Ba Bóng Đen

Lượt đọc: 215 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

- Được rồi - Milo nói. Chúng tôi đang ngồi tại phòng thẩm vấn ở Sở cảnh sát miền Tây. Các bức tường được sơn màu xanh lá cây và được đặt gương một chiều. Một chiếc micro treo lơ lửng trên trần nhà. Các đồ đạc trong phòng gồm có một cái bàn thép màu đen và ba cái ghế gấp bằng kim loại. Căn phòng ngập mùi ôi thiu của mồ hôi, sự dối trá và sợ hãi, một thứ mùi phát ra do sự mất đi phẩm giá con người.

Anh đã mở mấy cái cặp tài liệu ở trên bàn ra và vung tay lấy cái đầu tiên.

- Đây là 9 kẻ tình nghi mà anh đã xếp riêng ra. Số một, Rex Allen Camblin, bị tống giam tại Soledad vì tội bạo lực và hành hung người khác - Anh bỏ tập hồ sơ rơi bịch xuống nền nhà - Thứ hai là Peter Lewis Jefferson, làm việc tại một trại chăn nuôi gia súc ở Wyoming. Lúc xảy ra án mạng, anh ta đang có mặt tại trại chăn nuôi, đã được chứng nhận là đúng.

- Của đáng tội.

- Đó là một thực tế. Tay này có vẻ đáng ngờ. Thứ ba, Darwin Ward - anh chắc sẽ không tin đâu - đang học trường luật ở Đại học bang Pennsylvania.

- Một luật sư bị tâm thần - không hẳn đáng ngạc nhiên lắm. Milo cười khùng khục và tiếp tục lấy tập hồ sơ nữa.

- Thứ tư, Leonard Jay Helsinger, đang làm xây dựng tại đường ống dẫn dầu Alaska. Sự có mặt của anh ta tại vị trí làm việc lúc án mạng xảy ra đã được sở cảnh sát Juneau khẳng định. Năm, Michael Penn, sinh viên Đại học tổng hợp California, Northridge. Chúng ta sắp thấm vấn người này - Anh để hồ sơ của Penn sang một bên "Sáu, Lance Arthur Shattuck, đầu bếp chuyên nấu các món ăn nhanh tại tàu du lịch Helena của hãng Cunard. Lúc xảy ra án mạng, cảnh sát bảo vệ bờ biển đã khẳng định anh ta đang trên tàu tại vùng biển Aegean. Bảy là Maurice Bruno, đại diện thương mại của hãng phát hành Presto Instant Print ở Burbank - cũng là người chúng ta sẽ thẩm vấn - Anh đặt hồ sơ của Bruno lên trên của Penn.

- Thứ tám là Roy Longstreth, dược sỹ của công ty Thrifty Drug, chi nhánh tại Beverly Hills. Cũng là người sẽ được thẩm vấn. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là Gerard Paul Mendenhall, thượng sỹ, quân đội Mỹ đóng quân tại Tyler, bang Texas. Sự có mặt của anh ta tại quân ngũ khi án mạng xảy ra đã được chứng nhận.

Beverly Hills gần hơn Northridge và Burbank, vì vậy chúng tôi tới công ty Thrifty Drug trước.. Cửa hàng chi nhánh tại Beverly Hills của công ty này hoá ra lại là một nhà hộp được xây dựng theo kiểu gạch và kính gương kết hợp nằm trên đường Canon Drive ngay phía Bắc của Wilshỉre. Nó nằm cùng dãy phố với các cửa hàng quần áo thời trang và một cửa hàng bán kem của hãng Haagen Dasz.

Milo lén giơ cái thẻ cảnh sát ra cho cô gái ngồi ở quầy bán rượu và chỉ mấy giây sau đã gặp được ông giám đốc, người đàn ông da đen trung tuổi. Giám đốc lo lắng và muốn biết ngay liệu có phải Longstreth đã làm điều gì đó sai phạm không. Milo không nói thẳng theo đúng phong cách kinh điển của một cảnh sát: 

- Chúng tôi chỉ muốn hỏi anh ta một vài câu thôi.

Tình huống trước mặt làm tôi phải khó khăn lắm mới nhịn được cười, nhưng câu trả lời của Milo dường như làm hài lòng vị giám đốc.

- Ngay bây giờ thì cậu ta không có ở đây. Cậu ta đến đây vào lúc 2 giờ 30 và làm ca đêm.

- Chúng tôi sẽ trở lại. Xin ông đừng nói cho cậu ta biết là chúng tôi đã tới đây.

Milo đưa cho vị giám đốc cái danh thiếp. Khi chúng tôi rời khỏi cửa hàng, ông ta xem xét nó như xem một cái bản đồ dẫn tới kho báu bí mật.

Chuyến đi tới Northridge kéo dài nửa giờ theo xa lộ Venture về phía Tây. Khi chúng tôi tới được khuôn viên trường Đại học tổng hợp California, chúng tôi tiến thẳng tới phòng đăng ký. Milo xin được một bản thời khoá biểu lớp học của Michael Penn. Mang theo cái đó cùng với thẻ cảnh sát, 20 phút sau chúng tôi đã tìm được Michael Penn, đang dạo cùng với một cô bạn gái qua một vùng tam giác rộng trồng cỏ.

- Có phải anh là Penn?

- Các ông hỏi tôi có việc gì?

Anh ta khá điển trai, cao vừa tầm, vai rộng, chân dài. Bộ tóc màu hơi nâu cắt ngắn theo quy định của trường. Anh ta mặc chiếc sơ-mi Izod màu xanh nhạt và quần bò xanh da trời, chân đi đôi giày rẻ tiền không tất. Theo hồ sơ ghi, anh ta khoảng 26 tuổi, nhưng nhìn trẻ hơn đến 5 tuổi. Anh ta có một khuôn mặt tươi tắn, không có nếp nhăn, kiểu mặt của một người Mỹ chuẩn mực. Trông bề ngoài không thể nói rằng anh ta là kẻ đã dùng một con Pontiac Firebird để cán người.

- Cảnh sát đây - Milo lại giơ thẻ cho anh ta - Chúng tôi cần gặp anh mấy phút!

- Về chuyện gì? - Đôi mắt màu nâu lục nhíu lại, miệng mím chặt.

- Chúng tôi muốn nói chuyện riêng với anh.

Penn nhìn cô gái. Cô ta còn trẻ, chỉ khoảng 19 tuổi là cùng, hơi lùn, da đen và có bộ tóc tém kiểu Dorothy Hamill.

