Mặc dù mỏ và bàn chân của loài chim thường sạch sẽ nhưng tôi vẫn có thể chứng minh rằng đôi khi đất đá vẫn bám vào đó: có lần tôi cạy ra cả hai mươi viên đất sét nhỏ từ chân của chú gà gô, trong đống đất đó còn có cả một viên sỏi to cỡ hạt giống đậu tằm.
NHIỀU THÁNG BUỒN TẺ TRÔI QUA, tôi lục lọi thùng thư liên tục, cần mẫn như một con chim ó, duyệt qua hàng loạt những bức thư nhạt nhẽo và hóa đơn, song chẳng có gì khác ngoài sự thất vọng trắng tay. Nhưng rồi hai ngày sau Noel tin tức rốt cuộc cũng đến, có điều không phải dưới dạng thư từ thông thường như chúng tôi vẫn chờ đợi.
Nó được gửi đến qua điện tín cá nhân, một sự kiện đáng sợ. Doanh nghiệp dùng thư tín để giao dịch, nhưng cá nhân chỉ dùng để báo tử cho gia đình mà thôi. Hôm đó, điện tín viên Fleming đạp xe đến nhà tôi, bức điện tín nằm gọn trong túi xách. Ông từng là binh nhì trong Thời Chiến, vì vậy mặc dù ông Fleming không phục vụ dưới quyền ông nội nhưng vẫn dành cho ông nội tôi một sự kính trọng đặc biệt và luôn sẵn sàng phục vụ ông. Tôi gặp ông Fleming ở lối vào nhà, khi tôi đang đào bới bên rãnh mương khô khan tìm nguồn nước. Ðương nhiên là không có nước rồi, cũng chẳng có ý nghĩa gì, nhưng nếu không thơ thẩn ở đây thì tôi lại phải vùi đầu vào cuốn quà tặng Noel trong phòng mà thôi.
“Callie Vee,” ông dựng xe đạp và gọi tôi, “ta có điện tín cho ông Tate.” Tôi nghĩ rằng điện tín này chắc hẳn gửi cho bố, và lục lọi trong trí óc xem ai là người xấu số. Có lẽ là bà cô già nua của bố ở Wichita mà tôi chưa từng gặp bao giờ.
“Ðiện tín từ Wichita phải không ông?” tôi hỏi.
“Không. Ta không được phép nói ra. Mà thôi được rồi, tại cháu ép ta đấy nhé, điện tín từ Washington.”
“Cái gì cơ?”
“Gửi từ nơi nào đó ở Washington.”
“Bố cháu biết ai ở Washington à?” Chắc việc gì liên quan đến giao dịch bông, nhưng sao lại không gửi đến thẳng xưởng tỉa hột bông nhỉ.
“Không phải gửi cho bố cháu mà cho ngài Ðại úy Tate.”
“Gửi cho ai ạ?”
“Không phải cho bố cháu mà cho ông nội của cháu.”
“Ông nội ...”
“Ta nghĩ rằng ông ấy sẽ muốn xem nó ngay đấy,” ông Fleming bảo.
Tôi lấy lại giọng hoạt bát, “Ðưa ngay cho cháu đi ạ!”
Ông lấy làm ngạc nhiên và ngó lom lom như thể tôi bị điên vậy. “Cháu nói kiểu gì vậy? Ta đâu thể đưa nó cho cháu được.”
“Ðưa điện tín đấy ngay cho cháu!”
“Này cháu bé, cháu đang hỗn hào lắm đấy nhé. Cháu bị làm sao vậy? Ta không thể đưa nó cho cháu được. Ta phải đưa cho người thành niên trên 18 tuổi. Nội quy của công ty chỉ rõ rằng ta phải đưa nó cho người thành niên...”
“Xin lỗi, xin lỗi...”
“...và ta chấp hành nhiệm vụ của mình cực kì nghiêm túc đấy nhé.”
Tim tôi đập mạnh đến nỗi như muốn văng ra khỏi lồng ngực. “Vào nhà đi ông Fleming.” Tôi nắm tay và cố kéo ông vào nhà, nhưng ông đang dắt theo xe đạp và cũng không phải dạng người dễ để lôi đi. Quãng đường vào đến nhà tưởng chừng như xa vời vợi. Tôi cảm giác mình đang bị mắc kẹt trong ác mộng, lúc đang bị chìm trong cát lún. “Nhanh đi ông!”
Vào đến hiên nhà, ông Flemming dừng lại, vùng tay tôi ra rồi chỉnh lại mũ cho vuông vức. Tôi mở bật cửa rồi hét lớn, “Ông ơi! Ông đang ở đâu?”
Mẹ nhỏ nhẹ nói vọng ra từ phòng khách, “Calpurnia, đừng có hét toáng lên như vậy. Cô Purtle đang đến chơi. Vào đây chào cô nào con yêu.”
