Quyền của Eva

Lượt đọc: 94 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 8
SOI KÍNH HIỂN VI

❊ ❊ ❊

Vỏ trái đất là một viện bảo tàng khổng lổ...

SAU CUỘC CHẠM TRÁN CHÓNG VÁNH với chị Goodacre, cả nhà tôi bị xáo trộn mất vài tuần vì Harry cứ nhăn nhó thở than suốt ngày. Tôi đã giữ đúng lời hứa của mình là không gây ra phiền phức, ngoại trừ việc nghe lén ngoài cửa thư viện về cuộc nói chuyện giữa ông nội và Harry vài ngày sau đó. Vài thứ gì đó về Định luật chọn lọc của Tự nhiên, chúng luôn đúng trong thế giới Tự Nhiên nhưng đôi khi lại bị phá vỡ một cách khó hiểu bởi con người. Sau đó thì Harry có vẻ cũng nguôi ngoai, nhưng cũng phải mất một thời gian để anh ấy hoàn toàn trở lại như bình thường. Chẳng biết anh ấy có trách ông nội một phần nào đó vì đã cho chị Goodacre xem bộ sưu tập xác bọ thối rữa hay không nữa. Nhưng nếu chỉ vì vậy mà chị ta rời bỏ anh Harry thì rõ ràng chị ấy chẳng xứng đáng với anh một tẹo nào cả.

Nhưng tôi chắc rằng mẹ đang cảm thấy nhẹ nhõm vì nàng Goodacre phiền phức kia biến mất. Mẹ đã tỏ thái độ biết ơn một cách trịnh trọng nhưng thầm kín, hay hơn nữa là yêu mến đối với ông nội. Bà ân cần hỏi thăm sức khỏe của ông trong mỗi bữa ăn và lấy cho ông những phần thức ăn ngon nhất, nhưng có vẻ ông chẳng để ý thấy điều đó.

Còn Harry thì đã tha lỗi cho tôi. Thật ra, nói cho cùng thì tôi cũng đã không thể làm hỏng cơ hội của anh ấy với chị Goodacre. Tôi cũng đã cư xử rất đúng mực trong bữa tiệc nên không bị dư luận đánh giá gì cả. Chuyện gì xảy ra đêm đó đều không phải lỗi của tôi, bản thân tôi chẳng làm điều gì khiến chị ta phi thẳng ra khỏi nhà nhanh như vậy cả. Và rồi dù sao đi nữa, tôi vẫn là con thú cưng độc quyền của anh ấy bao nhiêu năm nay, người mà anh ấy ôm ấp nâng niu từ thời thơ ấu cơ mà. Tôi như đắm chìm vào cảm giác sung sướng khi được trở lại thành vật cưng của anh ấy.

MÙA HÈ CỨ THẾ TRÔI QUA. Đôi lúc bố hỏi ông cho lời khuyên về trang trại hay về xưởng tỉa hột bông nhưng rồi bất lực khi thật khó để tách ông nội ra khỏi công việc nghiên cứu về thế giới tự nhiên để thật sự tập trung vào một vấn đề thương mại nào đó. Ông đã một tay tạo dựng lên cơ nghiệp này và đạt được những thành công nhất định, nhưng bây giờ thì ông chẳng màng tới nó nữa. Tôi cảm thấy thật kì lạ khi chính bố mẹ tôi cũng không hiểu vì sao ông lại có thể ngoảnh mặt với cuộc sống ngày xưa của mình như vậy. Đến khi ông tâm sự hết nỗi niềm của mình thì tôi hoàn toàn ngộ ra sự việc.

Trong lúc hai ông cháu đang ngồi trong phòng thí nghiệm, ông ôn tồn bảo, “Ông không còn sống bao lâu nữa. Tại sao ông lại phải để ý đến những vấn đề về hệ thống thoát nước hay những sổ sách quá hạn nữa cơ chứ? Ông phải tiết kiệm và dùng khoản thời gian còn lại của mình một cách hợp lý nhất. Thật hối hận khi đến năm mươi tuổi ông mới nhận ra được điều này. Calpurnia à, cháu có thể làm được điều này sớm hơn, hãy hoạch định thời gian của mình một cách cẩn thận.”

