị họ của Lula, đang lượn lờ xung quanh, tay quay quay chiếc ô kết đăng-ten.

“Callie à,” Lula ngập ngừng hỏi, “hình như tâm trạng của cậu đang không tốt, cậu bị ốm à?”

Tôi như được cởi mở tấm lòng. Một người mà năng khiếu đan đăng-ten đang phát triển thì có thể hiểu được những khó khăn của tôi hay không? Chúng tôi đã làm bạn nhiều năm nhưng gần đây chẳng thể tìm thấy tiếng nói chung. Nhưng cái cảm giác không thể giãi bày được với bạn thân của mình về việc móng vuốt bị sập bẫy thật khó chịu. Vì vậy tôi lấy hết can đảm rồi lập bập nói, “Tớ... tớ không thích thêu thùa hay đan len như cậu chút nào cả, và hơn nữa tớ chẳng có chút năng khiếu nào về nó cả. Tớ muốn làm những cái khác cơ.”

“Thứ gì cơ chứ?”

“Tớ cũng không chắc nữa.”

“Ý cậu muốn làm cô giáo dạy học à? Như cô Harbottle ấy à? Nhưng cậu sẽ chẳng có được gia đình cho riêng mình đâu. Cậu không muốn có gia đình riêng à?”

“Tớ cũng không chắc nữa,” tôi đáp.

Bạn ấy tỏ vẻ bối rối. “Ai cũng có gia đình cả mà?” Nghĩ một lúc rồi Lula tiếp lời, “À, cậu muốn giống Tổng đài viên Maggie Medlin ấy à. Chị ấy cũng chẳng có gia đình.” Lula nghĩ thêm một lúc nữa rồi lại bảo, “Chị ấy thật sự được trả lương. Tiền của riêng mình, nghe cũng hay đấy nhỉ...”

“Tớ cũng không biết mình muốn làm gì nữa Lula ạ.” Rồi như ánh mặt trời bừng lên từ phía rạng đông, một ý nghĩ chợt vụt lóe lên cho tôi biết mình muốn gì. Chẳng hiểu sao trước đấy tôi lại không nghĩ đến nữa. Tôi chỉ cần nói ra thật to thôi mà. Nhưng tôi có đủ can đảm để làm như vậy không? Để phơi bày mọi thứ ra ánh sáng? Có lẽ tôi nên thử nói trước mặt Lula xem phản ứng như thế nào.

“Tớ nghĩ,” tôi ngập ngừng. “Tớ nghĩ tớ muốn vào đại học.”

“Thật à?” không biết Lula đang ngạc nhiên hay đang kinh sợ nữa. Lula bảo, “Tớ chưa biết phụ nữ từng học đại học cả. Gượm đã, cô Harbottle có không nhỉ?”

“Không, cô ấy chỉ học qua trường đào tạo giáo viên tiểu học và được cấp bằng thôi.”

“Cậu sẽ làm gì ở trường đại học?” Lula hỏi.

“Mình sẽ học nhiều thứ.”

“Thứ gì cơ chứ?”

“Mọi thứ Lula ạ,” tôi trả lời hơi khoa trương. Thật ra tôi chẳng biết rõ rằng người ta làm gì ở trường đại học cả, tôi chỉ dựng chuyện lên nhưng không muốn Lula biết nên theo đà đó mà nói tiếp. “Khoa học và nhiều thứ khác. Họ còn cấp chứng chỉ đặc biệt để cho người khác biết rằng cậu đã từng học ở đó.” Tôi sợ Lula sẽ hỏi tiếp rằng mình sẽ dùng chứng chỉ để làm gì sau đó vì thật sự tôi chẳng biết nó dùng làm cái quái gì cả. Đột nhiên tôi chợt dị đoan rằng nếu bạn ấy hỏi mà tôi không thể trả lời thì tôi sẽ không được học đại học thật nên vội vàng chụp tay lôi Lula đi. “Thôi nào Lula, đi cưỡi ngựa nào!”

Bạn ấy mỉm cười đồng ý, quệt những giọt mồ hôi lấm tấm trên mũi nhìn như tàn nhang rồi hai chúng tôi cùng chạy ra chỗ con ngựa cáu kỉnh. Khi chạy ngang qua khu trò chơi thảy móng ngựa, tôi thấy anh Harry đang trò chuyện cùng chị Fern Spitty, thái độ ngập ngừng của anh làm tôi có cảm giác rằng anh đang muốn ve vãn chị.