Bình thường tôi đã nhanh chóng bước vào phòng khách theo mệnh lệnh của bà, nhưng trong mắt tôi giờ chỉ có cánh cửa thư viện đóng im ỉm. Làm sao bây giờ? Tôi xoay mòng mòng trong tiền sảnh như bong bóng trên mặt nước. Mẹ thoáng thấy bóng ông Fleming đứng sau rồi và tái mặt. Bà biết điện tín thường dùng để làm gì mà.
Ông ngả mũ chào mẹ. “Chào bà Tate. Xin lỗi vì đã làm phiền bà, tôi đến để chuyển điện tín từ Washington cho Ðại úy Tate.”
“Washington?”
“Chúa ôi, thú vị vậy,” cô Purtle bồn chồn.
“Mời vào ông Fleming. Ðại úy đang ra ngoài sông thu thập mẫu vật rồi nhưng tôi không biết tìm ông bằng cách nào nữa,” mẹ bảo.
“Con biết, con biết!” tôi hét lên rồi tông cửa ra ngoài. Cánh cửa chớp đóng sập ngay khi mẹ vừa lên tiếng, “Xin thông cảm cho con gái của tôi...”
Tôi phóng như bay ra đường và xộc vào bụi cây rậm rạp trên lối hươu chạy dẫn ra sông dọc theo khoảnh đất hình lưỡi liềm. Tôi cúi người như hươu và luồn lách như cáo; tôi chưa bao giờ thấy mạnh mẽ và có thể chạy nhanh đến thế.
“Ðến rồi!” tôi gào lên. “Tới rồi! Tin tức tới rồi ông nội ơi!”
Ông không có mặt ở con lạch nhỏ như tôi nghĩ. Tôi chạy dọc theo dòng sông về hướng Nam, miệng không ngừng gọi tên ông. Ðến mỏm đá nhỏ trên đảo và những nơi tương tự như vậy nhưng cũng không thấy bóng dáng ông đâu. Tôi còn chạy mất năm phút đến con đập cạnh xưởng tỉa hột bông. Lúc này tôi chỉ muốn thét lên trong nỗi tuyệt vọng. Trước đây lúc nào tôi cũng biết phải tìm ông ở đâu cơ mà, đến lúc cần thì như vậy đấy.
Hai chú diều hâu đuôi đỏ đang đậu trên cây sồi bị tôi làm giật mình nên quát lên inh ỏi. Mệt đứt cả hơi, tôi vẫn chạy điên cuồng nhưng chẳng còn chút sức lực nào để cất tiếng gọi. Trong óc tôi vang lên âm điệu đều đặn theo từng bước chạy: ông nội ông nội ông nội. Tôi còn chạy ngang qua giữa một gia đình lợn hoang đen sì đang sục mõm đào bới hồ đào làm chúng náo loạn trong phẫn nộ.
Ðến xưởng tỉa hột bông, tôi tìm đến ông O’Flanagan, dạo này ông đã dời Polly ra ngoài để cùng nó hít thở không khí trong lành. Ông đang đứng bên mép tua-bin nước, nhàn nhã phì phèo điếu xì-gà, đưa mắt nhìn qua cái bụng đẫy đà xuống dòng sông bên dưới. Khi tôi hổn hển nói vọng lên, Polly liền xù mào và ném cho tôi một cái nhìn hằn học hiểm ác.
“Ông có thấy ông nội của cháu không?” tôi thét lên. Nhìn mặt ông đủ để đoán là không thấy rồi.
“Có chuyện gì vậy cháu?” ông hỏi lại vẻ lo lắng. “Có gì không ổn à?”
Tôi băng qua đường đến tòa soạn, đẩy tung cửa vào trạm điện thoại, làm chị Maggie Medlin, đang ăn sandwich bên cạnh trạm chuyển đổi tín hiệu, giật nảy mình.
“Chị có thấy ông nội của em không?” tôi gào lên.
Mất một lúc chị mới nuốt được hết miếng bánh trong miệng rồi trả lời, “Hôm nay chị không thấy ông ấy. Mọi chuyện ổn chứ em?”
Tôi quay người bỏ đi và đâm sầm vào ông O’Flanagan, thì ra ông đã đi theo tôi nãy giờ. Maggie nói vọng ra, “Chị có cần gọi bác sĩ cho em không?”
“Calpurnia, có ai bị thương à?” ông O’Flanagan hỏi. Ông cứ đứng cản đường. Tôi hết tránh qua phải rồi né qua trái nhưng ông ta cứ lạng người theo. Nhìn mập thế mà di chuyển nhanh gớm. Ông chộp lấy vai tôi và rung người tôi bần bật làm tôi phải nhìn ông ấy.
“Calpurnia, nói cho ta biết. Cháu bị thương à? Hay ai bị thương?”
