
Giữa đường Duyên hải và khuôn viên Đại học Jedson là một khu rừng trải dài hàng ngàn mét. Nổi lên trên dải rừng ấy là hai chiếc cột giống hệt nhau có khắc những con số La Mã đánh dấu điểm đầu của một con đường trải sỏi chạy xuyên qua trung tâm của trường học. Con đường này kết thúc tại một vòng tròn, trong vòng tròn có một chiếc đồng hồ mặt trời đã lỗ chỗ vết thương dưới một cây thông cao.
Nhìn qua một lượt, Jedson giống một trường đại học nhỏ ở miền Đông như một tiểu Harvard. Những ngôi nhà được xây bằng gạch đã trải nắng mưa và được tô điểm thêm bằng những gờ đá hoa cương, mái lợp tấm đồng. Nó được thiết kế trong thời kỳ nhân công rẻ, việc đúc xem ra khá cầu kỳ... Những cây thường xuân rủ từ mái nhà xuống đất, hút chất của những viên gạch xây tường. Hàng cây cảnh được cắt tỉa cẩn thận để che khuất những cái cửa sổ thụt trong tường.
Khuôn viên trường này nhỏ, có lẽ chỉ khoảng 64.000 mét vuông, được trồng nhiều cây cối. Những đồi sồi, thông, liễu, đu và bu-lô thật hùng vĩ, những khoảng trống được dát đá hoa cương và đặt ghế đá cùng những công trình kỷ niệm xung quanh. Tất cả đều truyền thống cho tới khi tôi để mắt nhìn ra hướng Tây. Ở đó là những bãi cỏ được cắt tỉa cẩn thận trải dài tới tận bến tàu. Bến cảng tư nhân ở xa hơn một chút. Bến tàu này đậu khá nhiều tàu tuần dương, những tàu dài trên 150 mét, bên trên là những máy định vị, những màn hình ra đa và cả những cột ăng ten. Đúng là của thế kỉ 20 và đúng là vùng duyên hải miền Tây nước Mỹ.
Mưa đã tạnh. Từ phía chân trời tối tăm hiện lên một tam giác ánh sáng. Cách bến cảng vài hải lý, một đội thuyền buồm cắt mặt nước bạc trắng như tấm thiếc. Những chiếc thuyền này chắc đang diễn tập để chuẩn bị cho một nghi lễ nào đó bởi vì từng cái, từng cái một bơi quanh một chiếc phao và giương những cánh buồm lớn có màu kỳ quặc - đỏ, da cam, tím và xanh lá cây, giống như những chiếc lông đuôi của một đàn chim nhiệt đới.
Trên chiếc giá đỡ có một hộp trong suốt đựng bản đồ khu vực. Tôi tới nghiên cứu tấm bản đồ để xác định vị trí của Crespi Hall. Những sinh viên đi qua không ai nói một lời. Phần đông bọn họ đều có má quả táo, tóc hoe, mắt xanh. Kiểu tóc của họ được làm công phu nhưng dường như nó là của thời kỳ Eishenhower. Quần gấu lơ-vê, những đôi giày bóng lộn đắt tiền. Lưng áo bọn họ in toàn những hình cá sấu, đủ để làm cho đầm lầy phải thiếu chỗ. Một người theo thuyết ưu sinh chắc sẽ tự hào lắm khi nhìn thấy những cái lưng thẳng, thân hình chắc chắn như của những cảnh sát. Tôi có cảm giác mình đã chết và được lên thiên đường của người Aryan.
Crespi Hall là một hình thoi ba tầng, đối diện với nó là những chiếc cột đá hoa cương màu trắng. Văn phòng đối ngoại nằm nấp mình sau cánh cửa gỗ có dán nhãn giấy nền màu vàng. Khi tôi mở, cánh cửa kêu cót két.
Margaret Dopplemeier là một phụ nữ cao, gầy giơ xương, kiểu của những người không thể lấy được chồng. Cô ta đã cố tìm cách che đậy cái thân hình vô duyên ấy trong một bộ vét vải tuýt rộng như một cái lều, nhưng những góc cạnh của cái cơ thể ấy vẫn cứ lồi ra. Xương hàm của cô bành bạnh, đôi môi không chịu thua cái cằm, bộ tóc hung được cắt ngắn ngang vai không phù hợp tý nào với khuôn mặt. Văn phòng của cô ta không lớn hơn bên trong chiếc xe con của tôi - có lẽ những người lập ra Đại học Jedson không quan tâm lắm đến quan hệ đối ngoại. Cô ta phải chen giữa cái bàn làm việc và bức tường để đứng dậy chào tôi. Khi cô ta đứng dậy đã bị loạng choạng mấy bước. Tôi cảm thấy thương hại cho cô, nhưng cố không để lộ ra điều đó. Cô chạc tuổi 30 và vào tuổi ấy thì những người phụ nữ như cô ắt đã học được cách tự lực cánh sinh rồi. Đó là một cách tốt để chống lại sự cô đơn.
- Xin chào, chắc ông là Alex?
- Vâng là tôi. Rất vui được gặp cô, cô Margaret - Bàn tay của cô ta dày, cứng và có nhiều chai, chắc hẳn là do phải giặt và vắt quần áo quá nhiều, tôi cũng không biết có đúng vậy không.
- Xin mời ông ngồi.
Tôi lấy một cái ghế ghép bằng mấy thanh gỗ mỏng và ngồi không được thoải mái.
- Ông uống cà phê chứ?
- Vâng, cho tôi xin ít kem nữa nhé.
