Biên Niên Ký Sao Hỏa

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
Tháng Tư năm 2036 Usher II

❊ ❊ ❊

“Suốt cả một ngày mùa thu xám xịt, u ám và tĩnh lặng, mây đen trĩu nặng trên bầu trời, tôi một mình cưỡi ngựa, qua một miền quê ảm đạm khác thường, để rồi cuối cùng, khi bóng chiều bắt đầu buông, tôi thấy lọt vào tầm mắt ngôi nhà thê lương của dòng họ Usher…[1]”

William Stendahl ngừng đọc. Đây, nằm trên một ngọn đồi thoai thoải, tối sẫm, là ngôi nhà có dòng chữ 2036 CN khắc trên phiến đá bên ngoài.

Bigelow, kiến trúc sư, nói, “Ngôi nhà đã hoàn thiện. Đây là chìa khóa thưa ông Stendahl.”

Hai người cùng đứng yên lặng trong buổi chiều mùa thu yên tĩnh. Bản thiết kế sột soạt trên bãi cỏ dưới chân họ.

“Ngôi nhà của dòng họ Usher,” Stendahl nói với niềm thích thú. “Đã được thiết kế, xây dựng, mua, thanh toán xong. Chắc ngài Poe sẽ hài lòng lắm?”

Bigelow nheo mắt. “Ông xem mọi thứ có vừa ý không?”

“Có!”

“Màu sắc thế này đã đúng chưa? Nó có tiêu điều khủng khiếp không?”

Rất tiêu điều, rất khủng khiếp!”

“Các bức tường… trống trải?”

“Đến mức đáng kinh ngạc!”

“Hồ nước, nó đã đủ ‘đen tối ghê rợn”?”

“Đen tối ghê rợn đến mức không thể tin nổi.”

“Còn đám cỏ gần bờ – chúng tôi đã nhuộm màu, ông biết đấy – nó đã đúng màu đen nhọt chưa?”

“Rất gớm guốc!”

Bigelow tra cứu lại bản thiết kế kiến trúc. Từ đó, anh ta trích một đoạn: “Toàn bộ cấu trúc có gợi nên sự lạnh lẽo, kinh tởm về cảm xúc, u ám về suy nghĩ không? Ngôi nhà, cái hồ, mảnh đất, thưa ông Stendahl?”

“Anh Bigelow a, nó đáng từng đồng xu! Chúa ơi, nó rất đẹp!”

“Cảm ơn ông. Tôi đã phải làm việc mà không biết mình làm có chuẩn không. Ơn Chúa ông sở hữu phi thuyền riêng, chứ không thì chúng ta đã chẳng bao giờ mang được hầu hết các thiết bị lên đây. Ông lưu ý nhé, sẽ luôn chỉ có ánh sáng mờ ảo ở đây, mảnh đất này, luôn luôn là tháng Mười, cằn cỗi, khô khan, chết chóc. Chúng tôi đã phải vất vả một chút. Chúng tôi đã diệt hết động thực vật quanh đây. Mười nghìn tấn DDT. Không một con rắn, con ếch hay con ruồi nào của Sao Hỏa còn sống được cả! Luôn luôn là ánh sáng mờ ảo, thưa ông Stendahl; tôi tự hào vì điều đó. Có những cỗ máy được giấu kín có chức năng cản sáng. Ánh sáng ở đây sẽ luôn ‘ảm đạm như ý ông muốn.”

Stendahl lắng nghe như nuốt từng lời, ảm đạm, bức bối, bốc mùi hôi thối, toàn bộ “bầu không khí” đã được tính toán một cách tinh vi và vừa vặn. Và ngôi nhà kia! Cảnh tượng kinh hoàng đến rụng rời đó, cái hồ độc địa đó, bọn nấm, sự thối rữa lan tràn! Bằng nhựa hay là thật, ai mà biết được?

Lão nhìn lên bầu trời mùa thu. Đâu đó trên kia, xa tít tắp, là mặt trời. Đâu đó trên Sao Hỏa đang là tháng Tư, tháng của sắc vàng và bầu trời xanh. Đâu đó trên kia, những chiếc phi thuyền đang phụt lửa lao xuống để mang nền văn minh đến hành tinh chết xinh đẹp này. Âm thanh gào thét của chúng đã bị chặn lại bên ngoài thế giới âm u, cách biệt này, thế giới mùa thu cổ xưa này.

“Giờ thì việc của tôi đã xong,” Bigelow tần ngần, “tôi có thể hỏi ông định làm gì với tất cả những thứ này chứ.”

“Với Usher à? Anh chưa đoán ra sao?”

“Vâng.”

“Cái tên Usher không có ý nghĩa gì với anh sao?”

“Không.”

“Chà, thế còn cái tên này: Edgar Allan Poe?”

Anh Bigelow lắc đầu.

“Đương nhiên rồi,” Stendahl kín đáo cười khẩy, nửa như thất vọng nửa như khinh thường. “Sao tôi lại nghĩ rằng anh mà lại biết ngài Poe huyền thoại được? Ông ấy đã mất lâu rồi, trước Lincoln. Toàn bộ sách của ông đã bị đốt trong Vụ Cháy Lớn. Cách đây ba mươi năm – 2006.”