“Vâng, thưa ông, cháu sẽ cố gắng hết sức ạ,” tôi đáp. Trong này chẳng có ghế cho khách nên tôi phải ngồi trên chiếc ghế gác chân xiêu vẹo, hình như là cái yên lạc đà thì phải. Nhìn nó chẳng giống mấy cái yên lạc đà thông thường, nó tỏa ra một thứ mùi rất lạ và phủ đầy lông nhỏ màu be giống lông chó Chihuahua nên tôi đoán nó là hàng thật. Tôi chưa bao giờ thấy nhàm chán khi ngắm những vật sưu tầm của ông nội: chiếc kính thiên văn nhỏ bằng đồng từ thời chiến; mấy ngăn tủ rộng và nông chứa những con thằn lằn, nhện và chuồn chuồn sấy khô xếp thành hàng; chiếc đồng hồ trang trí hình chim cu màu đen cứ mỗi 15 phút lại hót lên báo hiệu bằng âm thanh thô thiển, buồn cười. Một phù hiệu hoa hồng màu xanh mục nát, bên trên còn in lờ mờ dòng chữ “Bộ sưu tập đồ sộ tuyệt nhất, Hội chợ Fentress, 1877.” Một tập phong bì dày, mịn, giống như bằng da thuộc được niêm phong mấy dấu mộc bằng sáp đỏ cấp bởi Hiệp hội Địa lý Quốc tế. Kế đó là nàng tiên cá chạm khắc từ gỗ nâng trên mình chiếc tẩu thuốc. Đến cả bộ da gấu luôn ngoác to mồm (mỗi lần để chân vào đó tôi cũng lặng cả người đi không thốt lên được lời nào). Trong ngăn kéo được khóa lại nằm trên mấy quyển sách trên kệ là con ta-tu[1] nhồi bông, nó thật là một mẫu nhồi bông xấu nhất mà tôi từng thấy. Tôi tự hỏi vì sao ông vẫn giữ nó trong khi tất cả những mẫu vật còn lại của ông đều thuộc vào hàng cực phẩm?

“Ông nội à, sao ông vẫn giữ con ta-tu nhồi bông này vậy? Ông thừa sức mua một con khác đẹp hơn nhiều mà.”

“Đương nhiên là mua được, nhưng ông giữ con này làm kỉ niệm vì nó là mẫu vật có vú đầu tiên ông tự tay nhồi bông mà. Ông học kỹ năng này qua lớp hàm thụ[2], và ông khuyên rằng không nên học theo cách này. Nếu như cháu cảm thấy thích việc này thì hãy học hành và thực tập một cách nghiêm túc để trở thành chuyên gia. Có rất nhiều điều huyền ảo, tinh tế của nghệ thuật không thể đạt được nếu chỉ đơn thuần đọc qua sách vở.”

“Cháu không nghĩ là mình thích việc làm nhồi thú bông đâu ạ.” Tôi chõ mũi vào cái kệ để đầy những mẫu hóa thạch và những mẫu xương cũ kĩ.

“Một lựa chọn khôn ngoan đấy, chỉ nói đến cái mùi của nó thôi cũng đủ làm nản lòng những người mới thực tập rồi. Nhưng ông tự nhận thấy rằng mẫu nhồi bông thứ hai hoàn thiện hơn rất nhiều. Nó ổn đến mức ông đã gửi tặng người đàn ông vĩ đại đó để tỏ lòng ngưỡng mộ của mình,” ông bảo.

Tôi đang nhấc một mẫu hóa thạch bọ ba thùy[3] và không để tâm nghe lời ông nói lắm. Tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi cấu trúc của những đốt xương từng thuộc về con động vật biển thân mềm này.

“Ông ấy từng nghiên cứu về con ta-tu vùng Nam Mỹ nên ông nghĩ rằng ông ấy cũng sở hữu cả mẫu vật của vùng Bắc Mỹ nữa. Sau mấy con ta-tu, ông chuyển sang chú linh miêu Bắc Mỹ, bây giờ nhìn lại ông phải thừa nhận là mình đã đi quá đà. Việc tạo hình cho khuôn mặt của nó thật khó khăn, ông cố tạo lại gương mặt lúc nó gầm gừ khi mỗi khi bị làm phiền lúc còn sống nơi hoang dã, nhưng rốt cuộc thì con vật tội nghiệp nhìn có vẻ như đang cau có phụng phịu gì đấy.”

Con vật hóa thạch trên tay tôi đã bao nhiêu triệu tuổi rồi và đã từng lặn ngụp ở vùng biển cổ đại nào? Bản thân tôi còn chưa được chứng kiến biển lần nào; chỉ có thể cảm nhận đến những con sóng, gió lộng và nước biển xanh qua trí tưởng tượng của mình thôi.

“Dù sao đi nữa, cuối cùng ngài cũng gửi lại cho ông con vật đóng lọ làm quà cảm ơn, ông để trên kệ cạnh con ta-tu, nó là vật sở hữu có giá trị nhất của ông đấy.”

“Cái nào ông?” tôi rời mắt khỏi con ta-tu rồi ngước mặt lên hỏi.

“Con vật trong lọ trên kệ đó, cháu nhìn đi.”

Tôi ngắm con quái vật nằm trong lọ thủy tinh bọc da dày cộp, nó mang đầy những con mắt kì quái và hằng hà chân cẳng.

“Đó là con mực nang mà ngài đã đã thu thập được ở mũi Hảo Vọng.”

“Ai thu thập nó ạ?”

“Người mà ta đang nhắc tới là ngài Darwin.”

“Thật à, ông ấy gửi cho ông thật à?” tôi không thể tin được.

“Thật chứ sao không. Cả đời ông ấy hay đi thảo luận với rất nhiều nhà tự nhiên học trên toàn thế giới và cũng có trao đổi mẫu vật với vài người.”

“Ông đang đùa với cháu phải không.”

“Calpurnia à, ông không ‘đùa’ bao giờ cả. Ông và mẹ cháu cùng đồng quan điểm rằng việc dùng từ lóng là biểu hiện của tri thức thấp và vốn từ yếu kém.”