Sau khi cưỡi ngựa xong, một nhóm chúng tôi chơi trò Nội Chiến, diễn lại trận chiến Fredericksburg[1] và Chancellorsville[2], giao chiến bằng kiếm gỗ và những khẩu đại bác bằng gỗ. Tất cả mấy anh trai của tôi, trừ Sam Houston đều tiếc nuối rằng họ không được làm anh hùng và sự vinh quang đầy lãng mạn ấy. (Sam Houston từng thấy những bức ảnh khủng khiếp của nhà nhiếp ảnh Mathew Brady và không cho đó là vinh quang gì cả.) Chúng tôi phải lên bảng phân vai rõ ràng để xem đến phiên ai làm Liên bang vì không ai chịu diễn đúng vai cả. Rồi chúng tôi cố gắng chơi vài lần mà không có quân miền Bắc, nhưng chơi kiểu này không thú vị chút nào nên rốt cuộc cả bọn đều bỏ cuộc.

Sau đó là cuộc-thi-phun-hạt-dưa-hấu, và Lamar là người thắng cuộc, thật ra cũng dễ hiểu khi nhìn vào cái bụng to đầy hơi của anh ấy. Tiếp theo bọn tôi mở quà. Tôi nhận được một chiếc túi nâu chứa cam thảo mà ba đứa em trai bỏ tiền túi ra mua. Sam Houston thì tặng tôi một chiếc cài khuy còn Lamar thì cho một chiếc gối cắm kim khâu nhìn giống quả cà chua đỏ ửng mập mạp. Harry tặng tôi quyển sách đàn piano, Những bài nhạc rộn rã cho niềm vui gia đình. Còn bố mẹ thì tặng một chiếc đầm ren trắng bằng vải ba-tít tuyệt hảo và một đôi dép mang trong nhà vào mùa đông thay cho đôi cũ đã không còn vừa chân tôi nữa. Về phía mình, tôi tự tô màu ba lá cờ Texas và tặng cho ba em trai.

Khi pháo bông được bắn ra cũng là lúc cả bọn đều mệt lả. Có nhiều tiếng cười và nước mắt, lời càu nhàu, bao nhiêu vết trầy xước, những dấu hiệu đặc cho một buổi tiệc hoành tráng. Dovie thì bị bầm mắt do chạy va vào nắm đấm của một đứa nào đó. (Dễ đó là nắm đấm của tôi lắm nhưng lần này thì không phải, tôi thề đấy). Nhưng mà dấu hiệu này làm cô nàng dễ được nhận biết nhất, dù sao Dovie cũng nổi tiếng là Nàng Priss khó ưa mà, dấu vết này càng củng cố hơn cho niềm tự hào nổi tiếng của cô nàng.

Tối đó mẹ đem theo vào phòng một chai thuốc nhức đầu to tướng. Cô Viola thì nằm xuống đắp khăn lạnh cùng thuốc nhức đầu và được đặc cách nghỉ ngơi hai ngày để lấy sức. SanJuanna và Alberto gánh vác nhiệm vụ dọn dẹp nặng nề và vô vị. Alberto báo cáo lại rằng khi dẫn Sunshine về chuồng vào cuối buổi tiệc thì nó mệt đến nỗi chẳng buồn cắn anh ta một cái nào cả.

Quà của ông cuối cùng cũng được chuyển đến mặc dù chúng tôi đã ngừng nuôi hi vọng. Nó được gói trong một kiện hàng to được đục lỗ thông gió, đây luôn là dấu hiệu đầy hứa hẹn về món quà nằm trong. Bọn tôi tập hợp ở hiên trước nhà và cùng nhìn Harry mở nó ra. Trong đó là một cái lồng bằng kẽm, chứa một con vẹt đẹp lộng lẫy. Ôi Chúa ơi, làm sao ông biết được nhỉ?

Nó không phải là một con vẹt tầm thường đâu nhé. Nó to lắm, được sinh ra ở Amazon hẳn hoi nhé, dài 1 mét tính từ đầu đến chóp đuôi, lông ức màu vàng chói lọi, chiếc lưng xanh và đôi cánh màu đỏ thẫm. Cả bọn đều trố mắt nhìn, mồm há hốc. Ông đọc thấy nó trên báo từ Austin và mua nó từ một cuộc thanh lý đồ đạc, con vẹt này đã sống lâu hơn chủ của nó. Nó là con vật đẹp nhất từ trước đến giờ tôi từng thấy. Xem ra nó có thể mổ đui mắt bạn mà chẳng tốn một tí sức nào.

Khi bọn tôi há hốc mồm nhìn nó, nó thò chiếc mỏ quặp ra khỏi song sắt, khéo léo mở khóa rồi dễ dàng bay lên nóc lồng bất chấp sợi xích cột từ gót chân đến thanh gỗ đã mòn mà nó thường đậu. Nó làm dáng với chiếc lông dài sặc sỡ, lắc đầu, ngúc ngoắc cái bờm tỏ vẻ dữ tợn và giương đôi mắt tròn xoe màu vàng lườm bọn tôi.