“A,” Bigelow ra vẻ hiểu biết. “Một trong những người đó!

“Phải, một trong số những người đó, anh Bigelow ạ. Ông ấy, Lovecraft, Hawthorne và Ambrose Bierce cùng những câu chuyện kinh dị, kỳ ảo, và còn cả truyện viễn tưởng, đều bị đốt. Một cách nhẫn tâm. Họ thông qua một đạo luật. Ôi, ban đầu thì chưa sao. Năm 1999 thì chuyện mới chỉ nhỏ bằng hạt cát. Họ bắt đầu bằng việc kiểm soát truyện tranh và sau đó là truyện trinh thám và tất nhiên là phim ảnh, bằng cách này hay cách khác, nhóm này hay nhóm khác, tùy theo khuynh hướng chính trị, định kiến tôn giáo, sức ép của các hội đoàn; luôn luôn có một nhóm thiểu số sợ hãi thứ gì đó, còn đại đa số những người khác sợ hãi bóng tối, sợ hãi tương lai, sợ hãi quá khứ, sợ hãi hiện tại, sợ hãi chính mình và cái bóng của chính mình.”

“Tôi hiểu.”

“Sợ hãi chữ ‘chính trị (nói ra hai tiếng đó có thể khiến ta mất mạng!), và với một đinh vít siết lại ở chỗ này, một con ốc vặn chặt ở chỗ kia, một cú đẩy, hoặc kéo, một cú giật, nghệ thuật và văn chương bỗng chốc trở thành một nồi mạch nha lớn, bị kéo ra, đan bện, thắt nút, quăng quật cho đến khi đã cứng đơ và chẳng còn hương vị gì nữa. Rồi những thước phim bị cắt vụn, các rạp chiếu bóng tối om, và báo in với nội dung đang nhiều như thác Niagara giờ chỉ còn nhỏ giọt những nội dung ‘thuần khiết, tẻ nhạt. Ôi, nói anh hay, ngay cả từ ‘đào thoát’ cũng đã là cấp tiến rồi!”

“Thật ư?”

“Thật chứ! Mọi người, họ nói, phải đối mặt với hiện thực. Phải đối mặt với Hiện tại và Hiện thực! Các thứ không thuộc về Hiện tại và Hiện thực đều phải biến mất. Tất thảy những xuyên tạc văn vẻ đẹp đẽ lẫn những phiêu lưu giả tưởng sẽ phải ném hết vào không trung. Thế là vào một buổi sáng Chủ nhật cách đây ba mươi năm, năm 2006, người ta dồn các thứ đó về một bức tường thư viện; người ta bắt tất cả dàn hàng, từ ông già Noel đến kị sĩ không đầu và nàng Bạch Tuyết rời tiểu yêu và mẹ ngỗng – ôi, bao nhiêu là than khóc! – rồi bắn bỏ, rồi đốt sạch các lâu đài giấy và những hoàng tử ếch, những ông vua và những người sống hạnh phúc mãi mãi về sau (bởi vì dĩ nhiên trên thực tế làm gì có ai sống hạnh phúc mãi mãi về sau!), không còn Ngày xửa ngày xưa mà chỉ có ‘Không bao giờ nữa! Họ rắc tro của bóng ma Rickshaw lên đống đổ nát của xứ Oz; họ róc xương của phù thủy tốt Glinda và công chúa Ozma rồi nghiền nát nàng tiên cầu vồng trong quang phổ kế rồi xơi Jack Đầu Bí Ngô với bánh trứng đường tại buổi khiêu vũ của các nhà sinh học! Hạt đậu thần chết trong bụi gai của thói quan liêu! Nàng công chúa ngủ trong rừng thức dậy sau nụ hôn của nhà khoa học rồi tắt thở luôn sau một mũi chọc xi lanh chết người của chàng. Và họ cho Alice uống thứ nước khiến cô bé thu nhỏ lại đến mức không còn nói ‘càng lúc càng lạ được nữa, rồi họ lấy búa đập tan xứ sở trong gương, đi tong mọi Vua Đỏ lẫn Hàu!”

Lão siết chặt nắm tay. Chúa ơi, tất cả mới gần gũi làm sao! Mặt lão đỏ gay, lão thở hổn hển.

Về phần Bigelow, anh ta ngỡ ngàng vì tự nhiên lão nói một tràng. Anh ta chớp chớp mắt và cuối cùng nói, “Xin lỗi. Tôi không hiểu ông đang nói về cái gì. Với tôi đó chỉ là những cái tên. Theo tôi được biết thì vụ Đốt Sách là một việc tốt.”

“Biến đi!” Stendahl hét lên. “Anh đã làm xong việc của mình, giờ thì để ta được yên, đồ ngu!”

Bigelow gọi thợ thuyền của mình rồi đi khỏi.

Stendahl đứng một mình trước ngôi nhà.

“Nghe đây,” lão nói với những chiếc phi thuyền vô hình. “Ta đã đến Sao Hỏa để tránh xa cái bọn Bị Tẩy Não các người, nhưng càng ngày các người càng dồn lên đây đông như ruồi bâu cứt. Nên ta sẽ cho các người thấy. Ta sẽ cho các người một bài học nhớ đời vì những gì đã làm với ngài Poe dưới Trái Đất. Bắt đầu từ hôm nay, hãy coi chừng. Ngôi nhà của dòng họ Usher chính thức mở cửa đón khách!”