- Chờ anh một phút nhé, Julie - Cậu ta hôn cô gái đánh chụt một cái vào cằm.

- Sao thế anh Mike...?

- Chờ anh một phút thôi mà.

Chúng tôi để cô gái đứng đó và bước sang một khu sân bê tông có những chiếc bàn và ghế đá. Sinh viên qua lại tấp nập. Không có mấy ai đứng lại cả. Đây là khu trường học của những người đi làm. Nhiều sinh viên làm thêm ngoài giờ và cố chen vào các lớp giữa những khoảng thời gian trống của họ. Đây là nơi lý tưởng cho ai đó muốn kiếm một tấm bằng cử nhân về khoa học máy tính hay quản trị kinh doanh, thương mại, chứng chỉ sư phạm hay thạc sỹ kế toán. Nơi này hoàn toàn không thích hợp cho những ai muốn vui chơi hay tranh luận, trao đổi tri thức một cách nhàn hạ.

Michael Penn có vẻ giận dữ song cố gắng che đậy:

- Các ông muốn gì?

- Lần cuối cùng anh gặp bác sỹ Morton Handler là vào khi nào?

Cậu ta hất đầu về phía sau và cười rộ. Tiếng cười trông hoãng nghe bực mình.

- Lão chết tiệt ấy à? Tôi đọc báo thấy bảo lão ta đã chết rồi. Không sai chút nào đâu.

- Anh gặp ông ta lần cuối cùng khi nào?

Cậu ta cười mãn nguyện.

- Thưa ngài sỹ quan cảnh sát - Cậu ta nói như thể muốn nhục mạ Milo - Lần cuối cùng là mấy năm trước. Khi đó tôi đang điều trị.

- Phải chăng anh không coi ông ấy vào đâu?

- Handler ư? Lão ta là một bác sỹ thần kinh - Cậu ta nói như thể đó đã là một lời giải thích đầy đủ.

- Nghĩa là anh không coi trọng các bác sỹ tâm thần phải không?

Penn giơ ngửa hai bàn tay ra phân bua:

- Này, nghe này. Chuyện đó là một sự nhầm lẫn chết người các ông có biết không. Tôi chỉ mất lái chiếc xe của mình rồi bị một thằng đần mắc chứng hoang tưởng vu cho là tôi cố ý giết nó. Thế là họ ập vào bắt giữ tôi, rồi vội vàng kết tội tôi. Sau đó họ đề nghị sẵn sàng cho tôi hưởng án treo nếu tôi tới một bác sỹ tâm thần để điều trị. Rồi tôi bị ông ta thử bằng những trò rác rưởi ấy.

Những trò rác rưởi mà cậu ta nói bao gồm phép thử tính cách nhiều giai đoạn Minnesota và một vài các phép chiếu. Mặc dù chưa phải là hoàn hảo nhưng các phép thử này cũng đáng tin cậy để đánh giá một người như Penn. Tôi đã đọc các hồ sơ về phép thử tính cách nhiều giai đoạn của cậu ta, chỗ nào cũng thấy biểu hiện bệnh lý.

- Anh không thích bác sỹ Handler phải không?

- Các ông đừng có mớm lời - Cậu ta hạ giọng, hai con mắt đảo qua đảo lại vẻ bồn chồn lo lắng. Đằng sau khuôn mặt điển trai là một cái gì đó đen tối và nguy hiểm. Handler đã không hề chẩn đoán sai bệnh cho con người này.

- Nghĩa là anh thích ông ta? - Milo tiếp tục vờn cậu ta.

- Tôi không thích lão ta hoặc có thể nói là ghét lão. Tôi không đem lại cho lão ta chút ích lợi nào. Tôi không bị điên và tôi không giết lão.

- Vậy anh nói xem đêm xảy ra án mạng anh đang ở đâu?

- Đó là khi nào?

Milo nói cho cậu ta biết ngày giờ cụ thể.

Penn bẻ các đốt ngón tay và nhìn xa xăm qua phía chúng tôi như thể đang chú mục vào một mục tiêu ở xa. 

- Tất nhiên rồi. Cả đêm đó tôi ở bên cạnh bạn gái tôi.

- Juht phải không?

Penn cười:

- Cô ta ư? Không đâu. Tôi có hẳn một người phụ nữ đã trưởng thành cơ ngài sỹ quan ạ. Một người phụ nữ thực thụ. - Đôi mày cậu ta nhíu lại, nét mặt đang từ dương dương tự đắc chuyển sang lo sợ:

- Các ông sẽ phải nói chuyện với cô ta sao?

Milo gật đầu trả lời.

- Thế thì hỏng bét cho tôi rồi còn gì.

- Này Mike, điều này thật tệ đấy.

Cậu ta ném cho Milo một cái nhìn hằn học, rồi lại chuyển thành ánh mắt ôn hòa ngây thơ. Cậu ta có thể làm cho nét mặt biến đổi như tráo bài.

- Này, ngài Sỹ quan, tất cả chuyện này báo hại tôi quá. Tôi đang có một công việc làm thêm, đang đi học. Sáu tháng nữa là tôi có bằng rồi. Tôi không muốn bi hỏng hết chỉ vì tôi có tên trong hồ sơ của Handler.

Cậu ta nói vẻ thực thà và trong trắng như Wally đang hát bài Leave it to Beaver.

- Chúng tôi phải xác minh chứng cứ ngoại phạm của anh, Mike ạ.

- Được rồi, được rồi. Các ông cứ việc. Nhưng xin các ông đừng nói cho cô ấy biết quá nhiều chuyện, liệu có được chăng? Cứ nói chung chung thôi nhé.

Nghĩa là cậu ta muốn chúng tôi giúp cậu ta lừa dối người khác đấy.

- Yên tâm đi, Mike (Michael) - Milo rút bút chì ra và gõ nhẹ vào môi.

- Sonya Magaxy. Cô ấy có một cửa hàng quần áo trẻ em tại Trung tâm mua bán Oro ở Encino. 

- Thế anh có giữ số điện thoại của cô ấy không? Milo nhẹ nhàng hỏi. Cậu ta cho Milo số điện thoại.

- Chúng tôi sẽ gọi điện cho cô ấy. Cậu không muốn gọi cho cô ấy trước sao? Chúng tôi quý trọng sự chủ động - Milo cất bút chì và gấp cuốn sổ ghi chép lại – Thôi, giờ thì chúc vui vẻ.

Penn hết nhìn tôi lại nhìn sang Milo rồi lại nhìn tôi như thể tìm kiếm một đồng minh. Sau rồi, cậu ta cũng đứng dậy và cất những bước dài mạnh mẽ.