Tôi dừng lại cố gắng lấy lại hơi thở. Và bất chợt cảm thấy mệt lả người và quá sức chịu đựng. Tôi cảm thấy mình... bị bỏ rơi. Thời gian vui vẻ hạnh phúc của ông cháu tôi đâu rồi? Tôi đã đánh mất nó như thế nào nhỉ? Sao tôi lại không can đảm đấu tranh cho nó? Và bây giờ ông đang ở đâu trong một ngày trọng đại nhất cuộc đời thế này cơ chứ? Trước đây mỗi khi cần tôi đều tìm thấy ông cơ mà. Ðể bây giờ ông đang đi tìm mẫu vật ở một nơi mà ông cháu chưa từng đến làm tôi chẳng biết tìm ông ở đâu. Nơi nào đó thật bí ẩn, thật riêng tư. Ôi, ông đi tìm mẫu vật mà không có tôi bên cạnh.
Câu hỏi cho Sổ Tay: Sao ông lại làm vậy? Trả lời: Ông làm vậy vì đã chán ngấy Calpurnia và muốn được yên tĩnh một mình. Hay là đã quá mệt mỏi với nó và cái tính trẻ con của nó. Phải vậy không Calpurnia? Phải vậy thật không?
“Không có ai bị thương đâu ông,” rốt cuộc tôi cũng mở miệng thốt lên được, nhưng trong đầu lại lởn vởn những ý nghĩ: phải chăng có sự bực bội nào thoáng hiện trên gương mặt ông khi mấy ngày trước tôi vào thư viện phiền lúc ông đang đọc sách hay không? Bố mẹ đã nói chuyện với ông chưa? Rằng ông đang làm ảnh hưởng xấu đến tôi và nên dành sự quan tâm này cho mấy anh em trai khác thì tốt hơn? Còn chuyện tôi quên chú thích lại vị trí hai ông cháu tìm ra cây đậu tằm lông ngay từ đầu nữa. Ôi, chắc là thế rồi, mặc dù tôi đã tìm lại được nhưng ông hẳn chưa tha thứ cho sự ngu ngốc của tôi vì bất cẩn không ghi chép ngay từ đầu. Ông còn khuyến khích tôi tập đan len và rèn luyện thêm kỹ năng bếp núc vài tháng trước khi mẹ bắt đầu đàn áp tôi dồn dập mà. Ông cũng chẳng màng an ủi khi tôi cầm trên tay cuốn Khoa học Nội trợ đáng ghét ấy nữa. Vậy là ông luôn biết rằng tôi không thể nghiên cứu khoa học cả đời mà chính cái bẫy nội trợ ấy mới luôn cắn chặt lấy tôi không buông. Nghĩ đến đây tôi chợt òa khóc.
“Ôi cháu bé ơi, chuyện gì vậy?” ông O’Flanagan lo lắng vỗ về tôi. “Nào nào. Ðể ta dẫn cháu về cho mẹ nào.”
“Ðược rồi, cám ơn ông O’Flanagan. Cháu không sao đâu ạ,” tôi sụt sịt.
“Cháu chắc chứ? Nhìn cháu không ổn chút nào cả.” Vẻ mặt ông chợt sa sầm lại, “Hay đang có ai... rượt đuổi cháu?”
“Không, không đâu ạ, cháu chỉ muốn tìm ông nội thôi,” tôi vẫn nức nở nên ông chẳng mấy tin lời tôi. Tôi lôi khăn tay ra khỏi túi áo và vài giây sau thì nó đã ướt đẫm. Tôi chẳng thể nào kiềm chế được nước mắt của mình nữa.
“Cầm lấy này,” ông đưa cả khăn tay của ông cho tôi. “Có vẻ cháu cần nó hơn ông đấy. Giữ lấy rồi về nhà với mẹ đi.”
Tôi nhận thấy rằng ông O’Flanagan sẽ không bỏ đi nếu tôi còn trong tình trạng này. Tôi bèn xì mũi rồi lấy hết sức bình sinh kìm nén mình lại.
“Cháu ổn mà,” tôi khụt khịt. “Cháu về nhà đây. Cháu không sao đâu. Cám ơn ông, cháu đi đây.” Ông miễn cưỡng để tôi đi. Tôi lê bước ra đường rồi thất thểu về nhà.
Ông nội đã cho tôi đọc sách của Darwin. Ông đã cho tôi khả năng để sống một cuộc sống khác, nhưng mọi thứ này chẳng có nghĩa lý gì cả. Thay vào đó Khoa học Nội trợ mới là cuộc đời tôi. Tôi thật mù quáng và thất bại. Sắp bước qua thế kỉ mới rồi mà cuộc sống của tôi vẫn dậm chân tại chỗ. Ðúng vậy, cuộc đời bé mọn của riêng tôi ơi, ta phải tập chấp nhận mi rồi. Nước mắt tôi lại tuôn trào như mưa, cùng nước mũi nhòe nhoẹt hết cả chiếc tay của ông O’Flanagan. Chỉ còn một câu hỏi cuối cùng cho Sổ Tay và tôi sẽ đóng nó lại rồi quẳng vào góc, câu hỏi về bức điện tín: Có hay không? Ông nội phải cho tôi biết. Tôi sẽ bắt ông nói sau những gì ông đã nợ tôi.