Lão vung một nắm đấm lên trời.

Chiếc phi thuyền hạ cánh. Một người đàn ông vui vẻ bước ra. Anh ta nhìn ngôi nhà, và đôi mắt xám của anh ta thấy phật ý, khó chịu. Anh ta sải bước qua con hào đến trước mặt người đàn ông nhỏ thó.

“Tên ông là Stendahl?”

“Vâng.”

“Tôi là Garrett, thanh tra của Sở Cảnh sát Đạo đức.”

“Vậy là cuối cùng các anh cũng lên Sao Hỏa, người của Sở Cảnh sát Đạo đức? Tôi cứ tự hỏi bao giờ thì các anh xuất hiện.”

“Chúng tôi lên đến đây tuần trước. Chúng tôi sẽ sớm làm cho mọi thứ đi vào quy củ và trật tự như ở Trái Đất.” Người đàn ông cáu kỉnh hẩy tấm thẻ căn cước về phía ngôi nhà. “Ông hãy cho tôi biết về nơi này, ông Stendahl!”

“Nó là một lâu đài bị ma ám, nếu anh thích.”

“Tôi không thích, Stendahl, tôi không thích. Cái âm thanh của từ ‘ma ám’.”

“Cũng đơn giản thôi. Trong năm thứ 2036 lịch Thiên Chúa này, tôi đã xây xong một thánh đường rô bốt. Trong kia, bầy dơi đồng đỏ bay trên những xà nhà điện, lũ chuột đồng thau chạy lúp xúp trong những tầng hầm nhựa, bộ xương rô bốt nhảy múa; ma cà rồng rô bốt, hề rô bốt, sói rô bốt và những bóng ma trắng, tổng hợp từ hóa chất kết hợp với bàn tay khéo léo, tất cả sống ở đây.”

“Đó chính là điều mà tôi sợ,” Garrett nói, lặng lẽ mỉm cười. “Tôi e là chúng tôi sẽ phải dỡ bỏ ngôi nhà này.”

“Tôi biết các anh sẽ đến ngay khi biết trong đó có gì.”

“Lẽ ra tôi phải đến sớm hơn, nhưng chúng tôi tại Sở Cảnh sát Đạo đức muốn khẳng định chắc chắn về ý đồ của ông đã, trước khi chúng tôi đến. Chúng tôi có thể ra lệnh cho đội phá dỡ và lính phóng hỏa đến đây trước bữa tối. Đến nửa đêm là nơi này của ông sẽ bị san phẳng. Ông Stendahl, tôi cho rằng ông có phần ngốc nghếch, thưa ông. Chi tiền mồ hôi nước mắt vào một thứ điên rồ. Chà, nó phải tiêu tốn của ông đến ba triệu đô...”

“Bốn triệu! Nhưng anh Garrett này, tôi được thừa kế hai mươi nhăm triệu đô từ khi còn rất trẻ. Tôi có khả năng tiêu hoang. Nhưng đúng là đáng tiếc thực sự nếu như ngôi nhà vừa mới hoàn thành được một tiếng đã bị các anh phi đến phá. Các anh không phiền nếu cho phép tôi chơi với đồ chơi của mình chỉ trong hai mươi tư giờ chứ?”

“Ông biết luật rồi. Chặt chẽ đến từng chữ. Không sách, không nhà, không được có bất cứ cái gì, dưới bất kỳ hình thức nào, gợi nhắc đến ma, ma cà rồng, thần tiên hay các sinh vật tưởng tượng khác.”

“Rồi các anh sẽ đốt cả Babbitt[2]!”

“Ông đã gây ra cho chúng tôi rất nhiều rắc rối, ông Stendahl. Trong hồ sơ có ghi. Hai mươi năm trước. Trên Trái Đất. Ông và thư viện của ông.”

“Đúng, tôi và thư viện của tôi. Và một số ít người khác giống như tôi. Ôi, Poe đã bị quên lãng trong bao nhiêu năm nay, và xứ Oz cũng như các sinh vật khác. Nhưng tôi vẫn còn lưu trữ một ít cho riêng mình. Chúng tôi có thư viện riêng, số ít công dân có được sự riêng tư, cho đến khi các anh cử người đến cùng với những ngọn đuốc và những lò thiêu, xé tan năm mươi ngàn cuốn sách của tôi rồi đốt rụi. Y như lúc các anh cắm cọc thẳng vào trái tim của lễ Halloween hay lúc nói với các nhà sản xuất phim rằng, nếu họ muốn tiếp tục làm gì đó, hãy làm về Ernest Hemingway và chỉ làm về Ernest Hemingway. Chúa ơi, không biết tôi đã thấy phim Chuông nguyện hồn ai được làm bao nhiêu lần! Ba mươi phiên bản khác nhau. Tất cả đều là hiện thực. Ôi chủ nghĩa hiện thực! Ôi, hiện thực, ôi, hiện tại, ôi, địa ngục!”

“Chua xót thì cũng chẳng mang lại ích lợi gì!”

“Anh Garrett này, anh phải nộp một bản báo cáo chi tiết có đúng không?”

“Đúng vậy.”

