Ba Bóng Đen

Lượt đọc: 215 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22

❊ ❊ ❊

22

Một cái lồng thang máy mạ vàng đưa chúng tôi tới tầng thứ năm của một toà nhà vòm ở phía Tây của khuôn viên. Cửa thang máy mở ra và chúng tôi được đưa tới một phòng lớn hình tròn yên tĩnh, chân tường ốp đá hoa cương và đầy bụi bặm. Trần nhà được trát hình lòng chảo, trên đó có một bức họa đã mờ vẽ những thiên đồng đang thổi kèn. Tường nhà bằng đá và bốc mùi giấy mực. Một cánh cửa kính hình thoi tĩnh tại nằm ngăn đôi hai chiếc cửa bằng gỗ sồi. Một cánh cửa có ghi "Phòng Bản đồ" và như thể nó đã được mở tại đây hàng thế hệ người. Cánh cửa còn lại không dán nhãn.

Margaret gõ vào cánh cửa không dán nhãn. Khi không có tiếng trả lời, cô ta lấy tay đẩy cửa mở ra. Căn phòng có trần cao và rộng, những cánh cửa sổ như trong thánh đường nhìn ra cảng. Tất cả những khoảng không gian trên bờ tường đều được nhét bừa bãi sách, những cuốn sách đã rách nát. Những cuốn không tìm được chỗ trên giá bị ném lung tung thành từng đống dưới nền nhà. Giữa căn phòng là một chiếc bàn kê trên niễng (chân gấp) xếp đầy những bản viết tay và sách. Một quả cầu lớn nằm trên một cái trụ có bánh xe và một cái bàn làm việc có chân nhọn được đẩy vào góc nhà. Trên bàn là chiếc khăn ăn đầy mỡ nhàu nát và một chiếc hộp đồ ăn nhanh của hãng McDonald.

- Giáo sư ơi? - Margaret gọi rồi quay sang tôi hỏi - Không biết giáo sư đã đi đâu rồi nhỉ?

- He nhìn này! - Tiếng kêu phát ra từ một nơi nào đó phía sau cái bàn kê trên niễng.

Margaret nhảy dựng lên, cái bóp rơi khỏi tay cô ta. Những thứ đồ trong bóp rơi hết ra mặt sàn nhà.

Một cái đầu xương xẩu trồi lên khỏi đống giấy đã ố vàng.

- Xin lỗi đã làm cho cô em giật mình - Cái đầu đã hiện rõ và lắc lư trong điệu cười không thành tiếng.

- Giáo sư - Margaret nói - Giáo sư nên thấy xấu hổ về việc này - Cô ta cúi xuống để nhặt những thứ đã rơi trên sàn nhà.

Ông giáo sư chòi ra khỏi phía sau bàn với vẻ mặt buồn ngủ. Cho tới lúc đó thì tôi vẫn nghĩ là ông ta đang ngồi. Nhưng khi cái đầu của ông dần hiện rõ thì tôi đã nhận ra là ông đang đứng đó từ lâu.

Ông cao khoảng 1 mét 30. Thân hình ông như bị gấp xuống ở chỗ eo lưng, sống lưng cong hình chữ s, cái lưng dị dạng ấy bị một cái bướu to bằng chiếc ba lô đè nặng. Đầu ông lão dường như quá to đối với khung xương của ông, tóc chỉ còn lưa thưa vài sợi đã bạc trắng. Khi ông di chuyển, ông giống như một con bọ cạp uể oải.

Ông có một vẻ mặt giả ăn năn nhưng những nếp nhăn trên đôi mắt màu xanh đẫm nước nói lên điều đó nhiều hơn cái miệng không môi đã méo của ông.

- Tôi giúp gì được cô em đây? - Giọng ông khô khan và tỏ ra là người có văn hoá.

Margaret thu lượm những món đồ cá nhân cuối cùng trên sàn nhà và nhét vào trong bóp.

- Không, cảm ơn giáo sư. Tôi đã nhặt xong rồi - Cô ta lấy lại hơi và cố ra vẻ đã bình tĩnh.

- Cô em sẽ đi ăn pizza cùng ông anh già này chứ?

- Với điều kiện ông phải tử tế đấy.

Ông lão chắp tay lại như thể cầu nguyện.

- Tôi xin hứa đấy, cô em ạ - ông lão nói.

- Được rồi. Thưa giáo sư, đây là Bill Roberts, nhà báo mà tôi đã kể cho giáo sư nghe đấy. Bill này, đây là giáo sư Garth Van der Graaf.

- Xin kính chào giáo sư.

Ông lão ngước cặp mi buồn ngủ nhìn lên tôi.

- Anh không giống như Clark Kent - Ông nói.

- Giáo sư nói gì tôi chưa hiểu?

- Không phải các phóng viên báo đều phải giống như Clark Kent là gì?

- Tôi không biết về quy định này của liên đoàn.

- Tôi đã được phỏng vấn bởi một phóng viên sau chiến tranh, Đại chiến thế giới thứ hai ấy. Anh ta muốn biết về tầm quan trọng của cuộc chiến tranh trong lịch sử. Anh ta trông giống Clark Kent - Ông lấy tay xoa cái đầu đầy dấu hiệu của người bị bệnh gan - Chàng trai, anh có kính hay cái gì đó không?

- Xin lỗi giáo sư, nhưng mắt tôi hoàn toàn bình thường...

Ông lão quay lưng lại phía tôi và bước tới một trong những cái giá sách. Dáng đi như loài bò sát của ông trông kỳ quái, thân ông di chuyển xiên xiên trong lúc ông đi thẳng về phía trước. Ông chậm rãi trèo lên một cái ghế để chân, với tay lấy một cuốn sách bọc da, trèo xuống và quay trở lại chỗ tôi.

- Nhìn đây này - Ông vừa nói vừa mở cuốn sách ra. Đó là một cái cặp chứa một tập các trang truyện tranh - Đây là người mà tôi muốn nói.

Một ngón tay run run của ông chỉ vào một bức ảnh nhà báo nổi tiếng của tờ Daily Planet đang đi vào buồng điện thoại.

- Clark Kent đấy. Đó là một nhà báo.

- Tôi chắc là ông Roberts đây biết nhà báo Clark Kent là ai, thưa giáo sư.

- Vậy thì để anh ta quay lại đây khi nào anh ta trông giống nhà báo Clark Kent hơn. Lúc đó tôi sẽ nói chuyện với anh ta - Ông lão đốp luôn.

Margaret và tôi nhìn nhau bất lực. Cô ta chuẩn bị định nói điều gì đó thì Van der Graaf hất đầu về phía sau kêu lốp đốp.

- Tôi nói đùa đấy! - Ông lão cười hắc hắc vẻ đắc thắng vì cú lừa của mình, rồi tiếng cười biến thành một tràng ho sặc sụa,

- Ôi trời, giáo sư ơi là giáo sư! - Margaret mắng ông lão.