Tôi đưa phần khô ráo còn lại của chiếc khăn tay lên lau mặt rồi ngoái đầu lại. Biết ngay mà, ông O’Flanagan đang lẽo đẽo theo sau để xem tôi có về nhà an toàn không, nhưng vẫn vờ như đang không theo dõi. Thôi cũng an ủi, ít ra cũng có người còn quan tâm đến tôi.
Ðợi đến khi thấy tôi rẽ vào nhà thì ông mới quay đi. Tôi chấn chỉnh lại mình trong trạng thái tốt nhất để tránh vướng vào thêm những câu chất vấn.
Mẹ vẫn ngồi trong phòng khách cùng cô Purtle và đang rót trà. Cô Viola bước vào, đeo tạp dề trắng và khệ nệ bưng chiếc đĩa bạc đựng đầy bánh mứt chanh. Ông Fleming đang ngồi trên chiếc ghế xoay, tách trà yên vị trên đùi, túi đựng điện tín nằm dưới chân. Có vẻ ông đang rất thong thả, chẳng vội vàng ra về khi chưa biết trong điện tín từ Washington nói gì.
Mẹ tôi ngước mặt lên hỏi, “Chuyện gì vậy Calpurnia? Con có tìm được ông nội không?”
“Không có gì đâu ạ,” tôi hờ hững đáp. “À, con không tìm thấy ông.”
“Thưa bà,” cô Viola bảo, “Ðại úy Tate đang làm việc ở túp lều sau nhà mà.” Cô Viola không bao giờ chịu kêu nó là phòng thí nghiệm hay phòng ở cho nô lệ xưa cả.
Trong túp lều sau nhà? Phòng thí nghiệm à?
Mẹ nghiêm nghị bảo. “Thế mà tôi đã nghĩ ông ra sông đấy. Calpurnia, ra mời ông vào đây đi. Không thể để ông Fleming đợi cả ngày được.”
“Ồ, không vấn đề gì đâu thưa bà,” ông nói rồi đẩy tách trà về hướng bình trà, “không sao đâu mà.”
Không ra sông à?
“Ông muốn dùng thêm trà không ông Fleming?”
“Ôi sao lại không chứ, cảm ơn bà.”
Vậy là ông không ra sông đi tìm mẫu vật một mình và bỏ tôi ở lại. Chỉ là đang làm việc trong phòng thí nghiệm mà không có tôi thôi.
“Calpurnia? Con không nghe mẹ nói à? Ra mời ông vào đây. Bà Purtle này, hãy nếm thử mấy chiếc bánh này xem, rất ngon đấy. Một tuyệt tác của Viola đấy nhé.”
Tôi gật đầu một cách vô thức. “Vâng, con sẽ đi mời ông vào ạ.”
Tôi đi xuyên qua bếp, lúc này cô Viola đang chuẩn bị nấu cơm tối. Cô ngước mặt lên hỏi. “Cháu định làm gì vậy? Trông cháu buồn cười thế nào ấy.”
“Cháu chẳng định làm gì cả.” Tôi xả nước chiếc khăn tay của ông O’Flanagan rồi ấn vào mặt. “Cháu vui mà, nên nhìn buồn cười là phải rồi,” tôi lầm bầm qua lớp khăn.
“Cái gì chứ?” cô hỏi trong tiếng ấm nước sôi rít liên hồi.
Tôi lấy khăn khô lau mặt rồi ngắm mình trong chiếc gương bể treo trên cửa sau. Mặt tôi vẫn còn đỏ và ủ rũ, nhưng không còn nhìn như phát cuồng lúc này nữa rồi. Ðây có phải cái mặt đã làm cho ông chán ngán không hay chỉ vì quá ngu ngốc khi kết luận mọi việc quá sớm?
“Cô Viola à? Cô có nghĩ cháu nhàm chán không? Cô có nghĩ cháu là đứa ngốc không?”
“Hả? Cháu có thể là thứ này thứ nọ, nhưng nhàm chán và ngu ngốc thì không đâu.”
“Cô chắc chứ?”
“Sao cháu lại nghĩ đến mấy thứ này vậy?”
“Cô Viola à, chuyện này quan trọng đấy.”
“Câu trả lời là không,” cô đáp rồi quay lưng đi tiếp tục nấu nướng. Tôi nhìn đôi vai khắc khổ và đôi tay mảnh khảnh nhưng dẻo dai đang làm việc không ngừng nghỉ cho bữa ăn tối, chợt nhận ra rằng bấy lâu nay tôi vẫn hay dựa dẫm vào cô về nhiều thứ khác hơn chứ không chỉ có thức ăn. Và cô Viola chưa bao giờ nói dối tôi nửa lời nên chắc bây giờ cũng vậy. Tôi bước đến choàng tay ôm ghì lấy eo cô. Lúc này tôi thật sự ngỡ ngàng về sự nhẹ cân và bộ xương nhỏ nhắn như xương chim ấy. Thật thú vị khi bộ khung mỏng manh như thế lại có thể gánh vác cả con người to lớn.