Phía sau bàn làm việc của cô có một cái bàn, trên đó là một chiếc đĩa đang bốc hơi. Cô rót cà phê vào một cái cốc và đưa cho tôi.
- Ông đã quyết định ăn trưa ở đây chưa?
Viễn cảnh phải ngồi ở một cái bàn đối diện với cô ta trong một bữa ăn làm tôi phát hoảng. Không phải cái vẻ thô kệch hay bộ mặt hình sự của cô khiến tôi không thoải mái. Vấn đề là biểu hiện của cô ta, vẻ như cô ta sắp bắt tôi phải nghe câu chuyện dài lê thê về cuộc đời cô ta, còn tôi thì không muốn nhét vào đầu thêm thứ gì nữa. Tôi từ chốỉ.
- Vậy thì chúng ta ăn qua quýt cái gì vậy nhé?
Cô ta mang ra một đĩa pho mát và bánh quy. Vai trò làm chủ mời khách nhưng cô ta rất lóng ngóng. Không hiểu sao cô ta lại sà vào lĩnh vực quan hệ đối ngoại của trường, lẽ ra cô ta nên làm thư viện thì hợp hơn. Nhưng rồi tôi chợt nhận ra rằng làm công tác quan hệ đối ngoại ở Đại học Jedson thì chẳng khác nào làm công tác thư viện cả, một công việc bàn giấy chuyên xén và gửi thư, ít khi tiếp xúc trực tiếp với người khác.
- Cảm ơn cô nhiều - Lúc này tôi cũng đã đói thật và món pho mát giúp tôi nguôi ngoai đôi chút.
- A mà - Cô ta nhìn quanh cái bàn làm việc, tìm được cặp kính và đeo vào. Đeo kính vào, cặp mắt cô ta trông to ra và dễ chịu hơn - Ông muốn cảm nhận đôi chút về Đại học Jedson đúng vậy không?
- Đúng vậy - Tôi muốn biết một chút hương vị của nơi này.
- Đây thực sự là một nơi đặc biệt. Tôi đến từ Wisconsin, đi học tại Madison với 40 ngàn sinh viên. Còn ở đây chỉ có 2 ngàn sinh viên. Mọi người đều quen biết nhau.
- Giống như kiểu một đại gia đình ấy à - Tôi rút chiếc bút và một cuốn sổ ghi chép ra.
- Đúng - Khi nghe tôi nói xong, môi cô ta mím lại - Ông có thể hiểu như vậy cũng được - Cô ta đảo mấy tờ giấy và bắt đầu đọc:
“Đại học Jedson được thành lập bởi Josiah T. Jedson, một người nhập cư gốc Scotland khởi sự bằng nghề khai thác mỏ và làm đường ray vào năm 1858, 3 năm trước khi Đại học Washington được thành lập, vì vậy chúng tôi thực sự là một trường có tuổi trong thành phố Jedson có ý định kết hợp giảng dạy đại học theo những giá trị truyền thống kết hợp với giáo dục cơ bản về nghệ thuật và khoa học. Ngày nay, tiền tài trợ chính cho trường Đại học này là do trợ cấp hàng năm của quỹ Jedson, mặc dù cũng có những nguồn tài trợ khác đóng góp cho trường.
- Tôi nghe nói tiền học phí ở trường là khá cao.
Cô ta nhăn trán:
- Tiền học phí là 12 ngàn đô-la một năm, cộng với tiền nhà ở, phí đăng ký và các phí khác nữa.
Tôi hỏi luôn:
- Thế trường có trao học bổng không?
- Mỗi năm cũng có những suất học bổng nhỏ dành cho những sinh viên xứng đáng, nhưng không có chương trình trợ giúp tài chính rộng rãi.
-Vậy là trường không có ý định thu hút sinh viên rộng rãi ở các thành phần kinh tế xã hội?
- Không.
Cô ta bỏ kính xuống, đặt mớ tài liệu đã chuẩn bị sẵn sàng bên cạnh và nhìn tôi chằm chằm, kiểu của một người bị cận.
- Tôi hi vọng chúng ta không đi sâu vào vấn đề đó.
- Sao lại vậy, hả cô Margaret?
Môi cô ta cử động như để ướm thử xem những lời nào nói cho thích hợp nhưng rồi bỏ đi hết. Cuối cùng cô ta cũng nói:
- Tôi nghĩ chúng ta sẽ nói về những điều gây ấn tượng. Điều gì đó tích cực chứ.
- Sẽ là thế. Tôi chỉ hơi tò mò một chút thôi.
Tôi đã chạm vào nọc của cô ta. Điều đó sẽ không có ích lợi gì và tôi cũng không muốn làm mất nguồn thông tin này. Nhưng có điều gì đó bí ẩn trong sự ưu tiên cho tầng lớp thượng lưu ở nơi này, điều đó đã làm tôi khó chịu và khiến cho thằng cha xấu tính trong tôi tỉnh giấc.
- Tôi hiểu - Cô ta đeo kính trở lại và cầm lấy mớ giấy tờ, nhìn lướt qua chúng và lại bặm môi.
- Ông Alex này - Cô ta nói - tôi có thể nói chuyện với ông ngoài lề một chút, chuyện giữa những người viết báo với nhau ấy, được không?
- Tất nhiên - Tôi gấp cuốn sổ ghi chép lại và cất bút vào túi áo jac-két.