- À này. Mike! - Milo gọi.

Penn quay đầu lại.

- Thế anh sắp được lấy bằng đại học vô lĩnh vực gì?

- Về marketing.

***

Lúc rời trường đại học chúng tôi còn nhìn thấy cậu ta đang rảo bước cùng vói Julie. Đầu của cô gái đặt lên vai cậu ta. Cậu ta luồn cánh tay ôm eo cô gái, mỉm cười với cô và họ nói chuyện nhanh.

Khi ngồi được vào vị trí lái, Milo hỏi:

- Anh nghĩ sao?

- Tôi nghĩ trong vụ này cậu ta vô tội, nhưng tôi cá với anh rằng cậu ta đang làm một vài trò bẩn thỉu. Khi biết được mục đích chuyến viếng thăm của chúng ta, cậu ta đã thực sự bớt đi căng thẳng.

Milo gật đầu tán đồng:

-Tôi đồng ý với anh. Nhưng kệ, đó là chuyện đau đầu của người khác rồi.

Chúng tôi trở lại xa lộ và đi về hướng Đông, vào thành phố Sherman Oaks, ghé ăn trưa tại một quán ăn nhỏ của Pháp ở thị trấn Ventura cạnh viện Woodman. Milo sử dụng điện thoại công cộng gọi cho Sonya Magary. Gọi xong, anh trở lại bàn, lắc đầu. 

- Cô ta yêu hắn - Anh bắt chước giọng của một người Hungary - Cô ta luôn miệng: “Anh ấy, anh ấy, tôi hi vọng anh ấy không có chuyện gì”. Cô ta đã xác nhận hắn ở cùng với cô ta vào cái đêm định mệnh ấy. Cô ta còn tỏ vẻ tự hào nữa chứ. Chút nữa là cô ta còn nói luôn cho tôi về chuyện giao hoan hôm đó của cô ta với hắn nữa đấy - có cả ảnh màu hẳn hoi.

Anh lắc đầu và vùi mặt vào đĩa trai hấp.

Chúng tôi chộp được Roy Longstreth khi anh ta ra khỏi chiếc Toyota đậu tại bãi đậu xe của công ty Thrifty. Anh ta lùn và có dáng vẻ yếu ớt, mắt màu xanh ươn ướt và có cái cằm thiếu chất dinh dưỡng. Hói sớm chỉ còn một chút tóc ở hai bên đầu nên anh ta để cho nó mọc dài ra che kín cả hai tai. Vì vậy, mới nhìn người ta có cảm giác anh ta là một đạo sỹ đã ngồi thiền quá lâu quên cả việc chải chuốt cho bản thân. Một dải ria mép lưa thưa mọc ngang môi trên của anh ta. Anh ta không có cái vẻ ngoài bất khuất như Penn nhưng ánh mắt của hai người bọn họ đều hốt hốt hoảng hoảng như nhau.

- Các ông cần gì ở tôi? - Giọng anh ta rít lên the thé sau khi Milo giơ cho xem cái thẻ cảnh sát. Anh ta nhìn đồng hồ.

Khi Milo nói cho anh ta biết ý định của chúng tôi thì bộ dạng anh như sắp khóc. Một sự bối rối ít thấy ở một kẻ được xem là tâm thần. Trừ phi đây là một màn kịch của anh ta. Không ai có thể biết được những trò lừa gạt nào mà những gã như anh ta có thể nghĩ ra khi cần thiết.

- Khi tôi đọc được trên báo tin về cái chết của lão ta là đã biết các ông sẽ đến tìm tôi rồi - Cái ria mép lún phún rung lên như một cành cây khô trước bão. 

- Sao anh lại nghĩ chúng tôi sẽ đến tìm anh, hả anh Roy?

- Bởi vì những gì mà lão ấy đã nói về tôi. Lão bảo với mẹ tôi rằng tôi là một kẻ tâm thần. Lão còn bảo bà đừng tin tưởng vào tôi. Có lẽ tôi đã bị liệt vào một loại danh sách nào đó rồi cũng nên, đúng không?

- Anh cho chúng tôi biết anh đang ở đâu khi vụ giết người xảy ra?

- Vâng. Đó là điều đầu tiên tôi nghĩ đến khi đọc được tin về cái chết của lão ta, rằng họ sẽ đến và hỏi tôi về điều này. Tôi đương nhiên biết được nơi tôi đang ở lúc xảy ra việc đó. Tôi còn viết ra giấy hẳn hoi, viết một bản ghi nhớ để cho riêng tôi rằng: “Này Roy, mày đang ở nhà thờ lúc đó đấy. Vì vậy, khi họ đến hỏi mày, mày sẽ biết chính xác mày đã ở đâu vào lúc đó.”

Anh ta có thể sẽ còn huyên thuyên kể tiếp được thêm hai ngày nữa chuyện chuẩn bị của anh ta thế nào, nhưng Milo cắt lời:

- Nhà thờ ư? Phải chăng anh là người theo đạo? 

Longstreth cười rộ lên để cố xua đi sự hoảng loạn:

- Không, không. Không phải tôi tới đó cầu nguyện. Tôi tham gia Nhóm độc thân của miền Tây tại nhà thờ Giáo hội Trưởng lão ở Bel Air - nơi mà trước kia tổng thống Reagan vẫn thường lui tới.

- Nhóm của những người độc thân ư?

- Không, không. Đó là một nhà thờ. Ronald Reagan thường cầu nguyện ở đó trước khi ông được bầu làm Tổng thống và...

- Được rồi, Roy. Anh đã ở nhóm của những người độc thân từ khi nào tới khi nào?

Nhìn thấy Milo ghi ghi, chép chép, anh ta càng bối rối hơn. Anh ta bắt đầu nhảy chồm chồm như một con rối do một người đang bị chứng liệt hoành hành điều khiển.

- Từ 9 giờ tối đến 1 giờ 30 sáng. Tôi ở đó tới khi tan hội. Tôi giúp lau dọn nhà cửa. Tôi có thể nói cho các ông biết họ đã phục vụ những món gì. Đó là bánh đậu và bánh khoai tây rán, có cả rượu Gallo, tôm nhúng và.. và..

- Chắc có nhiều người trông thấy anh ở đó chứ?

- Tất nhiên rồi - Anh ta trả lời, rồi ngưng lại ngay - Tôi... thực ra tôi không hoà đồng với bọn họ lắm. Tôi chỉ giúp chút ít thôi, chủ yếu phục vụ tại quầy rượu. Tôi thì biết nhiều người trong số họ nhưng không hiểu có ai nhớ tới tôi không - Giọng anh ta nhỏ dần và biến thành một âm thanh thì thầm.