Cả bọn đều ngơ ngẩn, chưa đứa nào từng thấy thứ gì như vậy cả. Mẹ nhìn con vẹt tỏ vẻ đề phòng, nhưng đến thời khắc có vẻ như số phận đang bị đe dọa thì chợt kì lạ thay, nó huýt sáo bản nhạc “Khi anh và em còn trẻ, Maggia,” với đầy đủ các đoạn luyến láy và kết bài. Đây là cơ hội ngẫu nhiên hay con vẹt đã suy luận được mẹ tôi tên Magaret và đây là bài hát ưa thích của bà? Có một trí tuệ nham hiểm gì đó ẩn chứa trong đôi mắt vàng vọt của nó làm tôi e ngại và thầm cảm ơn sợi dây xích. Tên nó là Polly và dĩ nhiên nó là món quà sinh nhật của bọn tôi. Mẹ có thể làm gì nó bây giờ?

Vì vậy, nó được phép tồn tại trong nhà một thời gian. Nhưng rồi con vẹt tỏ ra cáu kỉnh và khó chịu đúng như vẻ bề ngoài của nó. Nhìn cái mỏ to tướng và những móng vuốt đen sì đáng sợ đó, chẳng ai dám nghĩ đến việc tháo xích cho nó cả. Nó dọa dẫm tất cả chúng tôi: từ bố mẹ, con cái, và cả chó mèo. Mọi người đều để cho nó khoảng không gian riêng, trừ khi tắm táp, cho nó ăn và thay giấy lót. Nó có riêng một chiếc mai mực, nó hay cà mỏ vào đó, chẳng khác nào người thợ đang mài dao vậy. Tôi cũng muốn lại gần quan sát nó lắm, nhưng không dám. Và Polly cũng chẳng thèm quan tâm đến việc nó là con chim không thân thiện nhất trên đời này. Suốt ngày nó cứ tự làu bàu bực dọc và hát những bài hò tục tĩu của thủy thủ, thỉnh thoảng lại ré lên đinh tai nhức óc làm ai cũng phải giật mình.

Mọi người dần dần phải đậy lồng lại nhiều hơn để tìm lấy sự yên bình. Tôi đoán rằng mọi người đều muốn vứt nó đi cho xong nhưng chẳng ai dám lên tiếng cả; chúng tôi đang chờ đợi một lý do chính đáng vì nó là món quà sinh nhật nên khó để vứt đi lắm.

Rồi cơ hội cũng đến vào một buổi chiều khi mẹ đang ngồi uống trà cùng bà Purtle thì nó hân hoan chào đón khách bằng câu “đi chết đi.” Tôi thì không hiểu nó nói gì nhưng có vẻ hai người kia thì có. Trong vòng một giờ, Polly được Alberto đem cho ông O’Flanagan.

Ông Flanagan là trợ lý giám đốc của xưởng tỉa hột bông và cũng từng là lái buôn đường biển, hơn nữa ông rất thích nuôi chim. Ông từng nuôi một con quạ cổ, phong tước là Quạ Edgar Allan, và ông cố dạy cho nó cả năm chỉ để nói một từ không bao giờ nữa nhưng không thành công, cho đến một ngày nó lìa đời ngay dưới chiếc thanh gỗ đậu trong lồng vì tuổi già sức yếu. Ông Flanagan nghe nói chúng tôi có con vẹt Polly biết nói nên rất thèm khát được nuôi dưỡng nó. Hơn nữa ông từng là thủy thủ già nên chẳng bao giờ cảm thấy khó chịu với sự phiền toái của Polly cả. Kể ra ông và Polly đều biết rất nhiều bài hát bất nhã và họ có thể cùng nhau hát để giết thời gian khi ông không có khách, nhưng đương nhiên phải đóng cửa lại đã.

Từ đó trở đi, chẳng ai trong nhà tôi thèm nhớ đến Polly, và tôi đoán rằng cả ông cũng không.

❀ ❀ ❀

[1] Trận Fredericksburg là một trận đánh thời Nội chiến Hoa Kỳ diễn ra trong các ngày 11-15 tháng 12 năm 1862 tại thành phố Fredericksburg, Virginia.

[2] Trận Chancellorsville là một trận đánh lớn và quan trọng của chiến dịch Chancellorsville thời Nội chiến Hoa Kỳ, diễn ra gần làng Chancellorsville thuộc quận Spotsylvania, Virginia từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 6 tháng 5 năm 1863.

Nguyên tác: The Evolution of Calpurnia Tate Người dịch: Lâm Thanh Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.