Họ lại xông vào nhau như hai kẻ đang kịch chiến bằng miệng. Tôi bắt đầu nghi ngờ sự bền vững trong mối quan hệ của họ. Tôi đứng bên cạnh cảm giác như một khán giả bất đắc dĩ xem một cuộc biểu diễn kỳ quái.

- Cô em ơi, cô hãy thú nhận đi - Ông lão nói - tôi đã lừa được cô em rồi nhé! - Ông lão dậm chân xuống sàn vui vẻ như một đứa trẻ - Cô em nghĩ tôi đã hoàn toàn bị lão suy rồi phải không?

Margaret cười:

- Giáo sư cỏn khoẻ hơn cả tôi. Giáo sư vẫn còn cười đùa chẳng khác một thanh niên.

Những hi vọng của tôi có được thông tin đáng tin cậy từ ông lão ngày càng tắt dần. Tôi hắng giọng.

Cả hai người bọn họ ngừng cười đùa và nhìn tôi. Một cái bong bóng nước miếng đã sùi bên khóe mép nhăn nheo của Van der Graaf. Đôi tay ông run bần bật như người bị bại liệt. Margaret cao vượt hơn ông lão, tay chống nạnh.

- Giờ xin giáo sư hãy hợp tác với ông Roberts - Cô ta nói một cách nghiêm nghị.

Van der Graaf ném một cái nhìn bẩn thỉu sang phía tôi.

- Ồ, được, được - Ông lão than vãn - Nhưng với điều kiện cô em phải chở tôi đi quanh hồ trên chiếc Doosie của tôi đấy.

- Tôi đã nói là tôi sẽ làm, thưa giáo sư.

- Tôi có một con Duesenberg đời 37 - Ông lão giải thích cho tôi - Loại xe con tuyệt đẹp ấy. Bốn trăm con ngựa khoẻ dưới một cái mũ màu đỏ chói. Những cái ống bằng crôm. Nó ăn xăng điên cuồng. Tôi không thể lái được nó nữa. Cô em Maggie (Margaret - cách gọi thân mật) đây là một tay lái cừ. Dưới sự dẫn dắt của tôi thì cô ấy có thể lái được. Nhưng cô ấy lại từ chối.

- Giáo sư Van der Graaf, có một lý do tại sao tôi lại từ chối giáo sư. Đó là trời đang mưa nên tôi không muốn ngồi sau một chiếc xe trị giá tới 200 ngàn đô-la trong thời tiết đầy nguy hiểm này.

- Ôi dào. Tôi đã từng lái con xe đó từ đây tới Sonoma năm 1944. Nó bất chấp thời tiết tốt xấu.

- Được rồi, tôi sẽ lái xe chở giáo sư đi. Vào ngày mai, nếu tôi nhận được thông báo từ ông Roberts đây rằng giáo sư có tinh thần hợp tác tốt.

- Tôi là giáo sư. Tôi có quyền đánh giá.

Cô ta không thèm để ý đến lời của ông lão.

- Tôi phải tới thư viện đây, ông Roberts ạ. Ông có biết đường trở lại văn phòng của tôi không?

- Tất nhiên thưa cô.

- Tôi sẽ gặp lại ông sau khi ông đã xong việc. Chào tạm biệt giáo sư nhé. 

- 1 giờ ngày mai nhé. Nắng hay mưa cũng phải đến đấy - ông lão gọi với theo.

Khi cánh cửa đóng lại thì ông lão mới mời tôi ngồi xuống.

- Tôi sẽ đứng. Tôi không tìm được cái ghế nào vừa với mình. Khi tôi còn là một cậu bé, bố tôi đã gọi các thợ mộc và thợ chạm khắc đến, cố làm cho tôi những cái ghế có thể giúp tôi ngồi thoải mái được. Nhưng đều vô ích. Đúng là họ có làm ra được một vài cái ghế đẹp - Ông lão cười, và bám vào cái bàn kê trên niễng - Tôi đã đứng gần hết cuộc đời tôi rồi. Hoá ra cuối cùng nó lại có lợi. Tôi đã có đôi chân cứng như gang thép. Máu tôi lưu thông tốt như của một anh chàng bằng nửa tuổi tôi.

Tôi ngồi trong chiếc ghế bành bọc da. Chúng tôi ngang tầm mắt nhau.

Ông lão nói:

- Cái cô Maggie ấy, đúng là một cô gái đáng buồn. Tôi tán đùa với cô ấy để làm cho cô ấy phấn chấn lên đấy. Dường như lúc nào cô ấy cũng cô đơn.

Ông lục lọi trong đám giấy tờ và kéo ra một cái lọ bẹt.

- Rượu Whisky Ai Len. Anh sẽ tìm thấy hai cái ly trong ngăn kéo trên cùng bên phải của bàn làm việc. Anh làm ơn tới đó lấy hộ tôi.

Tôi tìm thấy những cái ly trống không có gì là sạch sẽ. Van der Graaf rót vào mỗi cốc một ít rượu Whisky mà không để rớt ra một giọt nào.

- Này của anh.

Tôi chăm chú theo dõi ông lão nhấp rượu và tôi làm theo.

- Anh có nghĩ rằng cô ta còn là gái trinh không? Liệu điều ấy có xảy ra trong thời đại này và ở tuổi đó không nhỉ? - Ông lão đặt ra những câu hỏi như thể đây là những câu đố khó. 

- Thưa giáo sư, cái đó tôi không thể nói được. Tôi chỉ mới gặp cô ta một giờ trước đây.

- Tôi không tin được, làm gì còn trinh tiết ở tuổi của cô ta. Nhưng bảo cô ta có cặp giò mơn mởn và cái mông bốc lửa thì cũng vô lý không kém - Ông lão uống thêm rượu Whisky, âm thầm tưởng tượng về cuộc sống tình dục của Margaret Dopplemeier, mắt nhìn không chớp vào khoảng không.

Cuối cùng ông lão nói:

- Anh là một chàng trai kiên nhẫn. Đúng là một phẩm chất hiếm có.

Tôi gật đầu.

- Đúng. Tôi công nhận là tôi có tính hơi trẻ con. Đó là cái đặc quyền của tuổi tôi và địa vị của tôi. Anh có biết, kể từ lần cuối cùng tôi đứng giảng hay viết một báo cáo khoa học đến nay là bao lâu không?

- Tôi nghĩ chắc cũng khá lâu rồi.

- Hơn hai thập kỷ rồi đấy. Kể từ đó tới nay, tôi chỉ ở đây, hưởng thụ sự yên tĩnh một mình với lý do: cần yên tĩnh để suy nghĩ - thực tế thì tôi lười nhác, chỉ ngủ thôi. Và, tôi còn là một giáo sư danh dự. Anh có cho rằng đây đúng là một trường ngu xuẩn chịu chấp nhận những lý do vô lý của tôi không?

- Có lẽ người ta nghĩ rằng giáo sư có quyền được hưởng hưu trí trong danh dự.