“Thôi nào, để cô làm việc nào,” cô bảo.
“Vâng thưa bà.” Và gắt gỏng khó khăn như thường lệ.
“Cô không phải là bà cô gì ở đây đâu nhé,” cô nói vọng theo. Tôi xộc ngang đám Mèo Sân Vườn đang lởn vởn ngoài hiên sau đến phòng thí nghiệm. Chân tôi nặng như chì, đoạn đường gần ngay trước mắt nhưng như xa tận chân trời.
Tôi giở tấm bạt phủ làm cửa ra vào và nhìn thấy ông đang ngồi trên ghế bành, ngắm nghía một hóa chất gì đó nằm trong lọ thí nghiệm trên bàn. Ðoạn ông ngước lên nhìn tôi, vẻ mặt đăm chiêu lạ lắm.
“Nó tới rồi ông ơi,” tôi bảo.
“Nó nào chứ?”
“Tin tức về Cây Nhỏ đến rồi ông ạ.”
Ông chợt im lặng.
“Có một bức điện tín được chuyển đến từ Washington ông ạ,” tôi bảo.
“À.” Ông chuyển hướng ngước mặt lên trần nhà và thì thầm, “Trong đó viết gì?”
Tôi thộn mặt ra. “Cháu không biết nữa,” tôi lắp bắp. “Cháu không mở nó ra. Cháu có được mở đâu. Nó được gửi cho ông mà.”
“Trời ơi Calpurnia, ông nghĩ cháu đã phải mở nó rồi chứ, nhân danh là một thành viên của sự kiện này chứ. Cháu có bị sao không vậy?”
Tôi gật đầu nhưng không dám tự tin để lên tiếng.
“Thôi nào. Chúng ta phải thật tươm tất khi nhận điện tín từ Washington phải không.”
Ông đứng dậy, chỉnh đốn lại chiếc áo khoác nhăn nhúm, vươn đôi tay to bản ra vuốt tóc và chỉnh lại chiếc nơ cho tôi. “Cháu sẵn sàng chưa?”
Tôi lại gật đầu. Ông đưa tay ra cho tôi. “Ði nào cháu.”
Tôi nắm lấy tay ông rồi cùng bước ra, không thốt lên lời nào. Hai ông cháu định đi vào cửa sau thì tôi có ý kiến, “Khoan đã.” Ông đứng lại nhìn tôi. “Gì vậy cháu?”
“Cháu nghĩ,” tôi run run đáp, “chúng ta nên đi bằng cửa trước vào ngày hôm nay ông nhỉ?”
“Chính xác,” ông đồng tình, rồi hai ông cháu chầm chậm vòng ra cửa trước, khi đi ngang cửa sổ phòng khách, ba cặp mắt trong đó tò mò dõi theo. Tinh thần tôi trở nên căng thẳng tột độ khi ra tới hiên nhà. Mấy đóa hoa loa kèn đang héo úa; còn hoa thường xanh thì rụng cánh; bầu trời màu cá thu. Tôi cảm giác được áp lực của một cái gì đó rất quan trọng đang đè nặng cả bầu không gian, thêm vào đó là cái lạnh rờn rợn bao trùm khắp người. Tay trong tay, hai ông cháu bước lên bậc thềm trước nhà, rồi ông mở cửa và cúi đầu mời tôi vào nhà. Tim tôi loạn nhịp.
“Ngài Ðại úy Tate.” Ông Fleming lên tiếng gây ấn tượng ngay trong phòng khách. “Rất vui được gặp ngài. Tôi xin kính chuyển ngài bức điện tín đến từ Washington. Chính xác là từ Quận Columbia chứ không phải tiểu bang nào khác đâu ạ.”
“Rất cám ơn ông Fleming. Chân thành cảm tạ.”
“Tôi biết là nội dung rất quan trọng nên vội vàng đem đến đây ngay đấy ạ.”
“Cám ơn ông Fleming. Thành thật cảm ơn.”
“Tôi không thể tin tưởng giao chúng cho bất cứ nhân viên nào cả.”
“Cám ơn ông Fleming. Rất cám ơn.”
“Ồ, đừng hiểu lầm ý tôi nhé. Họ đều là những nhân viên giỏi, nếu không tôi đã không thuê họ làm việc rồi. Nhưng đôi lúc họ cũng mắc sai sót và tôi nghĩ...”
Mẹ xen vào, “Ông Fleming à, chắc ông có thể đưa cho đại úy bức điện tín rồi đấy ạ. Ðược không ạ?”
“Ồ, vâng, dĩ nhiên rồi thưa bà.” Ông lục lạo trong túi xách rồi lấy nó ra. “Ðây rồi. Chuyển trực tiếp từ Washington. Ðúng vậy đấy, chính xác là từ đó đấy ạ.”