Tôi không thể tin nổi. Trong nhà tôi không những có sách của ngài Darwin mà còn có cả mẫu vật mà chính ông đã thu thập nữa. Tôi nhìn chăm chăm vào mẫu vật và cố tìm hiểu xem hàng loạt tay chân của nó là gì.

“Cái này là gì ông nhỉ?”

“Cháu nghĩ nó là gì?”

Mặt tôi sa sầm lại. “Ông nói cứ như mẹ vậy, mỗi khi cháu không biết đánh vần từ nào là mẹ đều bắt cháu tra từ điển ngay.’’

“Tốt, lại thêm một đồng quan điểm nữa.’’

Tôi tiến sát lại cái lọ, cố đọc mảnh giấy nhỏ treo trên cổ chai. Chữ viết trên đó thuộc kiểu cổ và đã phai gần hết. Tôi không thể đọc được gì nhưng cũng cảm thấy phấn khích vì nó là chữ viết tay của ngài Darwin.

“Cháu có thể lấy nó ra không? Nhồi nhét cả đống trong đấy khó nhìn quá.’’

“Nó được ngâm bằng rượu trong đó suốt 70 năm rồi. Ông sợ nếu mình lấy ra nó sẽ rã ra hết.’’

Tôi nhìn nó chăm chú. Đất liền? Biển? Hay trên không? Mặc dù có nhiều chi nhưng đều mềm như cao su và không đủ vững chắc để tải một trọng lượng nào cả nên chắc chắc nó phải thuộc loại bơi lội. Vậy là động vật biển. Nhưng nó lại không có vẩy. Làm sao nó có thể bơi mà không có vẩy nhỉ? Có nghi vấn rồi. Rồi tôi cũng chẳng thấy mang ở đâu. Lại thêm nghi vấn nữa. Mắt thì to như mấy cái bát quá khổ. Sao nó lại cần mắt to như vậy? Trả lời: để nhìn trong bóng tối, chắc là vậy rồi. Con vật này phải từng sống ở khu vực có ánh sáng yếu, nói cách khác là dưới đáy biển sâu.

Tôi kết lại, “Nó là một loài cá, sống gần đáy biển. Nhưng mà trông nó chẳng giống với một loại cá nào mà cháu từng thấy cả. Cháu không biết được nó di chuyển và hô hấp như thế nào nữa.’’

“Những gì cháu suy luận ra đều đúng cả. Thật ra rất khó để cháu đoán được thêm nữa vì đúng là nó bị nhồi nhét cả đống trong chiếc lọ đó mà. Nó là con mực nang, thuộc họ Sepiida, loài Sepia. Nó di chuyển bằng cách hút nước vào trong lớp biểu bì rồi nén ra ngoài từ cơ vòi hút. Mang của nó được giấu trong lớp biểu bì. Khi bị đe dọa bởi con vật ăn thịt, nó sẽ phun ra một đám mây mực màu nâu đen để trốn thoát. Chúng ta dùng lớp vỏ hóa vôi bên trong làm chất mài mòn. Chủ của mấy con chim săn mồi thường dùng nó để mài mỏ cho chúng.’’

Mọi thứ cuốn hút lấy tôi, một mảng lịch sử rất ư kì lạ. Tôi lặng lẽ đặt ngón tay mình lên chiếc lọ thủy tinh mát lạnh.

SAU ĐÓ TÔI KỂ cho Harry nghe về con quái vật nhốt trong lọ kì thú đó. Harry giật mình, rời mắt khỏi cuốn sách rồi hỏi, “Em vào trong thư viện rồi à?’’

“Vâng,’’ tôi đáp và nói thêm, “Ông nội mời em vào đấy chứ.’’

“Ồ, vậy à. Em có để ý chiếc tàu nằm trong chai không? Theo anh đó là vật thú vị nhất mặc dù chưa có cơ hội để quan sát hết tất cả mọi thứ của ông. Ông được Sở Cứu hỏa Tự nguyện tặng nhiều năm trước vì ông quyên góp tiền và mua xe bơm nước cho họ. Anh hi vọng rằng ông sẽ di chúc nó cho anh.’’ Harry nhìn tôi tò mò. “Có vẻ em đã dành nhiều thời gian cho ông nhỉ.’’

“Thỉnh thoảng thôi ạ.’’

“Em và ông nội nói gì với nhau?’’

Bất giác tôi cảm thấy mình phải cẩn trọng. Tôi chẳng lo lắng gì về Harry rồi, nhưng nếu lũ nhỏ biết được ông là người tìm ra những sự thật lạ lùng và lôi cuốn về trận chiến của thổ dân, những cây ăn sâu bọ khổng lồ, khinh khí cầu thì sao? Ông sẽ chẳng bao giờ là của riêng tôi nữa.

“Thì nói chuyện tầm phào thôi ạ,’’ tôi nói rồi chợt đỏ mặt. Thật sự tôi rất ghét phải che giấu sự thật với Harry. Anh lại tiếp tục đọc sách, tôi thơm lên má anh và chợt anh lơ đãng nắm tóc tôi. “Em vẫn là thú cưng của riêng anh phải không?’’

“Vâng ạ,’’ tôi khẳng định.