- Ha - Ông lão vẩy tay - Cái đó nghe giống sự chết chóc quá. Nghỉ hưu danh dự để rồi cho giòi nó gặm hết các ngón chân chứ gì. Tôi nói thật với anh, chàng trai trẻ ạ, rằng tôi chưa bao giờ có được cái gì cả. Tôi viết tới 67 nghiên cứu khoa học cho các tờ tạp chí khoa học nhưng chỉ có 5 công trình là được đăng, còn lại bị ném vào sọt rác hết. Tôi đồng biên tập 3 cuốn sách mà không hề có một độc giả nào, và nói tóm lại, tôi đã có một cuộc đời của một kẻ lười nhác vô tích sự. Thật là sung sướng.

Ông lão uống hết ly Whisky và đặt mạnh cái ly xuống bàn.

- Họ giữ tôi lại đây là vì tôi có hàng triệu đô-la ở một tài sản uỷ thác miễn thuế do cha tôi lập nên cho tôi và hi vọng tôi sẽ để lại toàn bộ cho họ - Ông cười khùng khục - Cũng có thể tôi để cho họ mà cũng có thể không. Có lẽ tôi sẽ di chúc tất cả số tiền ấy lại cho một tổ chức nào đó của người da đen, hay cái gì đó tương tự. Có thể là một tổ chức đấu tranh vì quyền lợi của người đồng tính nữ. Có một tổ chức nào như vậy không, hả anh?

- Tôi nghĩ là có đấy.

- Đúng vậy. Chắc chắn ngay tại California thôi. Nói về điều này, anh muốn biết về Willie Towle đến từ Los Angeles, phải vậy không?

Tôi nhắc lại câu chuyện về tờ báo Tin tức Thế giới Y học.

- Được rồi - Ông lão thở dài - Nếu anh cứ nài nỉ thì tôi sẽ thử giúp anh xem sao. Có trời mới biết tại sao lại có người quan tâm đến Willie Towle, vì một người đần độn hơn nó chưa đặt chân lên khuôn viên trường đại học này. Khi tôi được biết nó trở thành một thầy thuốc, tôi đã ngạc nhiên. Tôi không bao giờ nghĩ rằng nó lại có đủ khả năng trí tuệ để làm được một việc tiên tiến đến vậy. Tất nhiên gia đình nó thì có truyền thống lâu đời về nghề y - một trong những người họ nhà Towle từng làm bác sỹ phẫu thuật riêng của tướng Grant trong suốt cuộc nội chiến đấy. Đấy có thể là một điểm trong bài viết của anh - và tôi nghĩ rằng để Willie Towle được nhận vào một trường y hoàn toàn không phải là điều khó.

- Ông ta đã trở thành một bác sỹ thành công đấy, thưa giáo sư.

- Cái đó không làm tôi ngạc nhiên. Có nhiều kiểu thành công. Một kiểu thành công đòi hỏi có sự kết hợp của các cá tính mà thực sự Willie có, đó là sự kiên trì, ít tưởng tượng và chủ nghĩa bảo thủ bẩm sinh. Tất nhiên, thân hình khoẻ mạnh và một khuôn mặt khả ái thì không có hại gì. Tôi dám cá với anh rằng nó đã không trèo lên các bậc thang danh vọng bởi vì nó là một nhà tư tưởng khoa học uyên bác hay một nhà nghiên cứu có nhiều sáng kiến. Sức mạnh của nó nằm ở những cái trần tục hơn, có phải vậy không?

Tôi tiếp tục khăng khăng cãi:

- Ông ấy nổi tiếng là một bác sỹ giỏi, giáo sư ạ. Các bệnh nhân của ông ấy nói toàn những điều tốt về ông ấy.

- Không còn nghi ngờ gì nữa, nó đã nói cho bọn họ những điều làm sướng lỗ tai họ, thế thôi. Willie giỏi về môn ấy đấy. Rất nổi tiếng, thường là chủ tịch của tổ chức này, câu lạc bộ kia. Nó từng là học trò của tôi trong một khoá học về văn minh châu Âu, và quả thực nó là một người hấp dẫn. Luôn miệng vâng thưa giáo sư, không thưa giáo sư. Nó luôn nhanh nhảu nhất lớp trong việc kê ghế ngồi cho tôi. Ôi trời, sao tôi căm ghét việc làm của nó thế không biết. Chưa kể đến việc tôi ít khi ngồi ghế - Ông lão nhăn mặt khi hồi tưởng lại quá khứ - Tất nhiên là còn có sức hút về xác thịt nữa. Người ta thường thích sức hút ấy ở các bác sỹ của mình. Tôi tin rằng cái đó được gọi sự ân cần bên giường bệnh. Tất nhiên, bài khoá luận của nó có ấn tượng, thể hiện bản chất thực sự của nó. Bài khoá luận đó ở mức không tồi, chính xác nhưng không toả hào quang, đúng về ngữ pháp mà không hay về khoa học - Ông dừng lại - Đây có phải là thông tin mà anh cần không?

Tôi cười:

- Không hẳn là thế, thưa giáo sư. 

- Anh không thể đưa lên mặt báo những thông tin này phải không? - Ông lão tỏ vẻ thất vọng.

- Không. Tôi e rằng bài báo muốn có chút gì để ca tụng ông ấy.

- Lại là những bài báo ba hoa giẻ rách chứ gì. Buồn quá. Phải viết những lời ngớ ngẩn ấy anh có thấy chán không?

- Đôi khi cũng thấy chán. Nhưng nó giúp tôi thanh toán được các hoá đơn.

- Đúng. Tại sao tôi lại ngạo mạn không tính đến yếu tố đó nhỉ. Tôi chưa bao giờ phải trả các hoá đơn. Các chủ ngân hàng của tôi làm việc đó thay tôi. Tôi luôn có quá nhiều tiền tới mức không biết làm gì với chúng. Nó khiến tôi ngạo mạn tới mức không thể tin được. Đó là lỗi chung của những kẻ giàu có lười nhác. Chúng tôi là những kẻ ngạo mạn tới mức khó tin. Và thường là những kẻ lai trực hệ. Nó gây ra những sự đột biến tàn ác về cả tâm thần lẫn thể xác - Ông lão cười và đưa tay vỗ vào cái bướu sau lưng - cả cái trường đại học này là một nơi ẩn náu an toàn cho con cái của những kẻ giàu có lười nhác, ngu ngốc và lai trực hệ. Trong số đó có vị bác sỹ Willie Towle của anh đấy. Nó được sinh ra ở một trong những môi trường hiếm nhất mà anh từng thấy. Anh có biết điều này không?

- Là con trai của một bác sỹ, phải vậy không?

- Không, không - Ông lão xua tay như thể tôi là một học sinh đặc biệt ngu ngốc của ông - Nó là một thành viên nhóm “Hai trăm” - anh chưa nghe người ta nói đến nhóm này à?

- Chưa, thưa giáo sư.

- Hãy đến ngăn kéo cuối bàn làm việc của tôi và lấy ra một cái bản đồ cũ của thành phố Seattle cho tôi mau lên.