Cô Purtle kêu lên rồi đưa tay lên vỗ ngực. Tất cả cùng nhìn vào phong thư một cách mê mẩn.
Ông nội bước tới và ông Fleming đặt nó vào tay ông. Ông tôi nhẹ nhàng đón lấy. “Thật làm phiền ông quá, ông Fleming ạ.” Ông thọc tay vào túi định rút xu ra thưởng.
Nhưng ông điện tín viên nhất quyết chối từ. “Không đâu Ðại úy Tate ạ. Tôi không nhận ơn nghĩa gì từ ngài đâu ạ. Ðây là niềm vinh hạnh của tôi mà.” Nói rồi ông khép chân lại và kính cẩn đưa tay lên chào cờ.
“Ông thật tốt bụng.” Chợt nhận thấy ông Fleming không định trở lại tư thế bình thường, ông tôi bảo, “Thư giãn đi ông.”
Ông Fleming trở lại ngay tư thế bình thường. Chúng tôi cùng đứng đó nhìn ông nội lom lom, còn ông thì đang ngắm nghía bức điện tín.
“À,” ông bảo rồi ngước lên. “Cám ơn lần nữa vì đã làm phiền ông Fleming.” Rồi ông cúi đầu chào mẹ và cô Purtle. “Quý bà.” Ðoạn ông nắm lấy bức điện tín và bước ra ngoài. Miệng ai cũng há hốc ra trong kinh ngạc, ai cũng cảm thấy bức bối và không công bằng chút nào cả. Ai mà chịu nổi cơ chứ? Sao ông lại làm thế nhỉ? Sao ông lại đối xử với tôi như thế nhỉ?
“Calpurnia,” ông gọi vọng lại từ tiền sảnh, “cháu không đi theo ông à?” Tôi thoáng tê liệt trong một giây rồi guồng máy lấy lại ngay sức mạnh và chạy theo ông, mặc kệ chuyện trong phòng khách. Tôi trượt vào thư viện cùng ông. Ông lặng lẽ mở cửa rồi vào phòng. Lò sưởi chưa được đốt nên căn phòng thật lạnh lẽo. Tấm màn cửa màu xanh tím cũng được kéo ra đón ánh nắng nhợt nhạt của mùa đông vào phòng.
Ông ngồi xuống bàn. “Ðem cho ông ngọn đèn nào.” Mặt ông ngời lên nét gì đó trộn lẫn giữa niềm hân hoan và nghiêm nghị.
Tôi run rẩy đốt đèn lên. Nếu như lời phúc đáp là không thì sao nhỉ? Vậy ông cháu tôi sẽ ra sao? Hóa ra sẽ chỉ là một ông già gàn dở và một con bé ngớ ngẩn hay sao. Nhưng nếu là phải thì sao nhỉ? Ðồng nghĩa với danh dự, vinh quang và tiếng tăm đúng không nào? Vậy là chúng tôi không giống như những người bình thường? Biết hay không biết sẽ tốt hơn nhỉ? Nhưng dù là trắng hay đen thì ông nội vẫn yêu mến tôi phải không?
Tôi ngồi lên chiếc yên lạc đà, ước mình có thể cho thời gian dừng lại.
Ông nhìn bề mặt trắng ngà của phong bì rồi dùng dao rọc giấy bằng sứ từ tốn rạch nó ra. Bức điện tín chỉ vỏn vẹn một trang giấy gấp. Ông đưa nó cho tôi.
“Ðọc cho ông nghe nào cháu yêu.”
Tôi đón bức thư mà run bần bật. Tôi mở nó ra, để cạnh chiếc đèn rồi đọc, hơi đãi giọng một chút:
Thân gửi ông và cô Tate,
Chúng tôi, những thành viên trực thuộc Ủy Ban phân loại Thực vật của Trung tâm nghiên cứu Khoa học Hoa Kỳ, xin trân trọng thông báo với các bạn rằng: sau nhiều công đoạn nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi kết luận rằng các bạn đã tìm ra được một giống đậu tằm lông mới chưa được biết tới. Nó thuộc lớp Dicotyledon; bộ Fables; họ Fabaceae; loài Vicia. Theo thông lệ, mẫu vật mới sẽ được đặt tên dựa theo danh xưng của người tìm ra nó hoặc tùy sự chọn lựa của người tìm ra, miễn là không trùng với tên đã được sử dụng. Chúng tôi xin đề nghị đặt tên nó là Vicia tateii được không ạ? Điều này phù hợp với quy ước đặt tên thông thường cho việc phân loại. Nhưng đương nhiên các bạn cũng có thể tự đặt tên cho nó. Quyết định là ở các bạn. Trung tâm xin chúc mừng cho sự khám phá sáng suốt của các bạn. Tất cả vì mục đích khoa học...