Tôi không nhận ra rằng những thành viên khác trong gia đình bắt đầu để ý việc tôi hay dành nhiều thời gian cho ông đến khi Jim Bowie có ý kiến, “Sao dạo này chị lại chơi với ông nhiều hơn em vậy, Callie?’’

“Đâu phải, J.B. Chị vẫn thường xuyên chơi với em mà. Hơn nữa, chị với ông không phải chơi đùa mà đang nghiên cứu Khoa học,’’ tôi đáp và chợt nhận ra mình đã phát biểu một cách quá trịnh trọng.

“Là gì hả chị?’’

“Là nghiên cứu về những sự vật xảy ra xung quanh mình và hiểu được chúng hoạt động ra sao.’’

“Em có thể tham gia không?’’

“Có lẽ khi em lớn bằng chị thì được.”

J.B. nghĩ một lúc rồi nói, “Em không thèm đâu. Ông đáng sợ lắm chị Callie ạ, ông hiếm khi cười và bốc mùi kì lắm.’’

Sự thật là từ người ông bốc ra mùi len, thuốc lá, băng phiến và bạc hà, đôi khi còn có mùi rượu nữa.

J.B. nói tiếp, “Ông chẳng vui vẻ gì cả. Freddy bạn em có một người ông rất dễ chịu. À, còn một người ông nữa đâu chị nhỉ? Chẳng phải mình có hai người ông sao? Freddy có hai, sao mình lại không có hai nhỉ?’’

“Người ông kia qua đời trước khi em được sinh ra. Ông bị mắc bệnh sốt Rickettsia và chết rồi.’’

“Ồ ra vậy.’’ ngẫm nghĩ một lát J.B. lại hỏi tiếp. “Vậy mình tìm thêm một người ông nữa được không?’’

“Không J.B. ạ. Ông là người sinh ra mẹ chúng mình, sau đó bị nhiễm bệnh sốt Rickettsia rồi qua đời.’’ J.B. có vẻ bối rối khi nghĩ về việc mẹ mình từng là một đứa trẻ.

“Thế sao mình lại không tìm được một người ông khác hả chị?’’

“Điều này khó giải thích lắm J.B. ạ, một ngày nào đó em sẽ hiểu thôi,’’ tôi đáp.

“Thôi được.’’ Mỗi khi tôi nói câu này, thay vì nhặng xị lên như Sul Ross, J.B. bao giờ cũng ngoan ngoãn chấp nhận số phận cả. Rồi J.B. dang tay ra đòi hôn.

“Người chị yêu quý nhất của em là ai nào?’’ tôi hỏi.

“Chị Callie Vee ạ.’’ Nó cười khúc khích.

“Ôi, J.B.,’’ tôi thì thầm vào mái tóc mềm mại như tơ của J.B., ngập tràn trong sự ngọt ngào của em mình.

“Gì vậy chị?’’

“Không có gì. Chị sẽ chơi với em thường xuyên hơn, được không nào?’’ tôi thật lòng bảo.

“Vâng ạ,”

Nhưng từ ngày hôm đó, tôi lại có quá nhiều việc để làm. Trong khi đang thả nổi mình trên sông, ngắm lên bầu trời, bất chợt một tia sáng lóe lên trong đầu và tôi chợt khao khát được hiểu về thế giới của cào cào. Ngay khi lồm cồm bò lên bờ tôi đã chuyển mình thành một nhà thám hiểm thực thụ, và thành quả đầu tiên là một thành viên khác trong bộ sưu tập kì lạ của mình sống ngay đầu kia của sảnh nhà. Đang có một kho tàng sống hiện hữu ngay trong nhà nhưng trừ tôi ra thì tất cả những anh em khác đều không phát hiện ra điều đó ở ông.

“CHÁU CÓ ĐI KHÔNG, Calpurnia?” ông gọi.

“Vâng, cháu đi ạ!” Tôi nhảy chân sáo xuống sảnh rồi vào thư viện, chiếc giỏ đựng cá vắt vẻo trên vai. Chiếc rọ bằng liễu gai cũ kĩ của ông, bên trong gần như chẳng còn tí mùi cá nào. Trong rọ là Sổ Tay đầy những ghi chép của tôi, mấy cái lọ để thu thập mẫu vật, một chiếc bánh sandwich phô mai, một chai nước chanh bịt nút cẩn thận, và một cuộn giấy sáp hồ đào.

“Hôm nay ông nghĩ chúng ta sẽ dùng tới kính hiển vi,” ông vừa nói vừa cẩn thận nhét nó vào túi. “Cái kính này tuy cũ rồi nhưng thấu kính vẫn còn trong suốt và hoạt động tốt chán. Ông đoán rằng ở trường cháu có nhiều cái mới hơn.”

Thật ra kính hiển vi lúc đấy là thứ quý hiếm và đắt tiền, ở trường làm gì có cái nào. Tôi dám cá rằng đây là cái kính hiển vi duy nhất trong vùng Austin và San Antonio.

“Ở trường cháu chẳng có cái nào đâu ông.”

Ông sững người. “Thật à? Ông chẳng hiểu nổi cái hệ thống giáo dục tân thời này nữa.”