- Anh Roy ạ, đấy có thể sẽ là một rắc rối.

- Ngoại trừ... không... À vâng... ngoại trừ bà Heatherington. Bà ấy già rồi. Bà ấy thường tình nguyện phục vụ tại các buổi lễ ở nhà thờ. Bà cũng tham gia vào việc lau dọn nhà thờ và phục vụ đồ ăn uống. Tôi đã nói chuyện với bà một lát. Tôi có thể nói cho các ông biết chúng tôi đã nói chuyện gì với nhau, đó là chuyện về các đồ vật sưu tầm được: bà sưu tầm các bức vẽ của Norman RocRwell còn tôi thì sưu tầm các tranh của Icart.

- Icart là cái gì vậy?

- Thưa ông, đó là những tranh trang trí in trên bìa báo và tạp chí ấy mà.

Các tác phẩm của Louis Icart vào thời này giá cao. Không hiểu một dược sỹ như anh ta thì lấy đâu ra tiền để thoả mãn sở thích sưu tầm tốn kém ấy.

- Mẹ tôi tặng tôi một cái khi tôi 16 tuổi và những bức tranh ấy - Anh ta đang tìm một từ thật thích hợp để diễn đạt ý minh - đã cuốn hút tôi. Bà tặng cho tôi vào ngày sinh nhật của tôi, còn sau đó tôi sưu tầm thêm. Bác sỹ Handler cũng sưu tầm loại tranh này, thưa các ông. Việc đó... việc đó... - Anh ta để cho câu nói đó kéo dài ra.

- Ồ thật thế sao? Thế ông ấy có cho anh xem bộ sưu tập của ông ấy không?

Longstreth lắc đầu:

- Không hề. Tại văn phòng ông ấy có một bức tranh. Tôi trông thấy bức tranh đó và chúng tôi cùng nói chuyện xung quanh bức tranh. Nhưng sau này lão ta lại lợi dụng vụ việc này để hại tôi.

- Sao lại thế được chứ?

Nhìn một cách lo lắng vào toà nhà của công ty Thrifty, anh ta nói:

- Thưa các ông, sau khi bị bắt vì tội ăn cắp tại cửa hàng, tôi đã bị toà án đưa đến chỗ lão ta - Hai mắt anh ta đẫm lệ - Thề có trời, tôi chỉ lấy có một ống kẹo cao su tại cửa hàng hãng Sears mà bị tóm gáy. Lúc đó tôi nghĩ nếu biết việc này chắc mẹ tôi sẽ xấu hổ mà chết mất. Tôi còn lo nếu mà khoa dược của trường đại học tôi đang học biết được thì thật khốn.

Milo hỏi một cách kiên nhẫn:

- Ông bác sỹ đã lợi dụng việc anh sưu tầm các tranh của Icart để chống lại anh như thế nào?

- Lão ta chỉ ám chỉ thôi, chưa bao giờ lão nói trắng ra cả, nhưng qua cách nói của lão thì ai cũng biết được ngay là lão định nói gì nhưng không thể bắt chẹt được lão.

- Này Roy, anh nói xem ông ta ám chỉ điều gì với anh?

- Lão ám chỉ rằng có thể mua chuộc được lão, rằng nếu tôi chịu đút lót cho lão bằng một hay hai tranh của Icart, mà thậm chí lão còn chỉ thẳng ra là lão thích những cái nào, thì lão sẽ viết một báo cáo có lợi cho tôi.

- Thế anh có đút cho ông ta không?

- Cái gì? Đút lót lão ư? Không đời nào. Làm như thế là không trung thực.

- Và ông ta có gây khó dễ cho anh không? 

Longstreth vừa cạy cạy mấy cái móng tay vừa trả lời:

- Như tôi đã nói, không tới mức độ ta có thể làm gì được lão. Lão chỉ nói rằng tôi là một trường hợp gần như điên. Thần kinh không ổn định, hay cái gì đó không trực diện chỉ thẳng rằng tôi bị điên - gọi là phản ứng lo âu quá hay là gì gì đó. Nghĩa là tôi muốn lựa chọn kiểu báo cáo nào của lão thì tuỳ. Cuối cùng do tôi không đút gì cho lão nên lão bảo với mẹ tôi rằng tôi bị thần kinh.

Gương mặt nhợt nhạt của anh ta đanh lại vì cáu giận.

- Tôi mừng là lão đã chết. Đấy, như tôi đã nói với các ông rồi đấy. Đó là tất cả những gì tôi đã nghĩ khi đọc được tin về cái chết của lão.

- Nhưng anh không giết lão cơ mà!

- Tất nhiên là không rồi. Tôi không thể. Tôi tránh xa tội ác, không muốn bắt tay với cái ác.

- Chúng tôi sẽ nói chuyện với bà Heatherington, anh Roy ạ.

- Vâng, hãy hỏi bà ấy về món bánh khoai tây rán và rượu vang - tôi tin rằng đó là món của hãng Gallo Hearty Burgundy. Còn có rượu pha nước trái cây và có cả vài lát cam nổi trong đó, trong một cái bát thuỷ tinh. Có một người phụ nữ bị say mửa ra sàn nhà vào cuối buổi. Tôi còn cùng bà lau dọn chỗ đó nữa...

- Cảm ơn anh Roy. Giờ anh có thể đi được rồi.

- Vâng, xin chào các ông.

Anh ta quay đi như một con robot, một thân hình mảnh khảnh trong chiếc áo blu xanh ngắn của người dược sỹ, và đi vào cửa hàng của công ty Thrifty.

Tôi đưa ra một câu hỏi hoài nghi:

- Anh ta mà là người bốc thuốc ư?

- Nếu như anh ta không có tên trong hồ sơ nào đó thì chắc là vậy rồi - Milo đút cuốn sổ ghi chép vào túi. Cả hai chúng tôi cùng rảo bước ra xe - Anh trông anh ta đúng là một kẻ tâm thần ư?

- Không hẳn. Trừ phi anh ta là một diễn viên kịch giỏi nhất quả đất này. Người bị loạn thần kinh, lãnh đạm. Có thể anh ta bị chứng tiền tâm thần phân liệt. 

- Có nguy hiểm không?