Tôi làm như ông lão chỉ dẫn. Tấm bản đồ được gấp dưới nhiều cuốn tạp chí Playboy cũ.

- Hãy đưa nó cho tôi - Ông lão nói như là đã mất hết kiên nhẫn. Ông mở nó ra và trải lên bàn - Hãy nhìn vào chỗ này.

Tôi đứng cao hơn ông lão. Ngón tay ông chỉ vào một điểm ở phía Bắc của Sound tới một đảo nhỏ hình thoi.

- Đây là đảo Brindamoor. Trên 7 ki-lô-mét vuông đất không hề hấp dẫn có 200 biệt thự và ruộng đất có thể sánh với bất kỳ đâu trên đất Mỹ. Josiah Jedson xây dựng cái nhà đầu tiên ở đó, một biệt thự kiểu Gô-tích. Tôi có những người anh em họ hàng sống ở đó - phần lớn họ đều có quan hệ họ hàng ở những mức độ khác nhau - mặc dù bố tôi xây dựng nhà của chúng tôi ở đất liền, tại Windermere.

- Nó khó nhìn quá.

Hòn đảo là một chấm nhỏ ở Thái Bình Dương.

- Nó thế đấy, con trai ạ. Trong các bản đồ cổ, hòn đảo này thậm chí còn không có tên. Tất nhiên, không có đường đất để đến đó. Khi thời tiết và thuỷ triều cho phép, phà mới đi khứ hồi tới đó được. Một hai tuần không có chuyến phà nào tới đó là chuyện không hề bất thường. Một số cư dân trên hòn đảo sắm hẳn máy bay riêng và sân đậu ngay trên đất của mình. Phần lớn mọi người đều thấy thoả mãn được sống trong sự cô lập tuyệt đẹp của hòn đảo.

- Và bác sỹ Towle đã lớn lên ở đó?

- Tất nhiên là như vậy. Tôi tin rằng mồ mả tổ tiên nhà nó nay đã bị bán hết. Nó là đứa con trai duy nhất và khi nó chuyển tới California thì dường như không còn lý do nào để giữ lại đất đai trên hòn đảo nữa - hầu hết những ngôi nhà của gia đình nó to quá mức cho phép. Gọi nó là những con khủng long kiến trúc. Để bảo dưỡng những ngôi nhà ấy cũng phải tốn nhiều tiền. Ngay cả những gia đình thuộc nhóm "Hai trăm" bây giờ cũng phải ăn tiêu dè xẻn. Không phải tất cả những người ở trong nhóm này đều có tổ tiên thông minh như tổ tiên của nhà Towle.

Ông lão vỗ vào ngực mình tự khen.

- Theo giáo sư, trưởng thành trong sự cô lập đó có ảnh hưởng gì đến bác sỹ Towle không?

- Giờ anh nói y như một bác sỹ tâm lý ấy, con trai.

Tôi cười.

- Trả lời câu hỏi của anh, tôi xin đảm bảo là có. Bọn trẻ thuộc nhóm "Hai trăm" là những kẻ đua đòi hết chỗ nói. Chúng chia bè phái, ích kỷ, hư hỏng và không thông minh lắm. Nhiều đứa có các anh chị em bị dị dạng với những vấn đề về tâm và sinh lý kinh niên. Lời nhận xét của tôi về tình trạng lai trực hệ là nghiêm túc và dường như đã bị kinh nghiệm đó biến chúng thành những kẻ nhẫn tâm và bàng quan.

- Giáo sư sử dụng thì quá khứ để diễn tả điều này. Vậy những tính cách này bây giờ còn tồn tại không?

- Có điều lạ là hiện nay còn ít những người trẻ ở trên đảo. Họ được biết đến thế giới bên ngoài và không muốn trở về Brindamoor. Nó thực sự là một nơi hoang vắng ảm đạm dù vẫn có đầy đủ các dịch vụ giải trí.

Để tỏ ra đúng là nhân vật tôi đang đóng vai, tôi phải bảo vệ Towle:

- Thưa giáo sư, tôi không biết nhiều về bác sỹ Towle, nhưng ông ấy nổi tiếng. Tôi đã gặp ông và dường như ông là một người đàn ông mạnh mẽ, có nghị lực. Liệu có khả năng rằng được lớn lên trong môi trường tại Brindamoor như giáo sư miêu tả có thể làm tăng cá tính của một người không?

Ông già nhìn tôi khinh bỉ:

- Rác rưởi! Tôi hiểu anh phải gọt giũa hình ảnh của nó, nhưng tôi chẳng có gì cho anh ngoài sự thật. Chẳng có cái gì gọi là cá tính trong đám những đứa đến từ Brindamoor cả.Chàng trai ạ, cô độc là rượu ngon của cá tính đấy. Bác sỹ Willie Towle của chúng ta lại không có hứng với thứ rượu ấy.

- Tại sao giáo sư lại nói vậy?

- Tôi không thể nhớ lại được là đã bao giờ nhìn thấy nó đi một mình. Nó luôn đi cùng với hai thằng đần độn khác cũng đến từ hòn đảo ấy. Ba đứa chúng nó nghênh ngang đi lại như mấy ông trời con. Sau lưng chúng, mọi người gọi chúng là “Tam bang Đầu lãnh”. Mấy thằng bé kiêu căng lúc nào cũng phì phèo thuốc lá. Chúng nó là Willie, Stu và Eddy.

- Stu và Eddy ư?

- Đúng đấy. Đó là Stuart Hickle và Edwin Hayden.

Khi nghe nói đến những cái tên này tôi đột nhiên giật nảy mình. Tôi cố trung hoà nét mặt hi vọng ông lão không nhìn thấy phản ứng của tôi. Thật mừng, ông lão dường như không biết gì, và tiếp tục bài giảng bằng giọng nói khô khan:

- Hickle là một thằng xấu xa đáng ghét, mặt đầy mụn nhọt và gầy gò, không có lời nói nào của nó là không bị hai thằng kia kiểm duyệt. Hayden là một kẻ hay ném đá giấu tay xấu tính. Tôi đã bắt được nó quay cóp bài trong một kỳ kiểm tra và nó đã cố tìm cách đút lót tôi để tôi không đánh trượt nó bằng cách đề nghị sẽ kiếm cho tôi một ả gái điếm người Ấn Độ có tay nghề cao. Anh thấy cái thằng đó có liều không? Nó nghĩ tôi sẽ không thể kiềm chế nổi sự quyến rũ của lời đề nghị mà nó đưa ra. Tất nhiên, tôi đã đánh trượt nó và viết một lá thư nghiêm túc tới cha mẹ nó. Không có một thư đáp lại nào. Chắc chắn là họ không bao giờ đọc thư của tôi. Anh có biết chuyện gì đã xảy ra với nó không? - Ông lão kết thúc bài giảng của mình bằng một câu hỏi tu từ?

- Không - Tôi nói dối.