“Cháu cũng vậy mà. Bọn cháu phải học may vá, đan len và thêu vải trang trí. Trong lớp học Phép cư xử, bọn cháu còn phải để cuốn sách lên đầu và đi khắp phòng nữa cơ.”

Ông bảo, “Ông thấy đọc sách bổ ích hơn rất nhiều.” Tôi phì cười, phải nói lại điều này cho Lula nghe thôi.

“Hôm nay ông cháu mình nghiên cứu gì ông nhỉ?” tôi hỏi.

“Mình sẽ quan sát nước hồ nuôi tảo. Van Leeuwenhoek[4] là người đầu tiên chứng kiến điều mà hôm nay cháu xem được thấy. Ông ấy từng là nhà buôn len, như ông từng là nhà buôn vải cô-tông vậy.” Ông cười bảo. “Đấy, để khích lệ cho những người tập sự, phải nói là những gì ông ấy thấy là không thể tưởng tượng được. À há, ông còn nhớ rõ trải nghiệm đầu tiên của mình, cứ như rơi qua thấu kính vào một thế giới hoàn toàn khác vậy đó. Cháu có đem Sổ Tay theo không? Sẽ có nhiều thứ để ghi chép đấy.”

“Dạ, sẵn sàng rồi ạ.’’

Chúng tôi đi về phía dòng sông. Trên đường đi, chúng tôi khuấy động một đàn hươu làm chúng lao về phía mấy bụi cây thấp và trong vòng hai giây ngắn ngủi chúng đã mất hút. Và hiển nhiên là hươu trở thành vấn đề bàn thảo, ông nói về chuỗi thức ăn, về thứ tự của từng loài trong tự nhiên, con nào sẽ ăn con nào.

Chúng tôi đi đến một con rạch nông nằm ở vị trí khuất, được bao quanh bởi một lớp rêu xanh dày. Trong không gian mát lạnh là mùi bùn và mục rữa bốc lên từ ao nước đọng. Bóng hai ông cháu phủ tới đâu là mấy con nòng nọc cứ nguẩy đuôi bơi theo hình dích dắc tránh xa tới đó; có mấy con vật kích cỡ to hơn đang vung vẩy bơi ngược dòng trốn bọn tôi, hình như là con rái cá hay chuột nước gì đó. Gần đó, một đôi nhạn đang chao lượn sát mặt nước tìm mồi.

Hai ông cháu đặt túi đeo vai xuống, ông lôi cả bộ kính hiển vi ra, lắp ráp phần thân và thấu kính, mỗi phần đều được để trong hộp bọc vải nhung tinh xảo. Ông chỉ cho tôi cách ráp từng cái một. “Cháu phải ráp như thế này này,” ông bảo. Chiếc ống bằng đồng thau mát lạnh và nặng trịch trong tay tôi. Tôi biết rằng mình đang được tin tưởng giao phó một vật rất quý báu. Sau đó ông đặt chiếc hộp xuống phiến đá bằng phẳng rồi để kính hiển vi lên trên.

“Nào,” ông đưa cho tôi hai mảnh kính mỏng và bảo, “chọn một giọt nước đi cháu.”

“Giọt nào cũng được hả ông?” tôi hỏi.

“Ừ, giọt nào cũng được cả.”

“Nhưng có quá nhiều nước để chọn mà ông,” tôi đáp.

Ông mỉm cười. “Lấy nước ở gần bờ chỗ có nhiều thực vật màu xanh kia kìa, cháu sẽ thấy nhiều điều thú vị hơn.”

Tôi cúi người nhúng tay xuống nước, lấy một giọt nước lên rồi thả nó xuống mảnh kính. Ông chỉ tôi nhỏ thêm một giọt lên trên nữa.

“Bây giờ để nó lên trên bệ soi đi,” ông bảo. “Đúng rồi đấy. Việc khó nhất là xoay gương phản xạ đến góc bắt được ánh sáng tốt nhất. Cháu cần đủ ánh sáng để làm nổi bật mẫu vật nhưng không quá sáng sẽ làm chói lòa hết các hình ảnh chi tiết.”

Tôi sờ sẫm cái gương phản xạ và đưa mắt vào ống ngắm, tin chắc rằng một điều gì đó rất quan trọng sắp hiện ra. Nhưng tất cả những gì tôi thấy được chỉ là một màn sương xám mờ nhạt, thật thất vọng quá.

“Ông ơi... cháu chẳng thấy gì cả.”

“Này, vặn nút chỉnh độ nét đi” - ông cầm lấy tay tôi - “vặn cho nó từ từ đi xa ra. Đừng nhìn lên. Vừa nhìn vừa vặn đi cháu.”

Thật là một bài tập làm tôi phát ngượng.

“Cháu có đủ ánh sáng chưa?” ông bảo. “Đừng quên chỉnh gương phản xạ đấy nhé.”

Và rồi nó cũng xuất hiện. Một thế giới lúc nhúc những sinh vật bơi loằng ngoằng đập vào mắt tôi làm hết cả hồn.

“Oái!” Tôi thét to và nhảy dựng lên, tí nữa là làm lật nhào chiếc kính hiển vi. “Eo ôi,” tôi vừa làu bàu vừa giữ cho chiếc kính thăng bằng lại rồi nhìn ông.