- Có trời mới biết. Nếu dồn anh ta đến mức căng thẳng quá thì có thể anh ta sẽ phản ứng kiểu tức nước vỡ bờ. Nhưng tôi thì cho rằng anh sẽ theo xu hướng ẩn thân nhiều hơn, sẽ nằm co quắp trên giường, tự mình chơi với mình, mòn mỏi, sẽ sống như vậy khoảng một đến hai chục năm kệ cho bà mẹ nâng đầu anh ta dậy để bón cơm cháo cho anh ta.

- Nếu câu chuyện sưu tầm các tranh của Icart là thật thì cũng cho chúng ta được một chút tia sáng về nạn nhân đáng kính của chúng ta.

- Handler ư? Đúng là một bác sỹ Schweitzer! (Phát xít Đức -N.D).

- Đúng thế - Milo nói - Một kẻ mà bị người ta cầu cho chết đi.

Chúng tôi tới Coldwater Canyon trước khi nó bị đông cứng lại bởi đám xe đưa đón công nhân trở về thung lũng sau giờ làm việc và tới được Burbank vào lúc 4 giờ 30.

Presto Instant Print là một trong nhiều dinh thự được xây bằng bê tông màu xám trong khu công nghiệp cạnh sân bay Burbank, trông như có quá nhiều bia mộ ngoại cỡ xếp lại với nhau. Không khí toàn mùi độc tố. Tiếng gầm thét của những chiếc phản lực thỉnh thoảng lại xé toang bầu trời. Tôi tự hỏi không biết những người phải sống thường xuyên ở đây trong một môi trường như thế thì tuổi thọ của họ được bao nhiêu.

Tôi biết có một Maurice Bruno đã được mọc ra trên thế gian này bởi vì có người đã lập hồ sơ của anh ta. Anh ta đang làm phó giám đốc kinh doanh. Anh ta hiện không có mặt ở công ty, tôi được cô thư ký da hơi ngăm đen, thân hình mềm mại cho biết như vậy. Mắt cô này hơi cong cong hình cánh cung còn miệng thì tròn vo như thể luôn mồm nói “không” với bất kỳ ai.

Milo nói như ra lệnh:

- Vậy thì đưa tôi đến gặp giám đốc của anh ta.

Vừa nói anh vừa chìa cái thẻ ra ngay dưới mũi cô thư ký. Cả hai chúng tôi đều thấy nóng nực, mệt mỏi và chán ngán. Nơi cuối cùng chúng tôi muốn dừng xe lại là Burbank.

- Có nghĩa là các ông muốn gặp ngài Gershman - Cô ta nói như thể vừa khám phá ra một điều mới mẻ.

- Thì ông ấy chính là người chúng tôi cần nói chuyện. 

- Thế thì xin các ông đợi cho một lát.

Cô ta ngúng nguẩy đi rồi trở lại cùng với một người giống cô ta như đúc nhưng có bộ tóc giả màu vàng.

Cô tóc vàng tuyên bố:

- Tôi là thư ký của ngài Gershman.

Không khí thật là khó chịu như thể bị nhiễm độc nặng. Độc tố huỷ hoại não người, làm cho tuỷ sống bị thối rữa. Milo hít một hơi thật dài:

- Chúng tôi muốn nói chuyện với ông Gershman.

- Tôi có thể biết các ông muốn gặp vì chuyện gì không?

- Không, cô không được phép biết. Hãy đưa chúng tôi đến gặp ông Gershman của cô mau.

- Vâng, thưa các ngài.

Hai người thư ký nhìn nhau. Rồi cô tóc nâu nhấn cái chuông, cô tóc vàng dẫn chúng tôi qua cái cửa đôi vào một khu sản xuất rộng lớn đầy máy móc đang làm việc. Một vài người đang đi quanh những con ác quỷ bằng thép đang điên dại hít vào những luồng khói đầy cồn và a-xê-tôn. Chỉ riêng những tiếng ồn ở đấy đã đủ giết chết người ta rồi.

Cô gái ngoặt đột ngột sang trái, dường như muốn để mặc chúng tôi cho mấy con ác quỷ ấy ăn thịt, nhưng chúng tôi cũng vẫn bám kịp theo mông của cô ta cho tới khi đứng trước một cái cửa đôi khác. Cô thư ký đẩy cửa rồi thả ra khiến Milo bị nhào về phía trước. Một hành lang ngắn, lại một cái cửa đôi khác rồi chúng tôi phải đối mặt với sự yên lặng, yên lặng đến rợn người.

Phòng của giám đốc công ty Presto Instant Print như là ở một hành tinh khác. Thảm nhung lông màu mận chín ngập quá mắt cá chân. Các bức tường đều được ốp gỗ óc chó chính cống. Trên cánh cửa lớn bằng gỗ óc chó có khắc đề tên bằng chữ mạ đồng: Im lặng.

Cô thư ký tóc vàng dừng lại ở cuối hành lang trước một cánh cửa cực lớn với những chữ bằng vàng trang nhã: Arthur M. Gershman, Giám đốc. Cô để cho chúng tôi vào một phòng đợi to bằng căn nhà trung bình, ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống những cái ghế mà chúng tôi cảm tưởng như những cục bánh mỳ nhão vẫn chưa được nướng. Khi đã ngồi yên vị sau cái bàn làm việc được làm từ thủy tinh plexi và gỗ hồng sắc khoe ra toàn bộ đôi chân của mình, cô ta mới ấn cái nút trên cái dầm mà lẽ ra phải thuộc một nơi nào đó ở Trung tâm điều khiển của NASA mới phải, môi cô cử động, đầu gật gật vài cái và rồi lại đứng dậy.

- Ngài Gershman sẽ gặp các ông ngay bây giờ.

Căn phòng làm việc bên trong, theo dự đoán của chúng tôi, to cỡ bằng một cái nhà thờ lớn, trang hoàng giống như được lấy ra từ các tranh vẽ của tạp chí Kiến trúc, ánh sáng dịu nhẹ và tiện nghi nhưng cũng đủ trừu tượng để khiến người ta luôn thức tỉnh. Nhưng người đàn ông ngồi sau bàn làm việc mới là một điều ngạc nhiên tột độ.

Ông mặc một cái quần ka ki và áo sơ-mi ngắn tay nhăn nhúm lẽ ra cần phải được là ủi. Chân mang đôi giày Hush Puppies và vì chân để lên bàn làm việc nên những cái lỗ ở đế giày lộ ra rõ ràng. Ông ở độ tuổi khoảng 75, đầu đã hói, bụng phệ, mắt đeo kính, một bên mắt kính phải dán băng dính để nó khỏi rơi ra.

Ông đang nói chuyện khi chúng tôi vào.