Henry C.Larivee, Chủ tịch
Ủy ban Phân loại Thực vật
Tôi cẩn thận gấp miếng giấy lại đặt lên đùi rồi nhìn ông. Ông lặng người nhìn vào khoảng không một lúc lâu. Tôi cảm thấy mình nên nói gì đó vào lúc này nhưng chẳng thể tìm ra điều gì để mở miệng. Căn phòng hoàn toàn chìm trong im lặng. Xa xa văng vẳng tiếng tru đặc trưng của Matilda. Thật lạ lùng khi tôi có thể nhận ra tiếng của nó trong lúc này. Gần hơn nữa là tiếng chảo lanh canh trong bếp. Rồi tiếng cửa chớp bằng gỗ đóng sầm lại khi hai đứa em tôi rượt đuổi nhau ngang tiền sảnh. Kế đó là tiếng đàn piano vang lên những giai điệu da diết, anh Harry lại bị bắt biểu diễn cho khách nghe rồi. Lúc này, tiếng nhạc dường như kéo ông tôi trở lại với thực tại. Mặt ông có vẻ đăm chiêu, suy tư và buồn man mác.
“Ðúng rồi,” rốt cuộc ông cũng mở miệng.
“Ðúng gì hả ông?” tôi chẳng biết nói gì hơn cả.
Một phút sau ông mới đáp, “Nhạc của Chopin. Ông rất thích bản nhạc này đấy Calpurnia ạ...” ông ngập ngừng.
“Sao hả ông?”
“Cháu có biết...”
“Vâng thưa ông?”
“Rằng ông thích bản nhạc này nhất trong tất cả những tác phẩm của ông ấy không.”
“Không ạ.”
“Nó thường được gọi tên là ‘Mưa rơi.’
“Cháu không biết ạ.”
Chợt cô Viola rung chuông báo hiệu giờ cơm tối, vậy là cô sắp gõ cồng ở chân cầu thang rồi đây.
Ông bỏ mặc tiếng chuông. “Câu hỏi duy nhất là, chúng ta sẽ sử dụng phần thời gian ít ỏi được giao cho ra sao đây?”
Tôi tự hỏi xem hai ông cháu có nên thảo luận về bức điện tín hay không. Tôi chẳng muốn nghe tiếng cồng tí nào cả. Chỉ là ăn tối thôi, có thể ăn sau mà. Ðáng lý ra ông cháu tôi phải được tự do ngồi đây trò chuyện chứ. Tôi đảo mắt khắp phòng, nhìn ngắm nào là sách, thú nhồi bông và những chiếc lọ đựng quái vật nữa.
“Ông nội ơi?”
“Gì cháu?”
“Bức điện tín thì sao ạ?”
“Sao là sao hả cháu?”
“Thì...” ngay lúc này cô Viola gõ cồng. Âm thanh này thật cản trở và đáng ghét quá mức.
“Cháu định hỏi gì về nó à?” ông hỏi.
“Không,” tôi chậm rãi đáp. “Chắc là không có gì ạ.”
“Cháu có từng nghi ngờ không?”
“Có lẽ là không, nhưng...”
“Còn quá nhiều thứ để học hỏi, cháu thấy không, nhưng chúng ta lại có quá ít thời gian. Ông già rồi. Ông nghĩ ông sẽ chết trước khi tin tức đến ấy chứ.”
Tôi bước về phía ông và định trả lại bức điện tín nhưng ông không nhận và bảo. “Cháu giữ nó và kẹp vào Sổ Tay ấy.”
Tôi bỏ nó vào túi rồi vòng tay ôm lấy ông. Ông cũng vòng tay quanh người tôi rồi hôn tôi. Hai ông cháu cứ tựa vào nhau như vậy một lúc lâu đến khi nghe tiếng gõ cửa quen thuộc.
TÔI MONG ĐỢI một buổi lễ ăn mừng. Tôi còn nghĩ đến bánh, biểu ngữ và hoa giấy tung bay nữa. Và mong cả nhà sẽ công kênh hai ông cháu trên vai và đi vòng vòng trong vinh quang. Nhưng suốt bữa tối hôm ấy, ông chẳng hé nửa lời, còn tôi thì vừa ăn vừa cảm thấy thời gian trôi qua dài như vô tận. Có gì không ổn trong tôi ấy nhỉ? Sao tôi lại cảm thấy trống rỗng trong cái ngày vui nhất cuộc đời hai ông cháu thế này?
Suốt bữa ăn mẹ cứ liếc trộm ông và mỉm cười rồi gật đầu động viên mỗi khi ông ngước mặt lên, như gợi ý ông nói ra nội dung của bức điện tín. Nhưng ông vẫn một mực giữ im lặng và chúi đầu vào đĩa thức ăn. Những tiếng xì xào và ánh mắt tò mò của mấy anh em cũng cho thấy họ cũng đã đánh hơi được có biến rồi.