“Vậy là cháu đã thấy được những sinh vật đầu tiên qua kính hiển vi rồi phải không,” ông mỉm cười bảo. “Nhà hiền triết Hy Lạp cổ Plato đã từng phát biểu rằng khoa học bắt nguồn từ sự kinh ngạc mà.”

“Lạy Chúa tôi,” tôi nói rồi nheo mắt nhìn lại vào thấu kính. Có mấy con gì đó đầy tóc phóng ngang qua; một con gì đó đập đuôi vụt lại; một quả cầu gai nhìn như quả chùy thời trung cổ lăn xuống; những chiếc bóng mờ nhạt mỏng manh thoắt ẩn thoắt hiện trong tầm quan sát của thấu kính. Mọi thứ thật hỗn độn, hoang dại,... và kì diệu nhất mà tôi được thấy từ trước tới giờ.

“Đây là những thứ mà cháu thường đụng phải khi tắm sông đây sao?” tôi thốt lên, ước rằng mình chưa từng thấy chúng. “Những thứ này gì vậy ông?”

“Đó là những gì chúng ta tìm thấy. Có lẽ cháu nên phác họa lại một vài con để dễ phân biệt sau này khi đọc về chúng.”

“Phác họa mấy con này hả ông? Nhưng chúng di chuyển nhanh quá.”

“Đúng, vậy mới là thử thách chứ. Này, cầm bút chì đi cháu.”

Tôi ngồi cạnh chiếc kính, hì hục nhìn rồi vẽ, vẽ rồi lại nhìn bằng mọi khả năng của mình. Một lúc sau, tôi nhận thấy có một số sinh vật quen thuộc xuất hiện lại làm cho việc phác họa lại chúng trở nên dễ dàng hơn. Ông ngân nga một điệu nhạc của Vivaldi và lăng xăng bên cạnh với chiếc lưới biến dạng của mình. Tôi vừa gặm nhấm cán bút chì vừa nhăn nhó với bức vẽ, trông nó chẳng khác nào một cục tròn tròn nham nhở vắt ngang tờ giấy vậy.

“Cháu rất tiếc phải thừa nhận rằng bức vẽ này chẳng đẹp tí nào cả ông ạ,” tôi đưa cho ông xem.

“Nếu nói về phác họa thì nó hoàn toàn đầy đủ phẩm chất. Nhưng điều quan trọng hơn là nó có đủ để chúng ta so sánh và nhận ra chúng trong bản đồ sinh vật trong phòng thí nghiệm hay không? Nếu như được thì cháu vẽ như vậy là ổn rồi.”

“Cháu nghĩ là cháu sẽ nhận ra được, nhưng còn việc có dám xuống sông bơi lội nữa hay không thì không biết ạ.” Tôi đáp.

“Mấy sinh vật này đều vô hại cả Calpurnia à, và chúng đã tồn tại dưới sông bao nhiêu niên kỷ trước khi cháu xuất hiện mà. Thêm vào đó, cháu cũng hãy tự an ủi rằng khi cháu tắm sông làm động nước thì bọn chúng cũng đâu thích thú gì phải không.”

“Vâng thưa ông,” tôi gượng gạo đáp nhưng trong lòng vẫn e ngại.

Chợt bụi cây sột soạt và con chó Ajax của ông phóng ra, tỏ vẻ mãn nguyện khi tìm thấy chúng tôi. Chắc chắn là nó đang đi tìm con chó săn gấu trúc đốm xanh tên Matilda của ông Gates để ve vãn rồi, nàng cẩu này hay đổi từ giọng trầm sang giọng tru inh ỏi cả thị trấn. Ajax mừng hết ông đến tôi, dụi mõm vào hai ông cháu để được vỗ đầu rồi nhảy qua khu nước cạn và sục sạo mảng nước lợ. Chợt một chú rùa to cỡ nắm tay chui đầu ra từ khúc gỗ mục làm Ajax luýnh quýnh chạy theo. Nó cũng thường thích đuổi bắt rùa và những con thú nhỏ dưới nước nhưng tôi chưa bao giờ thấy nó bắt con nào cả. Có vẻ nó là một chuyên gia nghiên cứu về loài chim thì đúng hơn. Nhưng lần này thật ngạc nhiên khi thấy nó vục hết cả đầu xuống nước rồi bối rối ngóc lên với một chú rùa cũng đang hốt hoảng trong mõm.

“Ajax, mày làm gì vậy? Thôi ngay và để nó lại chỗ cũ đi.” Tôi bảo.

Nhưng nó vẫn nhảy cỡn về phía hai ông cháu, tỏ vẻ hài lòng và cẩn trọng đặt chú rùa xuống dưới chân chúng tôi trước khi lắc mình làm nước văng tung tóe. Xong nó ngồi xuống và nhìn tôi chờ đợi.

“Nó nghĩ rằng vừa hoàn thành nhiệm vụ đấy. Cháu nên khen nó đi, không thì thành quả huấn luyện của bố cháu sẽ trở thành công cốc đấy,” ông bảo.