- Xin giữ máy nhé, Lenny - Ông nhìn lên - Cảm ơn cô Denise - Cô thư ký tóc vàng biến mất khỏi phòng. Ông quay sang chúng tôi:

- Xin chờ một vài giây nhé. Mời các vị ngồi xuống, uống chút đỉnh gì đi - Ông chỉ tay về phía một cái quầy bar đầy ắp thức uống chiếm đến nửa bức tường.

- Được rồi, Lenny, tôi phải tiếp mấy ông cảnh sát đây nên phải tạm biệt thôi. Này, cảnh sát đấy. Tôi không biết, bà muốn hỏi họ à? Ha ha. Ô, tôi chắc chắn sẽ nói với họ về điều đó, đồ quỷ ạ. Tôi sẽ nói cho họ biết bà đã làm gì ở Palm Springs trong lần cuối cùng chúng ta ở đó. Được rồi. Công việc tại Sahara... tôi hiểu. Tôi sẽ giao hàng tận nơi trong vòng hai tuần. Gì nữa? Thôi quên đi - Ông nháy mắt làm hiệu với chúng tôi - Cứ việc làm thế đi, đến gặp ai đó là thổ địa chỗ đó đi, tôi sẽ xem xét nếu thấy cần. Có thể chỉ còn một hay hai tháng nữa là tôi sẽ chết bất đắc kỳ tử vì công việc này mất thôi - bà nghĩ xem liệu tôi có nên quan tâm đến một đơn đặt hàng không được đáp ứng không? Rồi sẽ phải gặp chú Sam thôi. Shirley và hoàng tử con trai tôi sẽ lái một chiếc xe của Đức. Một chiếc BMW. Bằng tiền của tôi. Bà sẽ làm gì được nào? Hết thuốc rồi. 10 ngày ư. Ba đang tự làm khổ mình đấy à. Ít nhất là bà vẫn có thể đóng cửa lại, không ai nhìn thấy cả. Thế là có 12 ngày. Được chứ? Đúng 12 ngày. Thế nhé. Thôi, tôi phải ra đấy cái đã. Mấy gã Cossack sắp lôi tôi ra với họ rồi. Tạm biệt nhé.

Ông dập mạnh ống nghe xuống bộ máy điện thoại rồi đứng bật dậy như một cái lò xo.

- Tôi là Artie Gershman!

Ông giơ bàn tay vấy mực ra. Milo bắt tay ông, rồi tôi cũng làm theo. Bàn tay ông cứng như đá granite và nhiều vết chai xước như có gai.

Ông lại ngồi xuống, gác hai bàn chân lên mặt bàn làm việc.

- Xin lỗi các anh vì đã chậm trễ - Ông có tâm hồn vui vẻ của một người luôn bị bao vây bởi những người máy như cô thư ký Denise - Các anh giải quyết các sòng bạc mà họ nghĩ là họ có một cái quyền có ngay tất cả mọi thứ - đó là quần chúng nhân dân nói chung, còn các anh là cảnh sát, các anh có biết không hả? Vậy thưa các ngài sỹ quan cảnh sát, tôi có thể giúp gì cho các ngài? Tôi biết rồi, chắc lại là vấn đề đậu xe phải không? Nếu thằng cha khốn kiếp ở công ty Chemco bên cạnh còn phàn nàn nữa thì tôi sẽ giần cho hắn một trận vì các quý bà người Mexico của công ty hắn lúc nào cũng nhằm chỗ đậu xe của tôi để đậu xe của họ. Các ông nên kiểm tra xem họ có bao nhiêu người tới sống ở đây hợp pháp nào. Nếu hắn muốn chơi trò bẩn thỉu với tôi thì lão đây cũng có sá gì hắn...

Ông dừng lại để lấy hơi.

- Không phải là vấn đề đậu xe thưa ông.

- Không à? Vậy thì là cái gì?

- Chúng tôi muốn nói chuyện với anh Maurice Bruno.

- Morry (là cách gọi của người già với Maurice - N.D) à? Morry hiện đang ở Vegas. Chúng tôi làm ăn khá nhiều ở đó với các sòng bạc, các khách sạn và khách sạn dành cho khách đi xe hơi nghỉ. Chỗ này đây - Ông mở một ngăn kéo bàn làm việc và ném ra một vài cuốn sổ ghi tên các đối tác về phía chúng tôi. Trong đó có nhiều tên tuổi nổi tiếng.

Milo đút túi vài cuốn.

- Khi nào thì anh ta về?

- Vài ngày nữa. Cậu ta đi bán hàng từ hai tuần trước, trước tiên là tới Tohoe, rồi Reno và kết thúc tại Vegas - có lẽ cậu ta sẽ chơi bời một chút lạm vào thời gian của công ty, chứ chưa nói gì đến tiền của công ty cả. Nhưng mà ai cần biết những chuyện ấy làm gì. Chỉ biết rằng cậu ta là một người bán hàng rất tuyệt.

- Tôi nghĩ anh ta là phó giám đốc chứ?

- Phó giám đốc phụ trách bán hàng. Đó là một người bán hàng có một cái chức vụ để mà trang trí cho đẹp, có mức lương cao hơn, có một văn phòng làm việc đẹp hơn. Các anh nghĩ thế nào về nơi này? Có phải các anh nghĩ rằng đây là chỗ mà mấy con giun đã đào lên phải không?

Tôi nhìn mặt Milo để xem anh có phản ứng gì không. Tuyệt nhiên không thấy.

- Vợ tôi đấy. Chính bà đã tự làm ra nơi này. Nơi này trước kia đẹp lắm. Chỗ nào cũng được dán giấy cẩn thận, hai cái ghế, thường thường thôi để có thể nghe được tiếng máy móc chạy bên ngoài và còn biết được đang xảy ra chuyện gì ngoài đó. Còn giờ thì chỗ này như là địa ngục vậy. Đó là cái giá tôi phải trả vì đã lấy bà vợ hai. Với người vợ thứ nhất, anh còn được yên ổn, lấy người vợ thứ hai là anh biến thành một con người mới.

- Ông có chắc Bruno đang ở Las Vegas không?

- Tại sao lại không chứ? Vì còn nơi nào khác nữa để cậu ta tới đâu?

- Ông Gershman này, Bruno đã làm việc cho ông được lâu chưa? 

- Này, các anh định hỏi về vấn đề gì thế? Phải chăng là về chuyện bảo trợ trẻ em hay là cái gì đó tương tự?

- Không. Chúng tôi muốn gặp anh ta về chuyện liên quan đến một cuộc điều tra kẻ giết người mà chúng tôi đang tiến hành.