“Thế thì, anh nên vào trong tham quan xem. Chỉ mất một phút thôi.”

“Được. Ông dẫn đường đi. Và đừng giở trò. Tôi có mang súng đây.”

Cánh cửa Ngôi nhà của dòng họ Usher kẽo kẹt mở. Một làn gió ẩm từ trong phả ra. Trong không gian có tiếng thở dài và rên rỉ, nghe như tiếng than van từ dưới những hầm mộ ngầm dưới đất.

Một con chuột nghênh ngang đi trên sàn đá. Garrett thét lên và lấy chân đá. Nó ngã lăn quay và từ đám lông nylon của nó túa ra một đám bọ sắt gớm guốc.

“Thú vị thật!” Garrett cúi xuống xem.

Một mụ phù thủy già ngồi trong hốc, bàn tay sáp của mụ run run cầm các thẻ bài tarot màu cam và xanh. Thình lình, mụ quay sang, xùy cái miệng móm về phía Garrett, tay gõ gõ những thẻ bài nhớp nhúa.

“Thần chết!” mụ thốt lên.

“À đây chính là thứ mà tôi muốn nói,” Garrett nói. “Thật tệ hại!”

“Tôi sẽ để chính anh đốt mụ ta.”

“Thật chứ?” Garrett hài lòng. Sau đó anh nhíu mày. “Tôi phải công nhận rằng những thứ này trông rất thật.”

“Chỉ riêng việc có thể tạo ra nơi này cũng khiến tôi mãn nguyện rồi. Giờ tôi đã có thể nói là tôi làm được. Rằng tôi có thể phục dựng bầu không khí trung đại trong một thế giới hiện đại đầy hoài nghi và ngờ vực.”

“Cá nhân tôi, mặc dù không muốn nhưng cũng ít nhiều phải ngưỡng mộ ông, thưa ông.” Garrett dõi theo một làn khói mờ vừa bay qua, thì thà thì thào, rồi kết thành hình một người phụ nữ bằng tinh vân xinh đẹp. Phía cuối một hành lang ẩm ướt, một cỗ máy đang xoay tròn. Giống như một thùng làm kẹo bông, từ trong cỗ máy ly tâm đó sương khói vảng vất bay lên, rì rầm vờn quanh những hành lang im lặng.

Đột nhiên một con khỉ từ đâu xuất hiện.

“Đứng lại!” Garrett kêu lên.

“Đừng sợ,” Stendahl vỗ vỗ vào ngực con vật màu đen. “Chỉ là rô bốt thôi. Khung xương làm bằng đồng, giống như mụ phù thủy ấy. Thấy không?” Lão vuốt lông nó, và bên dưới lớp lông, một chiếc ống bằng kim loại ló ra.

“Phải.” Garrett rụt rè đưa tay ra vuốt ve con vật. “Nhưng tại sao, ông Stendahl, tại sao lại là những thứ này? Điều gì ám ảnh ông?”

“Bệnh quan liêu, anh Garrett ạ. Nhưng tôi không có thời gian để giải thích. Chính phủ sẽ biết sớm thôi.” Lão gật đầu với con khỉ. “Được rồi. Làm đi.”

Con khỉ giết chết Garrett.

“Cậu sắp xong chưa, Pikes?”

Pikes ngồi ở bàn ngước lên. “Sắp rồi, thưa ông.”

“Cậu đã làm rất tốt.”

“Vâng, tôi được trả công để làm việc đó mà, thưa ông Stendahl,” Pikes nói nhỏ trong lúc anh ta tách hai mí mắt nhựa dẻo của con rô bốt ra để ấn vào đó một con mắt bằng thủy tinh, các bó cơ bằng cao su ôm gọn lấy nó. “Xong.”

“Bản sao của Garrett.”

“Chúng ta làm gì với anh ta bây giờ, thưa ông?” Pikes hất hàm về phía tấm phản đặt xác của Garrett thật.

“Tốt nhất là đem đốt đi, Pikes ạ. Chúng ta đâu cần đến hai Garrett phải không?”

Pikes đẩy cáng chở Garrett vào lò thiêu bằng gạch. “Tạm biệt.” Anh ta đẩy xác Garrett vào lò rồi sập cửa lại.

Stendahl tiến lại trước mặt rô bốt Garrett. “Anh đã rõ mệnh lệnh chưa, Garrett?”

“Có thưa ông.” Rô bốt ngồi dậy. “Tôi phải trở về Sở Cảnh sát. Tôi sẽ viết một bản báo cáo bổ sung. Hoãn thi hành phá dỡ trong ít nhất bốn mươi tám giờ. Giải thích là cần phải điều tra thêm.”

“Phải, anh Garrett. Tạm biệt.”

Rô bốt khẩn trương ra ngoài, đến chỗ phi thuyền của Garrett, trèo lên và bay đi.

Stendahl quay sang. “Nào, Pikes, chúng ta sẽ gửi nốt thiệp mời cho tối nay. Tôi nghĩ chúng ta sẽ vui lắm, anh có nghĩ thế không?”

“Cứ nghĩ đến việc chúng ta đã phải chờ những hai mươi năm, quả là vui!”

Họ nháy mắt với nhau.