“Ôi, Ajax ngoan, Ajax giỏi.” Tôi vỗ nhẹ lên đầu nó. “Chúng ta phải làm gì với con rùa này đây? Travis đang nuôi một con trong phòng rồi, chắc chắn mẹ sẽ không chịu đựng thêm một con nào nữa đâu. Chắc ông phải giữ vòng cổ nó để cháu thả con rùa này đi thôi.”

“Ông sẽ dẫn nó ra bờ sông,” ông bảo. “Đừng để nó thấy cháu thả con rùa đi, nếu không nó sẽ tự nghi ngờ về hành động của bản thân và rồi sẽ từ từ mất nhuệ khí đi đấy.” Nói rồi ông dẫn Ajax đi, đến khi cả hai khuất bóng thì tôi bắt đầu quan sát chú rùa. Tại sao nó lại để cho một con vật trên cạn to lớn và ngu ngốc bắt đi như vậy? Nó già rồi ư? Hay nó đang bị ốm? Tôi chẳng thấy nó có vấn đề gì cả, nhìn nó cũng giống như bao con rùa khác trên sông mà. Chắc đơn giản là nó ngu ngốc thôi. Hay là nó thà chết để không phải sản sinh ra thêm những thế hệ rùa con ngu ngốc sau này nữa nhỉ. Nhưng muộn rồi, tôi đã can thiệp và dĩ nhiên là phải chịu trách nhiệm cho sự an nguy của nó. Tôi chợt vu vơ nghĩ về bản thân mình sẽ xử trí ra sao để tồn tại trong trường hợp bất khả kháng như vậy, rồi thả chú rùa xuống nước và nó biến mất tăm ngay trong chớp mắt.

“Được rồi, ông thả nó ra đi.” Tôi ngoảnh lại thét to.

Tôi leo ra bờ sông theo sau họ, lên đến nơi thì gặp Ajax, nó ngửi ngửi tôi để tìm chú rùa. “Nó đi rồi,” tôi vừa xòe hai bàn tay trắng ra vừa bảo. “Thấy rõ chưa?” Tôi thề rằng Ajax hiểu tôi nói gì vì tai nó cụp xuống và quay mặt đi chỗ khác.

“Nó bò đi rồi Ajax ạ, tao xin lỗi mà. Lại đây và ngoan nào.” Tôi làm xù lông nó lên và cù vào hai bên sườn như nó vẫn thường thích mặc dù biết rằng sẽ dính mùi ẩm của chó đến hết ngày. “Nào, chó ngoan của chị, ngoan nhé.” Có vẻ nó vui lên được đôi chút và đủ vị tha để đi cùng tôi đuổi theo ông.

Ajax tìm thấy một cái hang rất to, lâu rồi mới thấy một cái như vậy. Nhìn và ngửi ra thì có vẻ là hang con lửng, loài đang khan hiếm dần trên thế giới. Ajax tự đùa nghịch bằng cách dụi mõm sâu vào trong rồi hít lấy hít để rất phấn khích.

“Ông thấy cái gì đằng kia vậy?” tôi kêu vọng sang phía ông, ông đang thích thú nhìn chăm chú vào một cây thực vật chẳng hay ho gì cả. “Đi nào Ajax.” Tôi phải lôi mạnh vòng cổ để kéo Ajax ra, tránh cho nó bị mất chóp mũi vì một cú quất thình lình của gia chủ khét tiếng cáu kỉnh của cái hang này.

“Đậu tằm[5],” ông bảo. “Trông thì giống cây đậu tằm lông nhưng hình như đã bị biến dị rồi. Nhìn cái lá phụ lạ lùng ở dưới gốc kìa.” Ông ngắt một ít cuống rồi đưa cho tôi. “Cất nó đi cháu.”

Mẫu thực vật này chán phèo, nhưng tôi vẫn cất nó vào lọ và chú thích ĐẬU TẰM LÔNG (BIẾN DZỊ?).

Ông bảo, “ông còn tìm thấy một con sâu bướm lông mịn ở đây nữa này. Cháu từng nuôi một con như vậy bao giờ chưa?” Nói rồi ông giơ nhánh cây lên, trên đó một chú sâu bướm to và nhiều lông nhất mà tôi từng thấy, dài khoảng 2 inch. (Hay chính xác hơn là dài 5cm. Ông từng bảo tôi một nhà khoa học thực thụ phải dùng hệ thống đo lường lục địa của Pháp, và sẽ sớm được ứng dụng rộng rãi ở Mỹ). Con sâu bướm nằm trong lớp lông dày nhìn giống một tấm vải nhung và tạo ra cảm giác gọi mời như lông mèo, nhưng tôi biết rõ rằng không nên động vào nó. Từ trước đến nay tôi đều được bảo rằng lông sâu bướm chích rất đau. Tôi chỉ không biết là rất đau hay đau đớn cùng cực nữa.

“Nó thuộc loài nào vậy ông?” tôi hỏi.

“Ông cũng không chắc nữa. Nhìn bằng mắt thường thì chúng đều giống nhau cả. Chỉ có thể biết rõ khi nó thành bướm thôi.”

“Vậy nó chích đau đến cỡ nào hả ông?”

Ông bảo, “Ông nghĩ cháu có thể tự chạm vào thử. Điều này cũng khá thú vị: Cháu dám hi sinh đến đâu khi nhân danh là một nhà khoa học? Cũng là một điều đáng suy xét đấy.”