- Tôi không biết phải đặt vấn đề thế nào - Tay cô ta vân vê một bên ve áo tuýt - cả bài phóng sự lẫn chuyến viếng thăm của ông đều không được Ban lãnh đạo Nhà trường chào đón. Nhìn sự hào nhoáng của xung quanh thì ông cũng biết là ban công tác đối ngoại chúng tôi không được Ban lãnh đạo Nhà trường để tâm đến nhiều. Sau khi nói chuyện với ông ngày hôm qua, tôi đã trình bày với cấp trên của tôi về chuyến thăm, nghĩ rằng họ sẽ hài lòng hơn. Nhưng thực tế thì ngược lại. Tôi không được một chút hoan nghênh nào.
Môi cô ta trề ra như thể đang nhớ lại một cái đánh vào mông đau đớn.
- Tôi không có ý định đẩy cô vào thế khó xử, thưa cô Margaret.
- Cũng chẳng thể ngờ được. Như tôi đã nói với ông đấy, tôi là người mới đến đây công tác. Họ có những việc làm lạ kỳ lắm. Khác biệt mọi thứ tôi biết, cách sống của họ yên lặng và bảo thủ. Nơi này có những nét đặc biệt không chịu ảnh hưởng của thời gian.
Tôi hỏi:
- Thế làm sao một trường đại học thu hút được người học mà không thu hút sự chú ý của công chúng?
Cô ta lại bặm môi.
- Tôi thực sự không muốn bàn đến chuyện này.
- Cô Margaret à, đây là chuyện ngoài lề. Xin cô đừng cứng nhắc quá.
- Cái đó thực sự không quan trọng - Cô ta khăng khăng từ chối, nhưng ngực cô ta đã phập phồng và đôi mắt ánh lên những xung đột. Tôi liền tiến thẳng vào cái xung đột trong đôi mắt ấy.
- Vậy thì đó là cái gì? Những người làm báo chúng ta với nhau thì có gì phải che giấu. Bên ngoài chúng ta đã phải chịu đủ sự kiểm duyệt rồi còn gì.
Cô ta nghĩ ngợi một lúc lâu. Sự đấu tranh tư tưởng hiện rõ trên nét mặt cô ta. Cuối cùng cô ta nói:
- Tôi không bị đuổi khỏi đây chứ? Tôi có một căn hộ đẹp nhìn ra hồ, những con mèo và những cuốn sách. Tôi không muốn mất tất cả. Tôi không muốn bị đẩy trở lại vùng Trung Tây, tới nơi mà chỉ có đồng bằng thẳng tuột mà chẳng có lấy một bóng núi đồi. Một nơi không thể đặt tương lai vào. Ông có hiểu điều này không?
Thái độ và giọng nói của cô ta nghe giòn tan - tôi đã biết về thái độ ấy vì trong hàng ngàn bệnh nhân tìm đến tôi điều trị đều có. Nó xuất hiện ngay trước khi những hàng rào tự vệ của họ bị hạ gục. Cô ta muốn trút tâm sự và tôi sẵn sàng giúp cô ta dốc bầu tâm sự. Tôi đúng là loại người có ma lực xấu xa...
- Ông có hiểu điều tôi đang nói không? - Cô ta cất tiếng hỏi.
Và tôi bắt đầu nghe thấy cái máy tự động trong tôi trả lời, một giọng trả lời êm ái và ngọt ngào:
- Tất nhiên, tôi hiểu, thưa cô.
- Bất kể điều gì tôi nói với ông đều là riêng tư và không được đăng tải đấy.
- Tôi xin hứa. Tôi là một nhà báo chuyên viết phóng sự. Tôi không có hứng thú để trở thành những Woodward hay Bernstein (nhà báo khui ra vụ Watergate -N.D) đâu.
Một nụ cười mỏng tang xuất hiện trên khuôn mặt bành bạnh đã trở nên hiền hoà của cô ta.
- Ông không ư? Thế mà tôi đã từng có hứng thú như thế đấy. Sau 4 năm mài mông trên ghế nhà trường ở Madison, tôi đã nghĩ sẽ phải làm báo chí ra trò. Một năm trời ra trường tôi không viết được một bài báo nào - tôi chỉ chạy quanh làm công việc lặt vặt. Tôi chán công việc này. Rồi rồi tôi xin được việc tại một tạp chí về chó, viết những bài giẻ rách về chó xù và chó xơ-nô-xe. Họ đưa những con vật chết tiệt ấy vào văn phòng để chụp ảnh rồi để chúng ỉa bậy đầy ra thảm nhà. Mùi bốc lên hôi thối. Khi tờ báo ấy đóng cửa, tôi đã có 2 năm viết về nghiệp đoàn ở New Jersy. Những việc đó cuối cùng đã làm tất cả ảo tưởng của tôi về nghề báo biến mất. Giờ đây, điều tôi mong muốn là được bình yên.
Một lần nữa cặp kính lại bị bỏ xuống. Cô ta nhắm đôi mắt lại và lấy hai tay day thái dương.
Tôi nói:
- Cô cứ tâm sự đi, đó là điều mà tất cả chúng ta đều muốn.
Cô ta mở đôi mắt và liếc nhìn về phía tôi. Từ cách căng mắt nhìn của cô ta chắc hẳn tôi đã là một hình ảnh lờ mờ trước mắt. Tôi cố gắng làm ra vẻ một hình bóng lờ mờ đáng tin cậy.
Cô ta đưa hai mẩu pho mát vào miệng và nhai cho tới khi chúng biến thành bụi.
- Tôi không biết câu chuyện tôi nói có giúp gì cho bài phóng sự của ông không - Cô ta nói - Đặc biệt nó lại là một bài phóng sự để quảng cáo.
Tôi cố ép ra một tiếng cười lớn:
- Cô đã khiến tôi thấy hào hứng được nghe cô kể, vậy thì còn chờ gì nữa mà cô không kể luôn cho tôi nghe đi.