- Giết người ư? - Gershman bật khỏi ghế - Giết người à? Morry Bruno à? Chắc các anh đùa rồi. Cậu ta là một người đáng quý đấy.

- Anh ta đã làm việc cho ông được lâu chưa, thưa ông?

- Để tôi xem nào - một năm rưỡi, có thể là hai năm cũng nên.

- Và ông thì không gặp vấn đề gì với anh ta đấy chứ?

- Vấn đề ư? Tôi đã nói với các ông rồi, cậu ta là một người đáng quý. Dù không biết gì về công việc cả nhưng tôi căn cứ vào linh cảm của mình để thuê cậu ta. Đúng là một người bán hàng không chê vào đâu được. Cậu ta đã bán được nhiều hơn tất cả những người khác - kể cả những già làng trong làng buôn bán - đó là lúc tôi mới nhận cậu ta được tháng thứ tư. Một con người đáng tin cậy, thân thiện và không bao giờ có vấn đề gì để phải nhắc nhở cả.

- Ông có nói đến vấn đề bảo trợ trẻ em. Vậy Bruno đã li dị sao?

- Li dị - Gershman nói - Giống như mọi người. Con trai tôi cũng thế. Ngày nay, các cặp vợ chồng dễ dàng li hôn quá.

- Anh ta có gia đình ở Los Ạngeles này không?

- Có đấy. Có vợ và các con, ba con. Tôi nghĩ là vợ con cậu ta đã chuyển lùi về hướng Đông rồi, đến Pittsburgh hay Cleveland gì đó, nơi không có biển ấy mà. Cậu ta nhớ vợ con lắm, thường hay nhắc đến họ. Đó là lý do tại sao cậu ta xin làm tình nguyện viên tại Casa.

- Casa à?

- Đó là nơi của bọn trẻ, ở tận Malibu cơ. Morry thường dành thời gian cuối tuần ở đó, tình nguyện giúp đỡ bọn trẻ. Cậu ta được thưởng giấy khen nữa. Đây, tôi cho các anh xem luôn.

Văn phòng của Bruno rộng bằng một phần tư văn phòng của Gershman nhưng có cùng kiểu dáng thanh nhã theo phong cách triết chung. Nơi này ngăn nắp gọn gàng, không có gì dáng ngạc nhiên cả vì Bruno dành phần lớn thời gian ở trên đường. Gershman chỉ tay vào một cái thẻ có khung hẳn hoi để cạnh nửa tá các bằng khen Người bán hàng số một của công ty.

- Các anh xem: “Tặng cho Maurice Bruno vì sự phục vụ tự nguyện cho những trẻ em vô gia cư tại La Casa de los Ninos”. Đấy, đấy, đấy. Tôi đã nói với các anh rồi mà, cậu ta đúng là một người đáng quý lắm.

Cái bằng khen được ký bởi Thị trưởng thành phố như là một nhân chứng danh dự và giám đốc trại trẻ vô gia cư, đức cha Augustus J. McCaffrey. Toàn bộ cái bằng khen là một bản khắc chữ đẹp và có hoa văn ấn tượng.

- Đẹp lắm - Milo nói - Ông có biết Bruno hiện đang ở khách sạn nào không?

- Cậu ta thường ở lại khách sạn MGM, nhưng sau vụ cháy, tôi cũng không biết cậu ta ở đâu nữa. Hãy trở lại văn phòng của tôi xem sao.

Trở lại văn phòng của mình, Gershman nhấc điện thoại, nhấn mạnh vào máy nội bộ và quát vào ống nghe:

- Cô Denise, hãy tìm cho tôi nơi Morry đang ở, khẩn trương lên.

Nửa phút sau đó, máy điện thoại nội bộ reo.

- Hả. Tốt. Cảm ơn cô - Ông quay sang phía chúng tôi:

- Tại Cung điện. 

- Cung diện của Caesar phải không?

- Đúng thế. Các anh muốn tới gọi tới đó để nói chuyện luôn với cậu ta hả?

- Nếu được thì hay quá, thưa ông. Chúng tới sẽ tính tiền cho ông cuộc gọi này.

- Thôi nào - Gershman phẩy tay - Khỏi phải thế. Cô Denis, gọi ngay tới Cung điện Caesar xin gặp Morry, nếu cậu ta không có ở đó thì để lại một lời nhắn để cậu ta gọi...

- Gọi cho thanh tra cảnh sát Sturgis, thuộc Sở cảnh sát miền Tây.

Gershman kết thúc lời hướng dẫn cô thư ký.

- Không phải các anh cho rằng Morry là một nghi can đấy chứ? - Ông hỏi khi đã bỏ máy điện thoại xuống - phải chăng chỉ là vấn đề nhân chứng thôi?

- Thực sự, chúng tôi không thể nói gì về điều đó, ông Gershman ạ - Milo đáp lại một cách khéo léo.

- Tôi không thể tin được - Gershman lấy tay đập đập vào trán - Các anh lại cho rằng Morry là một kẻ giết người. Một người chăm sóc bọn trẻ vào những ngày nghỉ cuối tuần của mình, một người không bao giờ tranh cãi với ai. Cứ thử đi hỏi mọi người ở đây mà xem, tôi cho phép các anh đấy. Nếu các anh thấy có bất kỳ một ai nói không tốt về Morry thì tôi cứ nhỏ bằng con kiến.

Ông ta bị ngắt lời bởi tiếng reo của chuông điện thoại.

- Tôi đây, cô Denise. Nghĩa là sao? Cô chắc đấy chứ? Có thể lầm lẫn thì sao. Kiểm tra lại đi. Rồi gọi luôn đến khách sạn Aladdin, khách sạn Sands, có thể cậu ta thay đổi ý định thì sao.

Mặt của ông già trở nên nghiêm nghị sau khi đặt máy xuống.

- Cậu ta không ở Cung điện - Ông nói với vẻ đượm buồn và lo sợ sẽ có ai đó kéo khỏi tay ông một người thân tín.

Maurice Bruno không có ở Aladdin và cả Sands hay bất kỳ khách sạn lớn nào ở Las Vegas. Các cuộc gọi từ văn phòng của Gershman tới các hãng máy bay cho thấy không nơi nào bán vé cho anh ta đi từ Los Angeles tới Vegas.

- Xin ông cho chúng tôi biết số điện thoại và địa chỉ nhà riêng của anh ta.

- Cô Denise sẽ cho các anh những thông tin cần thiết. Gershman nói.