Bảy giờ tối. Stendahl chăm chú nhìn đồng hồ. Gần đến giờ rồi. Lão lắc ly rượu trong tay. Lão ngồi yên lặng. Trên đầu lão, giữa các xà nhà bằng gỗ sồi, lũ dơi, thân hình mảnh dẻ bằng đồng ẩn dưới lớp da thịt cao su, chớp mắt với lão và rít lên. Lão nâng ly lên với chúng. “Chúc chúng ta thành công.” Rồi lão ngồi tựa lưng, nhắm mắt và hình dung toàn bộ sự việc. Lão sẽ nhấm nháp cái hương vị này như thế nào ở tuổi xế bóng này đây. Trả thù bọn chính phủ vô trùng vì tội khủng bố và đốt cháy văn chương. Ôi, nỗi căm hận đã lớn lên trong lão đến mức nào trong bao năm qua. Ôi, cái đầu tê liệt của lão đã chả nghĩ ra được kế hoạch nào nên hồn cho đến một ngày, ba năm trước, khi lão gặp Pikes.

À, phải, Pikes. Pikes cũng có một nỗi cay đắng sâu sắc, như một lòng giếng đen ngòm đầy acid xanh lè. Pikes là ai? Là người vĩ đạt nhất trong tất cả! Pikes, người đàn ông với mười ngàn sắc diện, một cơn thịnh nộ, một làn khói, một màn sương lam, một cơn mưa trắng, một con dơi, một con quỷ, một con quái vật, đó là Pikes! Giỏi hơn cả Lon Chaney Cha ư? Stendahl ngẫm nghĩ. Từ đêm này qua đêm khác lão xem Chaney trong các bộ phim cũ, rất cũ. Phải, còn giỏi hơn Chaney. Giỏi hơn cả một tay diễn viên kịch câm khác ngày xưa? Tên gã là gì nhỉ? Karloff? Giỏi hơn nhiều! Lugosi? So sánh khập khiễng Không, duy nhất chỉ có một Pikes, và anh ta đã bị tước quyền tưởng tượng, không còn nơi nào trên Trái Đất để đi, không còn ai để phô diễn tài năng. Bị cấm cả việc biểu diễn trước gương cho chính mình xem!

Pikes tội nghiệp thất bại và không hợp thời! Cảm giác đó sẽ như thế nào nhỉ, Pikes, cái đêm họ chộp lấy cuộn phim của anh ta, rút ra khỏi máy quay như rút ruột của chính anh ta, vo lại và ném vào lò thiêu! Cảm giác đó có đau đớn như chứng kiến năm mươi ngàn cuốn sách của mình bị tiêu hủy mà không được bù đắp? Phải. Phải. Stendahl cảm thấy tay lão lạnh dần với cơn giận dữ không thể kiểm soát. Vậy thì chẳng có gì lạ nếu như một ngày kia, họ bắt đầu ngồi bên nhau nói chuyện đến khuya bên vô số bình cà phê, trong bao đêm không đếm xuể, và từ những buổi nói chuyện những bình ủ đắng ngắt đó đã nảy ra... Ngôi nhà của dòng họ Usher.

Một tiếng chuông nhà thờ lớn vang lên. Các vị khách đang đến.

Mỉm cười, lão bước ra chào đón họ.

Được hoàn thiện nhưng chưa có ký ức, những con rô bốt chờ đợi. Trong lớp da lông xanh ngắt màu hồ nước trong rừng, trong lớp da lông màu ếch nhái và dương xỉ, chúng chờ đợi. Với mái tóc vàng màu của mặt trời và cát, những con rô bốt chờ đợi. Được tra dầu, với những ống xương cắt từ đồng rồi nhúng vào gelatin, chúng nằm đó. Trong những cỗ quan tài dành cho người không sống cũng không chết, trong những chiếc hòm gỗ ván, những chiếc máy đo nhịp chờ được khởi động. Có mùi dầu bôi trơn và mùi kim khí. Có sự im lặng của nấm mồ. Có giới tính nhưng lại không có giới tính, lũ rô bốt ấy. Có tên nhưng lại không có tên, và vay mượn từ con người mọi thứ, trừ tính người. Chúng chằm chằm nhìn lên những cái nắp hòm in chữ GIAO LÊN TÀU, chúng chết nhưng lại không phải chết, bởi chúng chưa từng sống. Và giờ thì với một tiếng két chói tai, những cái đinh được giật ra. Những nắp hòm được nhấc lên. Rồi những bóng đen cúi xuống hòm và lực ấn của một bàn tay tra dầu từ can. Rồi một chiếc đồng hồ được khởi động, tiếng tích tắc khe khẽ. Rồi thêm một cái nữa và lại một cái nữa, cho đến khi tất cả biến thành một cửa hàng đồng hồ lớn, chạy đều vo vo. Những con mắt bi ve đảo qua đảo lại dưới mí mắt cao su. Những lỗ mũi chun lại. Lũ rô bốt được khoác lông khỉ và lông thỏ đứng dậy: Ò E Anh theo sau Ò E Em, Rùa Giả, Chuột Sóc[3], những xác chết đuối ngoài biển mình đầy muối và rong trắng, lảo đảo; những người bị treo cổ với vết bầm tím ở cổ, mắt trắng dã trợn ngược, những sinh vật bằng băng tuyết quấn kim tuyến cháy phừng phừng, những chú lùn bằng đất sét, và những tinh linh hình quả ớt, người máy Tik-tok, Thạch Vương Ruggedo, ông già Noel với một đám tuyết nhân tạo bay trước mặt, Yêu Râu Xanh với những sợi râu quắc lên xanh lè, và những đám mây sulphur phụt ra những vòi lửa xanh lục, một con rồng lớn bụng rực lửa cuộn mình bay ra cửa với một tiếng hét, một tiếng tích tắc, một tiếng gầm, một sự im lặng, một sự hối hả, một luồng gió. Mười ngàn cái nắp hộp bật ra. Cửa hàng đồng hồ biến thành Ngôi nhà của dòng họ Usher. Đêm bị phù phép.