Cô ta cười:
- Giữa hai nhà báo thôi đấy nhé.
- Được, giữa hai nhà báo với nhau.
Cô ta thở dài:
- Tôi nghĩ cũng không phải chuyện gì ghê gớm lắm.
Cô ta vừa nhai pho mát đầy mồm vừa bắt đầu kể:
- Ban đầu, không, mà Đại học Jedson không thích thu hút người ngoài, chấm. Nó là một trường đại học, nhưng chỉ trên danh nghĩa và giấy tờ. Thực sự, Jedson là một nơi cầm giữ, một nơi để các gia đình thuộc tầng lớp đặc quyền trong xã hội ném con cái của họ vào đó 4 năm trước khi bọn con trai theo nghiệp bố, bọn con gái đi lấy chồng và trở thành những người nội trợ. Bọn con trai học chuyên về kinh tế và kinh doanh, bọn con gái học chuyên về lịch sử, nghệ thuật và kinh tế học gia đình. Thường thường, bọn con trai chỉ mong đạt được điểm c (trung bình). Không ai bằng lòng với việc có học sinh nào đó quá giỏi. Một số học sinh khá cũng đi học tiếp trường luật hay trường y. Nhưng khi học xong thì đều trở về với gia đình cả.
Cô ta nói một cách cay đắng hơn:
- Thu nhập trung bình của những gia đình gửi con tới đây học là trên 100 ngàn đô-la một năm. Ông hãy nghĩ về điều này đi ông Alex. Ai ai cũng giàu có. Ông có trông thấy cái bến cảng ngoài kia không?
Tôi gật đầu.
- Những đồ chơi nổi trên đó thuộc về các sinh viên đấy - Cô ta ngừng lại, như thể chính mình cũng không tin điều đó - Nơi đậu xe của trường chẳng khác gì trường đua xe ô tô Monte Carlo Grand Prix. Những sinh viên này toàn mặc đồ da khi đi chơi thuyền.
Hai bàn tay thô kệch của Margaret tìm nhau và âu yếm nhau. Cô nhìn xung quanh từ bức tường này sang bức tường kia của căn phòng như để tìm kiếm một thiết bị nghe lén nào đó. Tôi không biết tại sao cô lại bồn chồn như thế. Vậy Jedson là một trường học cho những con cái nhà giàu Standford đã bắt đầu khởi sự trường này với ý định như vậy và có lẽ cũng đã trở nên bế tắc nếu không có ai đó nghĩ ra là phải tuyển được những sinh viên Do Thái thông minh, những người châu Á và những người có những cái tên nghe buồn cười, những người có chỉ số IQ cao...
- Giàu có không phải là tội ác - Tôi nói.
- Không hẳn như ông nghĩ. Vấn đề là sự không chú ý của mọi người. Tôi từng học tại Madison vào những năm 60. Ở đó còn có được cảm giác về sự quan tâm của xã hội. Gọi là chủ nghĩa tích cực. Chúng tôi hồi đấy đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh. Ngày nay là phong trào chống vũ khí hạt nhân. Trường đại học này có thể xem như một nhà kính cho lương tâm. Ở đây không có lấy một phong trào xã hội nào cả.
Tôi tưởng tượng Margaret 15 năm về trước trong bộ ka- ki và áo lạnh ngắn tay, đi diễu hành và hô vang các khẩu hiệu. Chủ nghĩa cấp tiến đã thất bại trong cuộc đấu tranh nhằm giành quyền tồn tại. Nhưng cô ta thì thỉnh thoảng vẫn có thể nhớ về những kỷ niệm hào hùng một thời...
- Việc này đặc biệt gây khó khăn cho Ban quan hệ đối ngoại - Cô ta tiếp tục nói - Không phải là những vệ sỹ già. Mà là những chiến sỹ trẻ - họ thường tự gọi mình như vậy. Họ tới đây vì không tìm được việc, với chủ nghĩa duy tâm học thuật và những quan điểm tự do điển hình của họ, và ở đây từ 2 đến 3 năm. Đây thật là điều lố bịch cho những người trí thức - đó là chưa nói đến sự thất vọng của việc kiếm được 15 ngàn đô-la mỗi năm trong khi những cái tủ của sinh viên ở đây cũng có giá cao hơn như thế.
- Cô nói cứ như là cô đã tận mắt chứng kiến vậy.
- Đúng là tôi đã tận mắt chứng kiến. Từng có một người, một người bạn rất thân của tôi, ông tới đây để dạy triết học. Ông là một học giả thực sự, tốt nghiệp trường Princeton, rất mực thông thái. Ông đã phải phát ngán. Ông cho tôi biết nỗi thất vọng của ông khi đứng giảng về hai nhà triết học Kierkegaard và Sartre trước 30 cặp mắt ngơ ngác trống rỗng, ông gọi bọn chúng là các “siêu nhân”. Năm ngoái ông đã bỏ đi.
Cô ta trông thật đau khổ. Tôi đổi đề tài:
- Cô nói đến “những vệ sỹ già”. Vậy họ là những ai?
- Đó là những sinh viên đã tốt nghiệp từ Đại học Jedson này, những người thực sự có một niềm đam mê khác ngoài đam mê kiếm tiền. Họ tiếp tục học để lấy thêm bằng cao hơn về các môn nhân văn - những thứ hoàn toàn vô dụng giống như lịch sử, văn học hay xã hội học vậy. Rồi họ lại bò trở lại Trường để giảng dạy. Jedson đã tự có cách để chăm sóc mình.
- Tôi nghĩ chắc những giáo viên này sẽ dễ dàng thông cảm được với những sinh viên vì họ đều có chung hoàn cảnh.