- Nay nó đang làm một thẩm phán đấy - thẩm phán tại Los Angeles. Thực tế, tôi cho rằng cả ba thằng chúng nó, "Tam bang Đầu lãnh" ấy, đã chuyển hết đến Los Angeles. Hickle thì đã trở thành một người bán dược phẩm - nó muốn trở thành một bác sỹ, giống như Willie, và tôi tin rằng nó đã đi học trường y. Nhưng nó quá đần độn nên không thể tốt nghiệp nổi.

- Một thẩm phán đấy - Ông lão nhắc lại - Điều đó nói nên điều gì về hệ thống pháp luật của chúng ta nhỉ?

Thông tin này được đổ vào óc tôi quá nhanh, và giống như một anh nhà nghèo đột nhiên phát hiện ra một tài sản thừa kế lớn, tôi không biết phải làm gì. Tôi muốn lột bỏ vỏ bọc của mình và moi hết từng mẩu thông tin ra khỏi ông lão, nhưng còn một điều - và cả lời hứa của tôi với Margaret - cần phải nghĩ đến.

- Tôi là một thằng già đáng ghét phải không? - Van der Graaf cười khùng khục.

- Dường như ông am hiểu nhiều thứ, thưa giáo sư?

- Ô, thế ư? - Ông lão cười quỷ quyệt - Vậy anh còn muốn biết thêm gì nữa nào?

- Tôi biết bác sỹ Towle mất vợ và con đã lâu. Vậy giáo sư có thể cho tôi biết gì về chuyện này không?

Ông lão nhìn tôi chằm chằm rồi rót thêm rượu vào ly và uống:

- Toàn bộ câu chuyện chứ?

- Tất cả những gì để tôi có thể đắp lên được một chân dung - Tôi nói. Câu nói của tôi nghe có vẻ đuối sức.

- A, được, hãy đắp đi nhé... Đó là một bi kịch, không còn từ nào khác để nói về điều đó nữa, còn bác sỹ của anh thì quá trẻ để mà giải quyết được việc. Nó đã kết hôn khi đang còn là sinh viên năm thứ hai, vợ nó là một học sinh cùng trường, xinh đẹp, con gái của một gia đình có nề nếp ở Portland. Đẹp nhưng lại không cùng nhóm với nó - những kẻ trong nhóm “Hai trăm” thường có xu hướng kết hôn với nhau. Việc chúng nó cưới nhau hơi gây ngạc nhiên. Sáu tháng sau, vợ nó sinh ra một đứa con trai và bí ẩn đã được giải mã.

Ông lão nói tiếp:

- Lúc đó, bộ ba chúng nó dường như tan rã - Hickle và Hayden tách riêng với nhau trong khi Willie thực hiện các trách nhiệm của một người đàn ông đã lập gia đình. Rồi vợ và con của nó bị chết, thế là bộ ba chúng nó đã tái hợp. Tôi cho rằng chuyện một người tìm kiếm sự động viên của bạn bè sau một mất mát như vậy thì hoàn toàn bình thường.

- Vụ tai nạn ấy xảy ra như thế nào thưa giáo sư?

Ông lão nhìn chăm chú vào cái ly của mình:

- Chuyện xảy ra trong lúc vợ nó đang đưa con tới bệnh viện. Thằng bé đã bị bệnh bạch hầu hay bệnh gì đó tương tự. Cơ sở cấp cứu gần nhất là Bệnh viện Chỉnh hình trẻ em tại trường. Lúc đó vẫn còn sớm, trời đang tối. Xe của cô ấy đi lên cầu Evergreen và lao thẳng xuống hồ. Mãi tới lúc trời sáng người ta mới phát hiện ra.

- Lúc đó bác sỹ Towle đang ở đâu ạ?

- Đang học đêm. Nó học rất khuya. Tất nhiên, vì điều này mà nó luôn cảm thấy tội lỗi. Chắc chắn là nó đã tự trách mình không ở đó và cùng chết với vợ con. Anh biết sự tự phạt của những người có tang rồi chứ?

- Đúng là một câu chuyện đau lòng.

- Ồ, phải. Vợ nó là một cô gái xinh đẹp.

- Bác sỹ Towle có treo ảnh của cô ấy trong văn phòng mình.

- Nó cũng là người đa cảm đấy chứ, phải vậy không?

- Tôi cho là như vậy - Tôi uống thêm ít Whisky - Sau câu chuyện đau lòng đó, ông ấy bắt đầu gặp gỡ bạn bè nhiều hơn phải không, thưa giáo sư?

- Đúng thế. Nhưng mà tôi đã nhận ra điều gì đó trong cách nói của anh. Trong khái niệm bạn bè của tôi có ẩn chứa một mối ràng buộc về tình cảm, một mức độ nào đó sự ngưỡng mộ lẫn nhau. Khi ba đứa chúng nó ở cùng nhau nhìn chúng nó luôn có vẻ cau có - dường như chúng không thích có nhau. Tôi không biết mối quan hệ của chúng ra sao, nhưng đúng là có tồn tại. Willie rời trường đi học Đại học Y và Stuart đi theo. Edwin Hayden thì học luật cùng trường với chúng. Chúng nó cùng định cư tại một thành phố. Chắc chắn anh sẽ tìm gặp hai đứa kia kiếm mấy câu nhận xét trích dẫn đề tán cho bài viết của anh. Nếu như có một bài thật.

- Tôi không hiểu ý của giáo sư?

- Ồ, tôi nghĩ anh biết ý tôi là gì đấy, cậu bé ạ. Tôi không định bắt anh phải trình giấy tờ chứng minh để khẳng định anh đúng là cái anh đã nói với tôi đâu - vì nó cũng chẳng chứng minh được gì - bởi vì anh dường như là một thanh niên thông minh và dễ chịu, và chẳng có mấy người đến thăm tôi mà tôi lại có thể tiết lộ nhiều điều đến thế đâu, phải không? Đấy, tôi nói đủ rồi đấy.

- Giáo sư, tôi đánh giá cao điều đó.

- Và anh nên như vậy. Tôi tin anh có đủ lý do để giải thích cho việc muốn hỏi tôi về Willie. Chắc là những lý do ấy cũng chán lắm và tôi cũng chẳng mong muốn được biết. Vậy tôi giúp đỡ anh thế đã đủ chưa?

- Giáo sư đã giúp đỡ tôi quá nhiều rồi ạ - Tôi rót rượu vào hai cái ly và hai chúng tôi cùng uống, không có sự đối thoại nào nữa.

- Vậy giáo sư có bằng lòng giúp đỡ tôi thêm một chút nữa không? - Tôi hỏi.

- Cái đó còn tuỳ.

- Bác sỹ Towle còn có một người cháu, tên là Timothy Kruger. Tôi không biết liệu giáo sư có thể nói cho tôi biết điều gì về người này không?

Van der Graaf đưa ly rượu lên môi, hai bàn tay run run. Mặt ông tối sầm lại:

- Kruger à - Ông nói cái tên như thể nó là một tên gọi có ý nghĩa đặc biệt.