Rồi chúng tôi cũng kết thúc bữa tối. Chỉ đến khi SanJuanna dọn dẹp món tráng miệng thì ông mới đi ra bàn phụ rồi rót một ly rượu đầy. Ông kiên nhẫn cầm ly đến khi mọi người đều im lặng và hướng mắt về phía mình. Ly rượu bắt được ánh sáng chiếu xuống từ đèn chùm rồi hắt ngược lại muôn màu tia sáng lấp lánh trên chùm râu của ông.
Có vẻ như ông điểm mặt từng người, rồi đột nhiên mở cửa bếp và gọi cả cô Viola vào. Cô vội vã đi lên, tay chùi vào tạp dề, chân mày nhăn lại đầy cảnh giác.
“Thưa quý bà” - ông cúi đầu - “thưa quý ông, ta xin nâng ly chúc mừng. Một điều tuyệt diệu đã đến. Hôm nay ta nhận được điện tín từ Washington. Nó được gửi từ Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Hoa Kỳ, trong đó thông báo ta và Calpurnia đã khám phá ra một loài đậu tằm mới chưa được phát hiện bao giờ. Nó sẽ được đặt tên là Vicia tateii.”
Bố cất lời, “Xin chúc mừng!”
Mẹ ngó ông lom lom bằng ánh mắt đầy ngờ vực rồi lại nhìn sang tôi.
Harry hồ hởi, “Ông nội ơi, ông đã ghi danh gia đình mình vào lịch sử rồi.”
“Chị có được giải thưởng gì không Callie?” Jim Bowie hỏi. “Chị thắng được gì vậy?”
“Chị và ông được dành riêng một chỗ trong sách khoa học đấy,” tôi đáp.
“Sách nào cơ chứ? Vậy nghĩa là sao? Chúng ta có được xem những cuốn sách đó không?”
“Một ngày nào đó em sẽ được đọc thôi J.B. à.”
Bố bắt đầu vỗ tay và những tráng pháo tay cùng tiếng reo hò của mọi người tiếp nối theo sau. Ðây mới là những gì tôi đang mong đợi, mọi thứ thật sự làm tôi vui vẻ và hoạt bát hẳn lên, mặc dù không đến độ hoành tráng như tôi từng nghĩ.
Bố ra đứng cạnh ông bên chiếc bàn phụ, tự rót cho ông một ly đầy rồi bảo, “Margaret à, em ra tham gia nào!”
Mẹ chăm chú nhìn tôi.
“Margaret ơi?”
“Ô,” mẹ quay sang bố bảo. “Chắc cho em một ly nhỏ thôi Alfred à, chỉ là dịp đặc biệt này thôi nhé.”
Ông nội bảo, “Viola à, cô cũng làm một ly nhé?”
Cô Viola nhìn mẹ thăm dò rồi đáp, “Không, không đâu ông Tate ơi, tôi không thể...”
Ông phớt lờ lời cô, đặt ly rượu vào tay cô và một ly khác cho SanJuanna - lúc đón lấy ly rượu nhìn cô như muốn xỉu tới nơi. Họ cùng đứng và nâng cốc. Bọn tôi bắt chước theo bằng những ly sữa.
Bố dõng dạc, “Vì sức khỏe, vì sự phồn vinh của chúng ta, và cho dịp đặc biệt này, cho ông nội và dự án khoa học của ông. Bố thừa nhận rằng nhiều lần nghi ngờ về thời gian ông bỏ ra nhưng giờ đây kết quả đã được chứng minh một cách xứng đáng. Gia đình ta thật tự hào đêm nay!”
Harry bắt lời bài “Cho anh, một người bạn tốt bụng và hài hước” và để họ cụng ly ba lần liên tục.
“Chúng ta cũng đừng quên Calpurnia,” Harry bảo, “và cuốn Sổ Tay của nó. Cưng à, anh cũng có công khi cho em quyển sổ ấy đấy nhé. Chúc mừng em.”
Lần này mọi người nâng cốc chúc mừng tôi. Tất cả những khuôn mặt háo hức ấy làm tôi không ngăn nổi nụ cười tươi rói.
“Ðúng vậy,” ông nâng cốc về phía tôi. “Việc này sẽ không hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của đứa cháu duy nhất của ta, Calpurnia.” nói rồi ông uống ừng ực.
Ðứa cháu duy nhất của ông ư! Mấy anh em trai của tôi đột ngột im lặng, và sau đó là xì xào rì rầm to nhỏ.
“Xin lỗi,” ông nhận ra sai lầm của mình và cúi mình. “Dĩ nhiên ý ông là, đứa cháu gái duy nhất của ông.” Rồi ông lại bình thản nhấp rượu và ngồi xuống. Mấy anh em của tôi vẫn không ngớt càu nhàu, nhưng tôi chả cần quan tâm. Tim tôi đưa niềm vui đi khắp toàn thân theo từng nhịp đập. Vậy tôi là tất cả của ông đúng không? Và đối với tôi, ông nội cũng là tất cả.