- Chắc chắn là vậy. Họ bám trụ được ở đây. Phần lớn bọn họ đều cao tuổi. Trong mấy năm trở lại đây có ít sinh viên quay trở lại giảng dạy. Số lượng “những vệ sỹ già” có lẽ đang ít đi. Thực ra, một vài người trong bọn họ khá đứng đắn. Tôi có cảm giác họ chính là những người bị tầng lớp của mình ruồng bỏ, những người không hợp cảnh. Tôi cho rằng kể cả những đẳng cấp đặc quyền thì cũng có những người bị ruồng bỏ.
Vẻ mặt của cô ta chứng tỏ bản thân cô ta đã nếm trải kinh nghiệm về nỗi đau bị xã hội ruồng bỏ. Có lẽ cô cảm thấy mình sắp vượt qua ranh giới của bình luận xã hội và đi sang lĩnh vực thoát y tâm lý, vì thế cô ta thu mình lại, đeo kính và cười một cách chua chát.
- Thế còn quan hệ đối ngoại thì sao?
- Với những người mới đến thì người ta đã có cách để kiểm soát. Chính tôi đã chứng kiến một phần và một phần được biết qua người khác.
- Chắc là từ ông bạn học giả của cô đúng không?
- Đúng - Cô ta dừng lại và với tay lấy một cái túi xách tay giả da to quá cỡ. Không bao lâu sau cô ta đã tìm được cái cô ta cần.
- Đây là Lee - Cô ta nói, và đưa cho tôi một tấm ảnh chụp cô và một người đàn ông thấp hơn cô đến vài chục phân.
Người đàn ông đầu đang bị hói, có những búi tóc quăn, đen và dày ở hai bên tai, ria mép dày và đen, cặp kính tròn không vành, ông ta mặc chiếc áo sơ-mi màu xanh nhạt và quần jeans, đi đôi ủng cao cổ. Margaret Dopplemeier mặc chiếc áo cánh mỏng làm nổi bật thân hình xương xẩu, chiếc quần nhung rộng thùng thình và đôi dép quai hậu đế thấp. Cô đang choàng hai tay ôm lấy người đàn ông, làm ra vẻ một người mẹ và một đứa trẻ.
- Bây giờ ông ấy đã ở New Mexico và đang viết sách. Ông ấy nói rằng ông ấy đang ở một mình.
Tôi đưa lại tấm ảnh cho cô ta.
- Các nhà văn thường cần sự yên tĩnh như thế.
- Vâng. Chúng tôi đã cùng bàn khá nhiều về cuốn sách ông ấy viết - Cô ta bỏ tấm ảnh kỷ niệm vào túi xách và đưa tay với đĩa pho mát. Bỗng cô ta dừng tay lại như thể đột nhiên bị mất hứng ăn.
Tôi để cho một vài giây yên lặng trôi qua rồi khéo léo chuyển khỏi đề tài cuộc sống riêng tư của cô.
- Những điều cô vừa kể thật thú vị, cô Margaret ạ. Jedson được thiết lập với đầy đủ số người đăng ký học mà nó cần. Nó là một hệ thống hoàn toàn tự túc tự cấp.
Từ “hệ thống” có thể là một chất xúc tác tâm lý cho bất kỳ ai nghiêng theo hướng tả khuynh. Nó đã kích thích cô ta mở máy.
- Không sai chút nào, thưa ông. Tỷ lệ sinh viên có cha mẹ tốt nghiệp từ Đại học Jedson cao đến mức khó tin. Tôi dám đánh cược với ông rằng 2 ngàn sinh viên của trường này là con em của không quá dăm bảy trăm gia đình. Tôi đã tìm thấy nhiều sinh viên có chung họ khi soạn danh sách. Vì thế, lúc trước, khi ông nói trường này là một gia đình tôi đã giật nảy mình. Tôi nghĩ chắc ông đã biết nhiều về Trường.
- Tôi không hề biết gì cho tới khi tôi tới đây.
- Vâng. Có lẽ tôi đã nói quá nhiều rồi, phải vậy không?
Tói kiên trì thuyết phục:
- Chỉ giữa chúng ta thôi. Lãnh đạo nhà trường này đâu muốn cho thiên hạ biết về mình.
- Tất nhiên là thế. Jedson là một trường đại học cổ lỗ sỹ. Nó sống sót đến thế kỷ 20 này là do nó luôn nhỏ bé và không để cho bàn dân thiên hạ được biết nhiều về nó. Nhiệm vụ hướng dẫn của tôi cho ông là làm sao để ông ăn uống no say và dẫn ông đi dạo một vòng quanh sân trường, rồi hộ tống ông ra về với ít hoặc không có chút thông tin nào để viết lách. Ban quản trị của trường Jedson không muốn trường bị đưa lên mặt tạp chí Los Angeles Times. Họ không muốn thò cái đầu xấu xa của họ ra đâu.
- Cô Margaret, tôi đánh giá cao sự thành thật của cô.
Lúc đó, tôi cảm tưởng cô ta sắp khóc.
- Đừng làm như thể tôi là một vị thánh nhé. Tôi không phải là thánh đâu và tôi biết điều đó. Chuyện tôi nói với ông là sự dối trá, lọc lừa. Những người ở đây không phải toàn xấu cả, tôi không có quyền gì để bóc trần họ trước người khác. Họ đã đối xử tử tế với tôi. Nhưng tôi đã phát ngán phải giả tảng với họ rồi, phải tham gia vào những buổi tiệc trà kỳ cục với những người phụ nữ có thể nói thao thao bất tuyệt cả ngày về các mẫu hoa văn đồ gốm và cách bày dao dĩa. Họ có cả lớp giảng dạy về cách bày dao dĩa ở đây đấy, ông có tin điều này không?