- Vâng đúng ạ.

- Anh em họ đấy. Anh em họ xa chứ không phải là cháu.

- Anh em họ, vậy là sao?

- Kruger. Một dòng họ có từ lâu đời. Tất cả đều là người Phổ. Là những người môi giới quyền lực. Một dòng họ có thể - Sự ngọt ngào trong lời nói của ông lão biến mất và ông nói giọng như một cái máy - Người Phổ.

Tôi bước vài bước. Ông lão lảo đảo rồi đột nhiên dừng lại, để hai bàn tay rơi thõng xuống hai bên sườn.

- Chắc chắn đây là một vấn đề có liên quan tới cảnh sát rồi - Ông nói.

- Tại sao giáo sư lại nói vậy?

Mặt ông lão sa sầm giận dữ, ông giơ một nắm tay lên trời, như một nhà tiên tri ngày tận thế.

- Đừng có đùa với tôi nữa, chàng trai trẻ. Nếu như có vấn đề gì đó liên quan tới Timothy thì chắc chắn chỉ có vấn đề đó thôi.

- Đó là một phần của một cuộc điều tra hình sự. Tôi không thể nói cụ thể với giáo sư được.

- Ồ, anh không thể ư? Tôi đã khua môi múa mép với anh mà không đòi anh nói thật ý định của anh. Một vài phút trước, tôi cho rằng những cái đó nhàm chán. Nhưng bây giờ tôi đã nghĩ khác rồi.

- Vậy cái tên Kruger có gì mà khiến giáo sư phải sợ như thế?

- Cái ác - Ông nói - Cái ác làm tôi sợ. Anh nói những câu hỏi của anh là một phần của một cuộc điều tra hình sự. Vậy làm sao tôi biết anh ở phe nào?

- Tôi đang cộng tác với cảnh sát. Nhưng tôi không phải là một cảnh sát.

- Tôi không chấp nhận trò đánh đôi. Hoặc là nói ra sự thật hoặc là anh đi khỏi đây ngay.

Tôi lựa chọn.

- Margaret Dopplemeier - Tôi nói - Tôi không muốn cô ấy bị mất việc bởi vì những điều tôi nói với giáo sư.

- Maggie ư? - Ông lão thở phì phì - Đừng lo về cô em ấy, tôi không có ý định tiết lộ việc cô em ấy đã đưa anh tới chỗ tôi. Cô em ấy là một cô gái buồn nên thích tìm thú vui trong những chuyện ly kỳ. Tôi đã nói chuyện với cô em đó đủ nhiều để biết rằng cô em ấy khoái thuyết âm mưu cuộc đời. Cứ dứ những thứ ly kỳ trước mặt cô em ấy là cô em ấy lại lao vào như một con thiêu thân. Chuyện ám sát Kennedy, chuyện vật thể bay không xác định, chuyện ung thư, sâu răng... tất cả đều là kết quả sự câu kết lớn của những con quỷ vô danh. Chắc hẳn anh đã nhận ra điều này ở cô em đó và lợi dụng nó.

Ông lão nói điều đó như kiểu bảo tôi là kẻ xảo quyệt. Tôi không bác bỏ.

- Không - Ông nói - Tôi không thích làm hại Maggie. Cô em ấy là một người bạn. Ngoài ra, sự trung thành của tôi với ngôi trường này không phải là sự trung thành mù quáng đâu. Bản thân tôi cũng đã thấy ghê tởm một số khía cạnh của nơi này rồi - nơi đã trở thành quê hương thực sự của tôi.

- Chẳng hạn như nhà Kruger?

- Chẳng hạn như cái môi trường đã cho phép những người nhà Kruger và đồng đảng của chúng phát đạt. 

Ông lão đi lao đao, cái đầu quá khổ lắc lư trên đôi vai méo mó.

- Quyền lựa chọn là ở anh, chàng trai trẻ ạ. Hãy nói ra hoặc là đóng hộ tôi cái cửa.

Tôi đành nói thật.

- Chẳng có điều gì trong câu chuyện của anh khiến cho tôi phải ngạc nhiên cả - ông lão nói - Tôi không biết gì về cái chết của Stuart Hickle cũng như chuyện sinh lý của nó, nhưng cả hai điều ấy không hề khiến tôi sửng sốt. Nó là một nhà thơ tồi, bác sỹ Delaware ạ, tồi - và không có gì hơn nữa.

Tôi nhớ lại những câu thơ ở cuối lời điều ghi trong cuốn niên giám của Lihah Towle. Bây giờ đã rõ s là ai.

- Khi anh nhắc đến Timothy, tôi đã giật mình, vì không biết liệu anh có phải là tay chân của nhà Kruger hay không. Cái thẻ anh giơ ra cho tôi xem thì đẹp, nhưng những thứ rẻ tiền ấy dễ làm giả lắm.

- Giáo sư hãy gọi điện thoại tới thanh tra Delano Hardy thuộc Sở cảnh sát miền Tây. Anh ta sẽ nói cho giáo sư rõ tôi là người của ai - Tôi hi vọng ông lão không làm như tôi đề nghị, vì có trời mới biết Hardy sẽ phản ứng thế nào.

Ông lão nhìn tôi vẻ trầm tư.

- Không, không cần thiết phải làm việc đó. Anh là kẻ nói dối đáng sợ. Tôi tin, bằng trực giác tôi có thể biết khi nào anh nói thật.

- Cảm ơn giáo sư.

- Anh cứ tự nhiên. Anh đáng khen đấy.

- Xin giáo sư nói cho tôi biết về Timothy Kruger - Tôi nói.

Ông lão đứng như lão thần lùn, một tác phẩm hoá trang của Hollywood, mắt hấp háy:

- Điều đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh với anh là sự độc ác của gia đình nhà Kruger không có liên quan gì đến sự giàu có của họ. Kể cả nghèo túng thì bọn chúng vẫn cứ độc ác. Tôi nghĩ chúng nó cũng từng là những kẻ nghèo nhưng độc ác. Nếu lời nói của tôi có tính chất thế thủ, thì đúng là thế đấy.

- Tôi hiểu.

- Những kẻ giàu có lại không độc ác, những tuyên truyền của người Bôn- sê- vích thì ngược lại. Bọn người này là một lũ người vô hại - có quá nhiều nhà ở, ít nói, chắc chắn sẽ bị tuyệt diệt - Ông lùi lại một bước như muốn rút lại sự nhận định của chính mình.

Tôi chờ đợi.

- Timothy Kruger - Cuối cùng ông lão thốt lên - là một kẻ giết người, trắng trợn và công khai. Việc nó không bị bắt, bị xử hay bị kết án không hề làm giảm đi tội lỗi của nó trong mắt tôi. Câu chuyện xảy ra cách đây đã 7, à không, 8 năm rồi. Trong trường này có một cậu sinh viên từ vùng nông thôn Idaho đến. Mắt sắc sảo, người đẹp như thiên thần. Tên cậu ta là Saxon. Jeffrey Saxon. Cậu ta đến trường này là để học thực sự, người đầu tiên trong dòng tộc học hết cấp ba, mơ ước của cậu ta là sẽ trở thành một nhà văn.