Một luồng gió ấm phủ lên vùng đất. Những chiếc phi thuyền của các vị khách đã đến, đốt cháy bầu trời và biến mùa thu thành mùa xuân.

Đàn ông bước xuống trong những bộ vét dự tiệc, phụ nữ theo sau với những mái tóc được chải bới cầu kỳ.

“Usher đây rồi!”

“Nhưng cửa ra vào đâu?”

Lúc này Stendahl xuất hiện. Các bà các cô cười nói với nhau. Stendahl giơ một tay lên ra hiệu cho họ im lặng. Rồi quay lại, lão ngửa lên nhìn một cửa sổ nằm tít trên cao của lâu đài và gọi:

“Công chúa Tóc Mây, công chúa Tóc Mây, thả tóc xuống đây.”

Từ trên cao, một cô gái xinh đẹp ngó ra trong làn gió đêm và thả mái tóc vàng óng của cô xuống. Và mái tóc tự xoắn bện lại thành một chiếc thang để những người khách có thể leo vào nhà, vừa leo vừa cười đùa.

Những nhà xã hội học ưu tú! Những nhà tâm lý học thông minh! Những chính khách cực kỳ quan trọng, nhà vi khuẩn học, nhà thần kinh học! Họ đứng đây, bên trong bức tường ẩm thấp.

“Xin chào, tất cả quý vị!”

Ngài Tryon, ngài Owen, ngài Dunne, ngài Lang, ngài Steffens, ngài Fletcher, và nhiều nhiều người khác.

“Mời vào, mời vào!”

Cô Gibbs, cô Pope, cô Churchil, cô Blunt, cô Drummond và nhiều quý bà quý cô khác, lộng lẫy lấp lánh.

Những con người xuất sắc, ưu tú, thành viên của Hiệp hội Ngăn chặn những thứ Giả tưởng, những người ủng hộ việc xóa bỏ lễ hội Halloween và Guy Fawkes, những người diệt dơi, đốt sách, những kẻ cầm đuốc; những công dân tốt không tì vết, tất cả, họ đã đợi đến khi những người gan góc lên đây chôn vùi người Sao Hỏa và thanh tẩy thành phố, xây dựng thị trấn, sửa chữa cao tốc và làm cho mọi thứ trở nên an toàn. Thế và, khi mọi thứ đã an toàn đâu vào đấy rồi thì họ, những kẻ Hủy diệt Niềm vui, những kẻ có máu là thuốc đỏ khử khuẩn còn mắt màu cồn đỏ sát trùng, bắt đầu đến để thiết lập quy tắc đạo đức và ban phát phước lành cho mọi người. Và họ là bạn của lão! Phải, lão đã thận trọng, rất thận trọng gặp gỡ từng người và kết bạn với họ trong năm vừa qua trên Trái Đất!

“Xin chào mừng các vị đến với lãnh địa của Tử thần!” lão nói.

“Chào Stendahl, tất cả những thứ này cái gì vậy?”

“Các vị sẽ thấy. Hãy cởi quần áo ra. Các vị sẽ thấy ở phía bên này có những buồng thay đồ. Mặc quần áo hóa trang ở trong đó. Đàn ông phía này, phụ nữ bên kia.”

Họ đứng quanh bồn chồn.

“Tôi không biết liệu ta có nên ở lại,” cô Pope nói. “Tôi không thích vẻ ngoài của nơi này. Nó gần như... báng bổ.”

“Vớ vẩn, chỉ là một buổi khiêu vũ hóa trang thôi mà!”

“Có vẻ bất hợp pháp.” Ngài Steffens khịt mũi ngửi quanh.

“Thôi đi.” Stendahl cười. “Cứ thoải mái. Ngày mai nơi này sẽ chỉ còn là một đống đổ nát. Vào buồng thay đồ đi nào!”