Ừm, thật ra tôi chỉ cần cho mấy cậu em một đồng rồi xui chúng làm thay tôi. Nhưng nghĩ về cái giá phải trả từ sự trừng phạt của mẹ làm tôi chùn bước, chắc chắn là không đáng rồi.

“Đem nó về nhà đi ông, cháu sẽ nuôi nó và đặt tên nó là Petey,” tôi bảo.

“Calpurnia, không nên đặt tên cho mẫu vật thí nghiệm của mình đâu.”

“Sao vậy ông?” tôi vừa hỏi vừa bỏ Petey và nhánh cây của nó vào lọ Mason lớn nhất, loại một lít, có đục lỗ trên nắp.

“Nó sẽ làm hỏng độ khách quan của thực nghiệm.”

“Cháu không hiểu lắm ông ạ!”

Ông không để ý lời tôi nói mà chăm chú vào dấu chân của mấy con vật. “Hình như là dấu chân cáo,” ông lẩm bẩm. “Nhìn có vẻ còn có mấy con mèo con nữa. Thật thú vị. Ông nghĩ chúng bị xơi hết rồi.”

Khi về đến nhà, tôi thấy Sam Houston và Lamar bắt được một con cá trê, đặt lên cân của xưởng tỉa hột bông, nó nặng hơn 20kg. Cái miệng vĩ đại và nhăn nhở của nó dính chặt mấy sợi râu ngoe nguẩy to như cây bút chì. Trông nó thật đáng sợ. Nhưng con to nhất của giống cá này cũng không chống trả dữ dội lắm khi cắn câu nên mấy ông anh của tôi chẳng thấy vất vả. Thử thách lớn nhất là làm sao kéo nó lên bờ và lôi về nhà mà không bị mấy cái ngạnh đầy nọc độc chích phải.

Tối đó nhà tôi chiên xù khứa cá lớn, phần thịt trắng phau vẫn còn vương vấn chút mùi bùn tanh nhưng có vẻ chẳng ai để ý cả. Còn tôi thì chẳng muốn ăn và chẳng muốn nhìn thấy nó. Nói về kích thước thì nó to bằng J.B. ấy chứ. Nó to đến nỗi có thể nuốt chửng cả cái chân của tôi trong khi tôi thì suốt ngày bơi lội trên dòng sông ấy. Cứ thử nghĩ đến lúc nó cắn chặt và lôi tôi xuống đáy rồi giữ ở đó quá lâu hay chỉ cần vừa đủ lâu, tùy thuộc là nhìn từ phía nó hay phía tôi mà thôi. Gia đình tôi sẽ tìm thấy tôi sau đó với mái tóc bù xù như nàng Ophelia[6] tội nghiệp. Hay họ chẳng thể tìm thấy phần cơ thể nào đủ lớn để làm đám tang mà chỉ còn cái áo lót thôi. Có ai đời đi làm đám tang cho cái áo lót không nhỉ? Chắc là không rồi. Còn một cái chi thì sao nhỉ? Chẳng phải cánh tay của tướng Jackson[7] cũng được cử hành tang lễ long trọng đấy sao? Hay cái đầu? Tôi nghĩ cái đầu là ổn nhất.

Đến đó thì tôi thấy rằng mình đã phân tích vấn đề đầy đủ rồi và cố gắng không nghĩ tới nó nữa. Nhưng vài tháng sau, mỗi lần xuống sông tôi lại nghĩ đến một bên là con thủy quái đang rình rập chờ chực xâu xé tôi, một bên là lũ sinh vật siêu vi vùng đầm lầy kia đang âm thầm chui vào trong tôi. Thật tiếc khi phải thừa nhận rằng đôi khi kiến thức lại làm hỏng cả ngày hay ít nhất là làm tăm tối đi một ngày của bạn.

❀ ❀ ❀

[1] Loài thú có vú thuộc họ Dasypodidae ở miền nam Bắc Mỹ và Nam Mỹ.

[2] Lớp học mà thầy và trò chỉ trao đổi qua thư từ.

[3] Trilobite - bọ ba thùy - là một loại động sinh biển đã bị tuyệt chủng.

[4] Antonie Philips van Leeuwenhoek (1632 -1723) là một thương gia, một nhà khoa học người Hà Lan. Ông được coi là cha đẻ của ngành vi sinh vật học và được coi là nhà vi sinh vật học đầu tiên trên thế giới.

[5] Một cây thuộc họ đậu, thường được dùng làm thức ăn cho gia súc.

[6] Ophelia - nhân vật trong vở kịch Hamlet của William Shakespeare - là một nữ quý tộc Đan Mạch, là vợ chưa cưới của hoàng tử Hamlet. Trong thời gian Hamlet giả điên để tìm ra bí mật về cái chết của cha mình, Ophelia tuyệt vọng bỏ đi lang thang và bị chết đuối.

[7] Thomas Jonathan “Stonewall” Jackson (1824 - 1863) là một trong những tướng chỉ huy tài giỏi nhất của quân Liên minh miền Nam trong Nội chiến Hoa Kỳ.

Nguyên tác: The Evolution of Calpurnia Tate Người dịch: Lâm Thanh Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.