- Cậu sinh viên này vào trường được là do một suất học bổng môn điền kinh - bơi thuyền, bóng chày, bóng đá, vật - môn nào cũng siêu, trong khi các môn văn hoá, khoa học cũng luôn đạt điểm A. Cậu ta học chuyên sâu về lịch sử và tôi tư vấn về chuyên khoa đó cho cậu ta mặc dù lúc đó tôi không còn giảng dạy nữa. Chúng tôi từng nói chuyện khá nhiều với nhau, chính tại căn phòng này. Nói chuyện với cậu sinh viên ấy khá dễ chịu. Cậu ta có nhiệt huyết sống, và khao khát hiểu biết.

Một giọt nước mắt đã đọng trong khoé mắt màu xanh đã rủ của ông lão.

- Tôi xin lỗi anh nhé - Ông lão rút ra một chiếc khăn tay bằng vải lanh và châm nhẹ vào má - ở đây bụi quá, phải gọi nhân viên vệ sinh lên để họ lau chùi đi mới được.

Ông lão nhấp một ngụm Whisky và khi ông nói, giọng ông đã bị những kỷ niệm làm cho yếu đi:

- Jefirey Saxon có bản tính tò mò và luôn tìm kiếm của một học giả thực sự, bác sỹ Delaware ạ. Tôi nhớ lần đầu tiên cậu ta lên đây và nhìn thấy những cuốn sách. Giống như một đứa trẻ được thả tự do trong một cửa hàng đồ chơi. Tôi cho cậu ta mượn những cuốn sách cổ hay nhất của tôi, mọi thứ: từ ấn bản London, tập “Biên niên sử” của Josephus cho tới các luận văn nhân chủng học. Cậu ta đọc ngấu nghiến, “ơn trời, thưa giáo sư - Cậu ta nói - phải mất nhiều thế hệ sống của con người mới có thể học được một phần kiến thức nhân loại”. Theo cách nhìn của tôi, đó là đặc điểm của một người trí thức, đã ngộ ra được rằng bản thân mình là quá nhỏ bé so với khối kiến thức tổng hợp của nhân loại.

- Tất nhiên những người khác đều nghĩ rằng cậu ta là một thằng nhà quê. Chúng nó chê bai dè bĩu quần áo cậu ta mặc, cách cư xử và sự giản dị của cậu ta. Cậu ta đã nói với tôi về điều đó - Tôi đã trở thành một người ông nội của cậu ta - và tôi đã động viên cậu ta rằng cậu ta thuộc về nhóm những người cao quý hơn những kẻ tại Jedson này. Thực tế, tôi đã khuyến khích cậu ta xin chuyển tới học tại một trường miền Đông - trường Yale, hay trường Princeton - nơi cậu ta có thể đạt được sự phát triển tri thức lớn. Lẽ ra với điểm số của cậu ta và một bức thư giới thiệu của tôi thì cậu ta đã được học tại trường khác. Nhưng cậu ta không bao giờ có được cơ hội nữa.

- Cậu ta đã phải lòng một cô gái trẻ, một cô gái xuất thân từ nhóm "Hai trăm", khá đẹp nhưng tẻ nhạt. Điều này bản thân nó không phải là một lỗi lầm vì con tim và sinh lý cần phải được thoả mãn. Lỗi lầm của cậu ta là đã chọn cô gái mà một kẻ khát đã thèm thuồng.

- Kẻ thèm thuồng ấy là Tim Kruger? - Tôi hỏi.

Vander Graaf gật đầu đau đớn.

- Câu chuyện này làm nhọc lòng tôi quá, anh bác sỹ ạ. Nó đưa lại quá nhiều kỷ niệm đau thương.

- Thưa giáo sư, nếu giáo sư thấy quá nhọc lòng thì tôi xin đến vào dịp khác nghe giáo sư kể nốt vậy.

- Không, không. Làm thế chẳng ích chi - Ông lão hít một hơi dài - Giờ tôi kể cho anh nghe chuyện tình cảm sướt mướt của chúng đây. Jeffrey và Kruger cùng phải lòng cô sinh viên đó, hai đứa chúng nó còn công khai tuyên chiến với nhau. Sự giận dữ nổi lên, nhưng dường như cũng qua. Jeffrey tới thăm tôi và dốc bầu tâm sự những uất ức của mình. Tôi đóng vai trò là tư vấn viên tâm lý - các giáo sư thường phải tạo được một chỗ dựa về tinh thần cho các sinh viên và phải thú thực là tôi đã làm việc này rất tốt. Tôi bảo cậu ta quên cô bé đó đi vì tôi đã biết kiểu người của cô ta và hiểu rõ rằng Jeffrey sẽ là kẻ thất bại trong bất kỳ cuộc chiến ý chí nào. Bọn trẻ của Jedson là những con bồ câu đưa thư, có thể đoán biết được đường đi nước bước giống như tổ tiên ông bà chúng, nòi nào giống ấy vậy thôi. Con bé đó sẽ phải kết hôn với một người trong dòng tộc nhà nó. Còn Jeffrey, trước mặt nó có nhiều thứ tốt đẹp hơn đang chờ đợi, một cuộc đời đầy cơ hội và phiêu lưu.

- Cậu ta không nghe. Cậu ta giống như một hiệp sỹ thời xưa, thấm nhuần sự cao quý của sứ mệnh mình gánh vác, phải khuất phục kẻ thù, cứu thiếu nữ. Thật là rác rưởi hết chỗ nói - nhưng cậu ta là một người ngây thơ. Một kẻ ngây thơ. 

Van der Graaf dừng lại, thở hổn hển. Mặt ông lão đã biến thành màu xám xanh ốm yếu và tôi đâm lo cho sức khoẻ của ông.

- Có lẽ chúng ta nên dừng lại một chút đã - Tôi đề nghị - Tôi có thể trở lại đây vào ngày mai mà.

- Hoàn toàn không thể được. Tôi sẽ không để anh bỏ tôi ở đây một mình với một cái cục độc nằm trong bụng tôi - ông lão hắng giọng - Tôi sẽ tiếp tục - anh ngồi đấy và thật chú ý nghe.

- Được, thưa giáo sư.

- Vậy thì, đến đâu rồi nhỉ... À, đến chỗ Jeffrey giống như một hiệp sỹ. Một thằng bé ngu xuẩn. Sự thù hằn giữa cậu ta và Timothy Kruger tiếp tục và nghiêm trọng. Jeffrey đã bị tất cả những sinh viên khác tẩy chay - Kruger là một ngôi sao sáng trong trường, có quan hệ xã hội rộng lớn. Tôi trở thành nguồn động viên duy nhất của Jeffrey. Các cuộc đối thoại của chúng tôi thay đổi. Không còn những trao đổi về suy nghĩ nữa. Lúc này tôi thường xuyên phải thực hiện tâm lý liệu pháp - một hoạt động vô cùng khó chịu với tôi, nhưng tôi cảm thấy không thể bỏ rơi cậu ta được. Tôi là tất cả những gì cậu ta có.