Ngôi nhà bừng lên sự sống và màu sắc; những chú hề đội mũ gắn chuông lướt qua lướt lại, lũ chuột trắng nhảy điệu dân vũ tí hon theo tiếng nhạc của những cây vĩ cầm tí hon do các chú lùn kéo bằng những cây vĩ tí hon, cờ đuôi nheo phấp phới trên những xà nhà cháy sém, lũ dơi bay ùa thành từng đàn quanh những miệng máng xối hình quái thú đang phun ra rượu vang, thứ rượu mát lạnh, hoang dã và sủi bọt. Một khe nước luồn lách chảy quanh bảy căn phòng của buổi vũ hội hóa trang. Khách nhấp một ngụm và nhận ra đó là rượu sherry. Khách túa ra từ các buồng thay quần áo, biến đổi từ thời kỳ này sang một thời kỳ khác, diện mạo lấp dưới những cái mặt nạ nửa mặt, chính hành động đeo mặt nạ đã tước đi của họ quyền chỉ trích các nhân vật tưởng tượng và kinh dị. Phụ nữ bước ra trong bộ đầm dạ hội màu đỏ và cười khúc khích. Những người đàn ông mời họ khiêu vũ. Trên tường có những bóng đen dù chẳng có ai để mà hắt bóng, những chiếc gương đây đó cũng không phản chiếu hình ảnh của ai cả. “Tất cả chúng ta đều là ma cà rồng!” ngài Fletcher cười. “Đã chết!”

Có bảy căn phòng, mỗi phòng một màu khác nhau, một phòng màu xanh lơ, một phòng màu tía, một phòng màu xanh lục, một phòng màu cam, một phòng khác thì màu trắng, phòng thứ sáu màu tím, và phòng thứ bảy phủ một lớp nhung đen tuyền. Trong căn phòng màu đen có một chiếc đồng hồ gỗ mun, nó gõ tiếng rất to để báo giờ. Cuối cùng, khi đã say, các vị khách chạy qua chạy lại giữa những căn phòng này, cùng những nhân vật tưởng tượng bằng rô bốt, với những Chuột Sóc và Thợ Mũ Điên, những Thạch Yêu và Người Khổng Lồ, những Mèo Đen, những Hậu Trắng, và dưới những bàn chân nhảy nhót của họ, sàn nhà rung theo tiếng đập thình thịch của một quả tim vừa ẩn giấu vừa hé lộ.

“Ông Stendahl!”

Một tiếng thì thầm.

“Ông Stendahl!”

Một con quái vật có bộ mặt Thần Chết đứng cạnh tay lão. Đó là Pikes. “Tôi phải gặp riêng ông”

“Có chuyện gì vậy?”

“Đây.” Pikes chìa ra một bộ xương bàn tay. Trên đó, một vài con ốc, bu lông và bánh răng đã bị nung chảy, đen sì.

Stendahl nhìn chúng một lúc lâu. Rồi lão kéo Pikes vào một hành lang. “Garrett phải không?” lão thì thào.

Pikes gật đầu. “Anh ta đã cho rô bốt đến thay mình. Ban nãy lúc dọn lò thiêu, tôi đã thấy những thứ này.”

Hai người đăm đăm nhìn xuống đám bánh răng định mệnh.

“Điều này có nghĩa là cảnh sát sẽ đến đây bất cứ lúc nào.” Pikes nói. “Kế hoạch của chúng ta sẽ hỏng mất.”

“Tôi không biết.” Stendahl liếc sang những người đang xoay tròn trong những bộ quần áo màu vàng, xanh lơ và da cam. Âm nhạc tràn ngập hội trường ẩm ướt. “Lẽ ra tôi phải đoán được là Garrett sẽ không ngốc đến mức trực tiếp đến đây. Nhưng chờ đã!”

“Sao thế?”

“Không sao. Không hề hấn gì. Garrett đã cử một con rô bốt tới. Chúng ta gửi lại một con. Nếu không kiểm tra thật kỹ, anh ta sẽ không phát hiện ra là đã bị đánh tráo đâu.”

“Đương nhiên rồi.”

“Lần sau anh ta sẽ tự mình đến. Giờ anh ta sẽ nghĩ là an toàn. Chà, anh ta có thể xuất hiện ở cửa bất kỳ lúc nào, bằng xương bằng thịt! Lấy thêm rượu vang đi Pikes!”

Chiếc chuông lớn lại vang lên.

“Anh ta đến rồi đấy, tôi cá với cậu. Đi đón Garrett vào đi.”

Công chúa Tóc Mây thả mái tóc vàng óng xuống.

“Ông Stendahl?”

“Chào anh Garrett. Anh Garrett bằng xương bằng thịt đó phải không?”

“Vẫn là tôi.” Garrett đưa mắt nhìn những bức tường ẩm thấp và những vị khách đang xoay tròn. “Tôi nghĩ tôi nên tự mình đến xem. Chẳng trông chờ gì vào bọn rô bốt được. Đặc biệt là rô bốt của người khác. Tôi cũng đã cẩn thận gọi đội phá dỡ đến. Họ sẽ có mặt trong vòng một tiếng nữa và sẽ san phẳng cái nơi khủng khiếp này.”

Stendahl cúi mình. “Cảm ơn vì đã báo cho tôi biết.” Lão vẫy tay. “Trong lúc đó, chẳng tội gì anh không thư giãn một chút. Một chút vang nhé?”

“Không, cảm ơn ông. Cái gì đang xảy ra ở đây vậy? Ông còn có thể đi xa đến mức nào?”

“Anh tự xem xem, anh Garrett.”

“Giết người,” Garrett nói.

“Giết người gớm ghiếc nhất,” Stendahl nói.

Một phụ nữ la lên. Cô Pope chạy tới, mặt trắng bệch. “Điều khủng khiếp nhất vừa xảy ra! Tôi thấy cô Blunt bị một con khỉ siết cổ và nhét vào ống khói!”