Cô ta nhìn vào đôi bàn tay mình như thể đang cầm giữ vật gì đó mong manh như một đồ gốm.
- Công việc của tôi chỉ là một sự giả vờ, ông Alex ạ. Tôi chẳng qua chỉ là một cô làm công tác gửi thư từ. Nhưng tôi sẽ không rời nơi này - Cô ta khẳng định để phản đối lại một đối thủ vô hình nào đó - Không phải vào lúc này, không phải vào giai đoạn này của cuộc đời tôi. Tôi thức giấc và được nhìn thấy mặt hồ. Tôi có những cuốn sách và một cái máy chạy đĩa tốt. Tôi có thể đi hái quả mâm xôi về ăn vào buổi sáng với kem ngay cạnh nơi này.
Tôi không nói gì.
- Ông sẽ không phản bội tôi chứ? - Cô ta hỏi.
- Tất nhiên là không rồi, thưa cô Margaret thân mến.
- Vậy thì xin ông hãy đi đi. Đừng đưa chuyện của Jedson vào bài phóng sự của ông. Nơi này không có chỗ cho một người ngoài.
- Tôi không thể.
Cô ta ngồi thẳng trên chiếc ghế.
- Tại sao lại không? - Giọng cô ta vừa lo sợ lại vừa tức tối, mắt phát ra những tia hung dữ. Tôi có thể hiểu tại sao người yêu của cô ta lại phải bỏ đi tìm sự yên tĩnh. Tôi chắc rằng ông không chỉ muốn trốn thoát khỏi những tâm hồn bị tê liệt của sinh viên trường Jedson mà còn chạy trốn cái gì đó nữa.
Tôi không biết phải làm gì để tiếp tục cuộc nói chuyện với cô ta ngoài việc nói ra sự thật và đề nghị cô ta cùng hợp tác. Tôi hít một hơi dài và nói lý do thực sự của chuyến viếng thăm.
Khi tôi nói xong, mặt cô ta không khác gì một đứa trẻ, vẻ mặt phụ thuộc và chiếm hữu, vẻ mặt mà tôi đã được nhìn thấy trong tấm ảnh của cô ta. Tôi muốn chạy trốn nhưng chiếc ghế của tôi còn cách cửa khá xa.
- May lắm - Cô ta nói - Lẽ ra tôi phải cảm thấy bị lợi dụng, bị khai thác. Nhưng tôi không có cảm giác đó. Ông có một khuôn mặt thật thà. Ngay những lời nói dối của ông cũng ngay thẳng.
- Tôi không ngay thẳng bằng cô, thưa cô. Tôi chỉ muốn có một vài thông tin. Xin cô hãy giúp tôi.
- Tôi từng là một thành viên của Tổ chức Sinh viên Vì một Xã hội Dân chủ, ông biết không. Cảnh sát là những con lợn đối với tôi trong những ngày ấy.
- Bây giờ không phải là những ngày ấy nữa, còn tôi cũng không phải là một cảnh sát. Chúng ta không nói về các học thuyết trừu tượng và các cuộc bút chiến cách mạng nữa. Đây là một vụ giết người có tới ba bốn nạn nhân, có thể là nhiều hơn nữa, thưa cô Margaret. Đây không phải là các vụ ám sát chính trị. Họ là những người vô tội bị băm vằm thành nhiều miếng, máu me be bét. Trẻ con thì bị ô tô đâm giữa đường.
Cô ta rùng mình, quay mặt đi nơi khác, đưa tay lên miệng, rồi quay mặt lại nhìn tôi.
- Và ông nghĩ rằng một trong số bọn họ - một sinh viên của Đại học Jedson này - là thủ phạm gây ra tất cả những chuyện ấy ư? - Ý nghĩ ấy đã hấp dẫn cô ta.
- Tôi nghĩ có hai người trong những sinh viên của trường này có liên quan.
- Tại sao ông lại theo vụ này? Ông nói ông là một bác sỹ tâm thần cơ mà.
- Là chuyên gia tâm lý học.
- Gì cũng được. Ông có lợi gì trong vụ này?
- Không có gì cả. Cô nên tin rằng tôi chẳng được lợi lộc gì cả.
- Ông đùa đấy chăng?
- Tôi chỉ muốn thực hiện công lý. Nó làm tôi day dứt không yên.
- Tôi tin ông - Cô ta dịu giọng.
***
Margaret trở ra khoảng 20 phút và khi trở về cô ta ôm theo một chồng tài liệu được bó cẩn thận bằng dây da Ma-rốc màu xanh.
- Đây là những cuốn niên giám của trường, nếu như những dự đoán về tuổi của ông là đúng. Tôi sẽ để ông xem, còn tôi thì sẽ tìm kiếm các hồ sơ về sinh viên nam của trường. Khoá chặt cửa lại khi tôi ra ngoài và đừng mở cửa khi có tiếng gõ. Tôi sẽ gõ 3 tiếng, rồi 2 tiếng. Đó là tín hiệu của chúng ta.
- Rõ.
- Ha - Cô ta cười to, và lần đầu tiên tôi trông cô ta có vẻ hấp dẫn.