Chuyện lên đến tột đỉnh tại một trận đánh vật. Cả hai đứa chúng nó đều là vận động viên vật Hi - La. Chúng thoả thuận gặp nhau, vào đêm khuya, tại sân vận động đã hết người, chỉ có hai đứa chúng nó cho một trận sống mái. Tôi không phải là một vận động viên vật, lý do thì anh đã rõ, nhưng tôi biết môn thể thao này có tổ chức cao, có nhiều luật lệ, các tiêu chí thắng thua đều được vạch ra rõ ràng. Vì lý do đó mà Jeffrey thích môn này - cậu ta còn trẻ mà đã có kỷ luật. Cậu ta bước vào sân đấu còn sống và trở ra trên một cái cáng, cổ và xương sống lưng bị bẻ gãy, chỉ còn sống thực vật. Ba ngày sau thì cậu ta chết.

 - Và cái chết của cậu ta được phán quyết là một tai nạn -  Tôi nhẹ nhàng nói.

- Đó là chuyện để che mắt xã hội. Kruger nói rằng hai đứa chúng nó đã chống đỡ nhau lâu, chân tay, thân mình bện lấy nhau. Cuối cùng Jeffrey đã bị thương tổn. Và ai có thể cãi lại được điều đó: Tai nạn vẫn thường xảy ra trong các trận đấu vật. Nhưng với chúng tôi, những người hiểu Timothy, hiểu sự thù địch giữa hai đứa chúng nó thì lời giải thích ấy làm sao thoả mãn được. Nhà trường làm mọi cách để ỉm đi, còn cảnh sát thì càng thích như thế - tội gì mà chống lại những triệu phú nhà Kruger trong khi có hàng trăm kẻ nghèo hèn đang phạm tội?

- Tôi tham dự đám tang của Jeffrey - bay tới tận Idaho. Trước khi tôi rời đi, tôi đã chạm trán với Timothy ở khuôn viên. Nhớ lại hồi ấy, bây giờ tôi mới nghĩ rằng chắc chắn nó đã tìm kiếm tôi - Miệng của Van der Graaf mím chặt, các nếp nhăn sâu hơn như thể bên trong có những cái dây kéo điều khiển - Nó tiến lại chỗ tôi đang đứng, cạnh tượng Người sáng lập. Nó nói: “Thưa giáo sư, em nghe nói giáo sư sắp lên đường.” Tôi trả lời: “Đúng vậy. Tôi sẽ bay tới Boise vào tối nay.” “Để dự những nghi lễ cuối cùng cho cậu sinh viên trẻ được giáo sư bảo trợ phải không ạ?” - Nó hỏi. Trên mặt nó hiện lên vẻ hoàn toàn trong trắng, sự trong trắng giả tạo. Nó đúng là một diễn viên kịch, trời ơi, nó có thể điều khiển được vẻ mặt của nó tuỳ ý. Tôi đáp: “Có vấn đề gì với em à?” Nó cúi xuống đất, nhặt một cành sồi khô và cười ngạo mạn - điệu cười ngạo mạn giống hệt như điệu cười của những lính gác các trại tập trung của Đức quốc xã mà ta có thể thấy trong các bức ảnh. Nó dùng những ngón tay bẻ tan cành sồi và thả xuống đất. Rồi nó cười ha hả.

- Thưa bác sỹ Delaware, trong đời mình, tôi chưa bao giò có ý định sẽ giết người như lúc ấy. Giá như tôi trẻ hơn, khoẻ hơn, được trang bị vũ khí cấn thận thì có lẽ tôi cũng đã làm việc này rồi. Nhưng lúc đó, tôi chỉ còn biết đứng đó, không nói được lời nào. “Chúc giáo sư có chuyến đi vui vẻ” - Nó nói, và vẫn tiếp tục điệu cười ngạo mạn rồi bỏ đi. Tim tôi đập mạnh, tôi cảm thấy chóng mặt, hoa mắt nhưng cố giữ thăng bằng. Khi nó đã đi khuất, tôi ngồi phịch xuống và khóc.

Một lúc lâu cả hai chúng tôi không ai nói gì.

Khi ông lão đã tỏ ra đủ bình tĩnh tôi mới hỏi:

- Margaret có biết về chuyện này không? Về Kruger ấy, thưa giáo sư?

Ông gật đầu:

- Tôi đã nói chuyện này với cô em ấy. Cô em ấy là bạn của tôi mà.

Thế là nhà báo vụng về đã làm nên chuyện. Hiểu được những vấn đề này làm tôi có phần thấy vui.

- Một vấn đề nữa - cô gái ấy. Cái cô gái mà bọn họ tranh nhau ấy. Chuyện gì đã xảy đến với cô ta?

- Anh đoán thế nào nào? Ông nhếch mép, giọng lại bắt đầu có phần cay đắng - Con bé tránh xa thằng Kruger - hầu hết những người khác đều làm thế. Bọn chúng sợ nó. Con bé học tại Jedson thêm 3 năm hữa, cưới một chủ ngân hàng đầu tư và tới Spokane sống. Chắc là con bé hiện nay đang là một bà nội trợ giỏi, đưa những đứa con tới trường, ăn nửa buổi tại câu lạc bộ và boa cho người đến giao hàng.

- Chiến lợi phẩm đấy - Tôi nói.

Ông lão lắc đầu:

- Thật là uổng.

Tôi nhìn đồng hồ. Tôi đã ở trong cái lâu đài này hơn một giờ, nhưng tôi cảm thấy thật dài. Và trong khoảng thời gian ấy, giáo sư Van der Graaf đã tống khứ được một xe tải đầy những thứ rác rưởi trong người ông lão sang cho tôi. Ông lão đúng là một sử gia và đó là thứ mà họ đã được đào tạo để làm. Tôi cảm thấy mệt mỏi và căng thẳng, và mong ngóng được hít thở  chút không khí trong lành.

- Thưa giáo sư, tôi nói. Tôi không biết phải cảm ơn giáo sư ra sao?

- Sử dụng những thông tin ấy thật tốt chính là một bước đi đúng hướng để anh cảm ơn tôi - Đôi mắt xanh của vị giáo sư già sáng rực như ánh đèn khí ga - Hãy tự bẻ gãy những cành cây của chính anh nhé.

- Tôi sẽ cố hết sức - Tôi đứng dậy.

- Tôi tin anh tự biết đường ra.

Tôi ra về.

Khi tôi đi tới nửa căn phòng lớn hình tròn thì nghe thấy tiếng ông lão gọi với theo:

- Nhớ nhắc giúp Maggie về chuyến đi ăn bánh pizza với tôi nhé.

Tiếng ông lão vang vọng đập vào thành đá nhẵn lì lạnh lẽo. 

Người dịch: ĐẶNG THỊ HUỆ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.