Chúng tôi để ông lão ngồi một mình trong căn phòng lớn, cái cằm đầy râu đã bạc đặt lên hai bàn tay, trán nhăn như một con bò già tả tơi sống quá lâu ở vườn thú.

***

Bruno sống ở Glendale, bình thường chỉ mất có 10 phút lái xe từ nhà máy Presto tới đó. Nhưng lúc này đã là 6 giờ tối, ở phía Tây ngã ba Hollywood-Golden State lại có một vụ tai nạn, còn đường ô-tô thì đang tắc nghẽn dài từ Burbank tới Pasadena. Lúc chúng tôi thoát ra được đường Brand thì trời đã tối. Cả hai đều có tâm trạng mệt mỏi.

Milo cho xe quay sang hướng Bắc về hướng các ngọn núi. Nhà của Bruno ở phố Armelita, một dãy phố nhỏ cuối đại lộ Armelita. Nó nằm cuối một ngõ cụt, ngôi nhà một tầng kiểu giả kiến trúc Tudor phía trước có thảm cỏ vuông vắn gọn gàng, hàng rào thuỷ tùng và những cây bách xù non được trồng ở phần đất trống. Hai bụi trắc bá ở cổng. Một nơi tôi không thể tưởng tượng ra nổi là thuộc về một người đàn ông độc thân thường tới Las Vegas. Rồi tôi nhớ những lời Gershman nói về vụ li hôn. Đúng nơi này là khu nhà mà người vợ và những đứa con khi ra đi bỏ lại.

Milo nhấn chuông mấy lần sau đó gõ cửa mạnh. Khi không có ai trả lời, anh tới xe và gọi cho cảnh sát Glendale. Mười phút sau, một xe cảnh sát cơ động tới cùng với hai sỹ quan mặc cảnh phục. Cả hai cùng cao lớn lực lưỡng và tóc hung, ria mép rậm rạp, lởm chởm mọc dưới lỗ mũi. Họ đến với dáng điệu nghênh ngang của những cảnh sát và người say cố gắng tỏ vẻ tỉnh táo, và bàn bạc với Milo. Sau đó họ lấy bộ đàm ra.

Đường phố yên tĩnh, không một bóng người. Ngay cả khi có thêm những chiếc xe của cảnh sát cơ động và một chiếc Dodge không có chữ “cảnh sát” được lái tới và đậu lại thì cảnh phố vốn không hề thay đổi. Mọi người thảo luận nhanh giống như một cuộc hội ý trong một trận đấu bóng rồi súng được rút ra. Milo lại đến nhấn chuông cửa và rồi đá bung cánh cửa ra. Cuộc tấn công bắt đầu.

Tôi ở ngoài, nhìn và chờ đợi. Chẳng bao lâu sau tôi nghe thấy tiếng nôn mửa và chửi tục. Sau đó thì các cảnh sát chạy như bay ra khỏi căn nhà và nôn mửa đầy thảm cỏ, hai tay họ bịt chặt mũi, một loạt các hành động ngược. Một cảnh sát tuần tiễu to lớn đang nôn thốc nôn tháo vào bụi cây bách xù ở cửa. Khi dường như tất cả đều đã rút hết ra ngoài, Milo mới đi tới cửa, một tay lấy khăn che mũi và miệng. Tôi nhìn thấy đôi mắt của anh và anh cũng nhìn vào tôi. Đôi mắt đang mách bảo tôi phải đưa ra một quyết định.

Theo linh tính mách bảo, tôi cũng rút khăn tay ra, bịt mũi, miệng và tiến vào.

Cái khăn vải bông mỏng ấy chỉ ngăn được một chút sự công kích của mùi hôi thối mạnh bốc ra từ bên trong khi tôi bước qua bậc cửa. Tôi có cảm giác đây là sự hoà trộn của khí đầm lầy và khí rác thải thành một bãi nhầy nhụa nổi bọt, bốc hơi và phun vào không khí.

Mắt tôi chảy nước ròng ròng. Tôi cố nén cảm giác muốn nôn và theo bóng của Milo tiến vào bếp.

Anh ta ngồi đó, ở cái bàn phoóc-mi-ca. Quần áo anh ta vẫn có vẻ bình thường. Anh ta mặc bộ com-lê màu xanh da trời của người bán hàng, áo sơ- mi không cài cúc màu ngô và khăn quàng lụa mỏng trên cổ, giày có những núm nhỏ, chiếc vòng tay bằng vàng vẫn treo lủng lẳng trên cổ tay đầy những giòi bọ.

Từ cổ trở lên nát bấy. Hình như anh ta bị người ta dùng xà beng đâm. Trên mặt còn nhiều lỗ sâu. Trên vai cũng có nhiều chỗ bị đánh nay phồng lên, không thể biết là đã bị đánh như thế nào vì cơ thể anh ta đang thối rữa quá mức.

Milo bắt đầu mở các cửa sổ và tôi nhận ra rằng căn nhà nóng như một cái lò, thêm vào đó là khí carbon hydro phát ra từ cái xác đang bị phân huỷ.

Không thể chịu đựng thêm được nữa, tôi chạy ra cửa, vừa chạy vừa há hốc mồm để thở. Ra đến ngoài thì tôi vứt luôn cái khăn tay và hít lấy hít để không khí trong lành. Hai bàn tay tôi run bần bật.

Khu nhà bắt đầu bị kích động. Những người hàng xóm gồm cả người lớn và trẻ con túa ra để xem cảnh hỗn loạn. Xe pháp y vù đến đậu bên đường. Một số trẻ con đạp xe ngược xuôi trên đường phố. Chó sủa, tiếng bàn tán xôn xao như một đàn ong vỡ tổ. Cảnh tượng đặc trưng của vùng ngoại ô.

Tôi không hiểu tất cả những người này đi đâu hết khi mà có ai đó đã lẻn vào nhà của Bruno, đánh anh ta nhừ tử rồi đóng hết các cửa sổ để cho anh ta chết thối trong đó.

Cuốỉ cùng Milo cũng ra khỏi ngôi nhà, trông mặt nhợt nhạt. Anh ngồi trên bậc cửa, đầu gục xuống gối. Rồi anh đứng dậy và gọi những người trợ lý của văn phòng pháp y lại. Họ đều đã sẵn sàng đầy đủ cả: mặt nạ phòng hơi độc và găng tay cao su. Họ đem một cái cáng đi vào và trở ra với một cái túi lớn bằng nhựa màu đen đặt trên cáng.

Một đứa bé gái nói với bạn:

- Ôi trời ơi. 

Người dịch: ĐẶNG THỊ HUỆ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.