Timothy đã nói dối về việc anh ta từng là một sinh viên nghèo học tại Jedson. Gia đình anh ta đã quyên góp 2 toà nhà cho trường, và chỉ cần đọc qua quýt cũng nhận ra họ nhà Kruger quan trọng với trường này. Dù vậy, phần nói về năng lực thể thao của anh ta không có gì sai lạc. Anh ta có khá nhiều thành tích trong môn chạy, bóng chày và vật Hi-La. Các bức ảnh của anh ta trong cuốn niên giám trông giống người đàn ông mà tôi đã nói chuyện với mấy ngày trước. Có những bức ảnh chụp anh ta đang chạy nước rút, ném lao và đang tập kịch trong vai Hamlet và Petruchio. Tôi có ấn tượng anh ta là một người quan trọng trong trường đại học này. Tôi tự hỏi không biết tại sao anh ta lại đến làm việc ở La Casa de los Ninos và phải hoạt động với giấy tờ giả mạo.
Trong các bức ảnh thời trẻ, L. Willard Towle là một thanh niên tóc vàng như diễn viên Tab Hunter. Căn cứ vào những ghi chú bên dưới tên của Towle thì lão từng là Chủ tịch câu lạc bộ dự bị học y và Tổ chức vinh danh sinh vật học, trưởng nhóm đua thuyền. Có một dấu sao dẫn tới một lời ghi chú cuối trang đề nghị người đọc giở tới trang cuối của cuốn sách. Tôi tuân theo lời chỉ dẫn và tìm được một bức ảnh viền đen - giống y bức ảnh tôi đã nhìn thấy treo ở văn phòng của Towle, bức ảnh có vợ và con lão chụp trên nền hồ nước và núi non. Phía dưới tấm ảnh có ghi:
Tưởng nhớ tới
Lihah Hutchison Towle
1930 -1951
Lionel Williard Towle, con.
1949 -1951
Bên dưới dòng chữ đề tưỏng niệm này là bốn câu thơ:
Đêm dài sao trôi nhanh,
Làm tàn đi hi vọng,
Nhưng trong đêm đen thậm
Vẫn ánh ngời bình yên.
Dòng đề thơ được ký chữ s.
Tôi đang đọc lại bài thơ thì Margaret Dopplemeier gõ cửa theo tín hiệu. Tôi kéo then mở cửa cho cô ta vào. Tay cô ta cầm một chiếc phong bì lớn. Cô ta cài cửa lại, đi ra sau bàn làm việc và mở phong bì, lắc cho rơi ra hai cái thẻ mục lục cỡ 8x13 cen-ti-mét.
- Những cái này được lấy ra từ hồ sơ bất khả xâm phạm của các nam sinh viên đấy - Cô ta liếc nhìn một chiếc thẻ và đưa cái đó cho tôi - Đây là vị bác sỹ của ông.
Tên của Towle ở trên đỉnh tấm thẻ, được viết bằng chữ đẹp. Có bảy mục ở bên dưới do những người khác nhau viết bằng nhiều màu mực khác nhau. Phần lớn những dòng chữ đều được viết bàng chữ viết tắt và ký hiệu số
- Cô có thể giải thích cho tôi nội dung tấm thẻ không?
Cô ta di vòng ra ngồi cạnh tôi, cầm lấy tấm thẻ và nghiên cứu.
- Chẳng có gì bí ẩn trong tấm thẻ này cả. Những chữ viết tắt là nhằm để tiết kiệm không gian viết. Năm chữ số sau cái tên là mã số của sinh viên, để tiện gửi thư, lập hồ sơ. Sau đó là con số 3, nghĩa là thành viên thứ ba của gia đình đã tham gia vào Jedson. Chữ “med (y)” tự nó đã giải thích rồi - nó là mã nghề nghiệp. Rồi đến chữ “F:med”, có nghĩa gia đình có truyền thống về nghề y. Nếu nó được gửi bằng tàu đi thì có chữ “shp”, nếu đưa đến ngân hàng thì ghi chữ “bnk”, và vân vân. “B:51” là năm ông ta nhận được bằng tốt nghiệp đại học. Chữ “M:J, 148793” cho biết ông ta đã lấy một sinh viên khác của Đại học Jedson. Còn đây là một điều thú vị - có một chữ “d” được viết trong ngoặc đơn phía sau mã của vợ ông ta, điều đó có nghĩa là bà ấy đã chết vào ngày 17 tháng 6 năm 1951 - bà chết khi đang còn là sinh viên tại trường. Ông có biết điều đó không?
- Tôi có biết. Có cách nào để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này không?
Cô ta đăm chiêu suy nghĩ rồi nói:
- Chúng ta có thể kiểm tra báo địa phương trong tuần đó để tìm một cáo phó hay thông báo tang lễ.
- Thế còn báo sinh viên thì sao?
- Tờ báo Spartan là một cái giẻ rách - Cô ta nói một cách khinh bỉ - nhưng tôi nghĩ tờ báo này có thể đăng tải những thứ như vậy đấy. Thư viện ở phía bên kia của khuôn viên có báo lưu. Chúng ta có thể tới đó sau. Ông nghĩ thế nào?
Mặt cô ta ửng đỏ, dáng vẻ như một cô gái hoàn toàn bị thu hút vào câu chuyện.
- Có thể lắm, cô Margaret ạ. Tôi muốn biết tất cả mọi thứ về những con người này.
- Van der Granf - Cô thốt lên.
- Là cái gì thế?
- Giáo sư Van der Graaf, khoa lịch sử. Ông là “vệ sỹ già” cao tuổi nhất, đã làm việc tại trường này lâu hơn bất cứ ai mà tôi biết. Ngoài ra, ông còn là một người thích nói chuyện phiếm. Tôi đã ngồi cạnh ông tại một bữa yến tiệc và ông đã nói cho tôi biết tất cả các loại tin tức thú vị - từ ai ngủ với ai, những trò bẩn thỉu của các khoa và những thứ đại loại như thế.
- Thế mà họ vẫn để yên cho ông ta sao?
- Ông ta sắp đến tuổi 90 rồi, của cải gia đình ông ta nhiều như đất, không vợ con, không người thừa kế. Họ đang đợi ông ngoẻo và để lại toàn bộ số tiền đó cho trường. Ông ấy có nhiều vinh dự lắm. Ông có một văn phòng tại khuôn viên, sống ẩn dật ở đó giả vờ đang viết sách. Tôi sẽ không lấy làm ngạc nhiên nếu ông đang ngủ trong văn phòng. Ông ta biết nhiều về Jedson hơn bất kỳ ai.
- Cô nghĩ rằng ông ta sẽ nói chuyện với tôi?
- Nếu ông ta có tâm trạng vui vẻ. Thực ra tôi đã nghĩ đến ông ta khi ông nói với tôi qua điện thoại rằng ông muốn tìm hiểu về những sinh viên nam có tiếng của trường. Nhưng tôi lo để ông ta ở một mình với một nhà báo thì quá nguy hiểm. Không thể biết trước được ông ta sẽ làm hay nói cái gì.
Cô ta cười khoái chí khi nghĩ đến khả năng ông già sẽ nổi loạn.
- Tất nhiên bây giờ thì tôi đã biết ý định của ông rồi - Cô ta tiếp tục nói - Ông ta sẽ là một nguồn thông tin tuyệt vời. Ông cần phải nghĩ ra một câu chuyện nào đó để giải thích về lý do ông muốn nói chuyện về Towle, nhưng tôi nghĩ sẽ không khó với một người điệu nghệ như ông.
- Vậy thì thế này nhé: “Tôi là một nhà báo của tờ Tin tức Thế giới Y học. Tên tôi là Bill. Towle vừa được bầu làm Hiệu trưởng Học viện Y tế Nhi đồng và tôi đang viết một câu chuyện về xuất thân của ông ấy.
- Nghe kêu lắm. Vậy tôi gọi điện cho ông ấy nhé.
Cô ta tới điện thoại và nhìn một lần nữa vào tấm thẻ sinh viên của Towle. Thông tin duy nhất mà cô ta không nhìn thấy có lẽ là một cột ghi dưới hàng chữ “Đóng góp cho Jedson số tiền:”. Số tiền ghi bên dưới khoảng chừng 10 ngàn đô-la mỗi năm. Towle là một đứa con trai trung thành của gia tộc.
Cô ta nói:
- Xin chào giáo sư Van der Graaf, tôi là Margaret Dopplemeier thuộc Ban đối ngoại đây. Tôi vẫn khoẻ, cảm ơn ông, còn ông thế nào? Khoẻ ư. Ôi, tôi nghĩ tôi không thể ngờ được, thưa giáo sư - Cô ta đưa một tay che ống nghe lại và nháy mắt với tôi, miệng nói nhỏ: “tâm trạng ông ấy đang vui” - Tôi không biết giáo sư thích pizza. Không, không, tôi cũng không thích món cá trống. Vâng, tôi thích Duesenbergs lắm. Tôi biết giáo sư thích mà... Vâng, tôi biết. Vừa mưa to lắm, giáo ư ạ. Vâng, tôi sẽ... Vâng, khi nào thời tiết đẹp. Chắc chắn. Tôi sẽ mang pizza đến cho giáo sư.
Cô ta tán tỉnh với Van der Graaf thêm 5 phút nữa và cuối cùng đã đề cập đến chuyến viếng thăm của tôi. Cô ta lắng nghe, đưa tay ra hiệu cho tôi rằng ông đã đồng ý và rồi lại tiếp tục tán. Tôi nhặt tấm thẻ của Kruger lên.
Anh ta là thành viên thứ 5 của gia đình đã tham gia vào Đại học Jedson và lời ghi trong tấm thẻ cho biết anh ta được nhận bằng 5 năm trước. Không thấy nói tới vị trí hiện tại, hôn nhân và tiền quyên góp cho nhà trường. Tuy nhiên, có một lời chỉ dẫn tham khảo chéo khá thú vị. Bên dưới dòng chữ Rel -F (quan hệ họ hàng): có tên của Towle. Cuối cùng, ba chữ cái DLT được viết bằng chữ to ở cuối tấm thẻ.
Margaret rời điện thoại.
- Ông ấy sẽ tiếp ông - Cô ta nói.
Tôi hỏi cô ta về tên của Towle trên tấm thẻ của Kruger.
- REL-F nghĩa là quan hệ họ hàng. Rõ ràng hai đối tượng của ông là anh em họ hàng đấy.
- Tại sao cái đó không được liệt kê trên thẻ của Towle?
- Có lẽ dòng này được thêm vào sau khi ông ta đã tốt nghiệp. Thay vì phải tìm lại và đánh dấu vào từng thẻ một thì họ chỉ ghi vào tấm thẻ mới. Dù vậy thì ba chữ cái DLT còn có ý nghĩa hơn. Anh ta đã bị xoá tên khỏi hồ sơ.
- Sao lại thế?
- Tôi không biết. Nó không nói rõ. Chắc là có vi phạm gì, cái đó đã khiến nhà trường muốn rửa sạch tay với sinh viên này - Cô ta ngước nhìn tôi - Càng ngày càng có nhiều thú vị, phải vậy không?
- Rất thú vị.
Cô ta nhét các tấm thẻ trở lại cái phong bì và cho vào ngăn kéo bàn làm việc rồi khoá lại.
- Giờ tôi đưa ông đến chỗ giáo sư Van der Graaf.