Họ nhìn và thấy đuôi tóc màu vàng của cô thò ra ở ống khói. Garrett la lên.

“Khủng khiếp!” cô Pope khóc, rồi cô ngừng khóc. Cô chớp chớp mắt quay lại. “Cô Blunt!”

“Vâng,” cô Blunt đáp, đứng ngay đằng sau.

“Nhưng tôi vừa thấy cô bị nhét vào ống khói cơ mà!”

“Không” cô Blunt cười. “Đó chỉ là rô bốt giống hệt tôi thôi. Công nhận là rất giống!”

“Nhưng, nhưng…”

“Đừng khóc mà cưng. Tôi không sao đâu. Để tôi đi xem chính tôi nào. Chà, thế ra kia tôi! Trên ống khói. Như cô vừa nói. Thật thú vị phải không?”

Cô Blunt đi khỏi, vừa đi cô vừa cười.

“Uống nhé, anh Garrett?”

“Chắc tôi phải uống thôi. Chuyện vừa rồi khiến tôi hãi quá. Chúa ơi, thật là một nơi khủng khiếp. Nơi này đúng là nên bị san phẳng. Đã có lúc...”

Garrett uống.

Một tiếng hét nữa. Ngài Steffens được công kênh trên vai bốn con thỏ trắng, chúng đưa anh ta xuống một cái cầu thang tự dưng xuất hiện thần kỳ trên sàn nhà, ở dưới hầm, anh ta bị trói lại rồi bỏ mặc đấy cho một lưỡi dao thép gắn trên một con lắc khổng lồ đang xoáy xuống, mỗi lúc một gần cơ thể đang bị đày đọa của anh ta.

“Có phải tôi ở dưới đó không?” Steffens hỏi, anh ta đến bên Garrett. Anh ta cúi xuống hầm. “Thật kỳ lạ, thật kỳ quặc khi nhìn chính mình chết.”

Con lắc thực hiện xong cú đòn cuối cùng của nó.

“Cảm giác mới thật làm sao,” Steffens nói và quay đi.

“Một ly nữa nhé, anh Garrett?”

“Vâng, làm ơn.”

“Sẽ không lâu đâu. Đội phá dỡ sẽ đến đây.”

“Ơn Chúa.”

Và lần thứ ba, lại có một tiếng thét.

“Lần này là cái gì vậy?” Garrett lo lắng hỏi.

“Đến lượt tôi,” cô Drummond nói. “Trông kìa.”

Và một cô Drummond thứ hai đang bị đóng đinh vào một cỗ quan tài rồi quăng xuống đất mới đào trong khi cô vẫn còn đang la hét.

“Chà, tôi nhớ chuyện đó,” viên thanh tra của Sở Cảnh sát Đạo đức há hốc mồm. “Từ những cuốn sách cấm ngày xưa. Chôn sống. Và những vụ giết người kia. Cái hầm, quả lắc, con khỉ, ống khói, vụ án mạng đường Morgue. Trong một cuốn sách mà tôi đã đốt, đúng rồi!”

“Thêm ly nữa đi, Garrett. Đây, cầm ly của anh cho chắc nhé.”

“Chúa ơi, ông có trí tưởng tượng đấy nhỉ?”

Họ đứng theo dõi thêm năm cái chết nữa, một người chết trong miệng rồng, những người khác bị ném xuống hồ nước đen, chìm nghỉm và biến mất.

“Anh có muốn xem thứ mà chúng tôi chuẩn bị cho anh không?” Stendahl hỏi.

“Chắc chắn rồi,” Garrett nói. “Có sao đâu? Dù sao thì chúng tôi cũng sẽ san phẳng cái thứ chết tiệt này. Ông thật là kinh tởm.”

“Vậy thì đi theo tôi. Lối này.”

Và lão dẫn Garrett đi xuống hầm, qua rất nhiều lối đi ngầm và lại tiếp tục đi xuống một cầu thang xoáy sâu vào lòng đất, xuống hầm mộ.

“Ông muốn cho tôi xem thứ gì dưới này?” Garrett hỏi.

“Xem anh bị giết.”

“Bản sao của tôi?”

“Phải. Và một thứ khác nữa.”

“Thứ gì?”

“Amontillado[4],” Stendahl nói, lão đi tiếp, một tay giơ cao chiếc đèn lồng cháy rực. Những bộ xương người thò ra bên ngoài nắp các quan tài, đông cứng. Garrett lấy tay bịt mũi, nhăn mặt.

“Gì cơ?”

“Anh chưa bao giờ nghe đến Amontillado sao?”

“Chưa!”

“Anh không nhận ra cái này sao?” Stendahl chỉ vào một xà lim.

“Tôi biết nó à?”

“Thế còn cái này?” Stendahl lấy ra một cái bay trát vữa từ dưới áo choàng, miệng mỉm cười.

“Đấy là cái gì?”

“Đến đây!” Stendahl gọi.

Họ bước vào xà lim. Trong bóng tối, Stendahl lấy xích cột người đàn ông đã ngà ngà say lại.

“Chúa ơi, ông đang làm cái gì vậy?” Garrett quát, tiếng xích kêu loảng xoảng.

“Tôi đang châm biếm. Đừng có xen vào khi người khác đang châm biếm, như thế là không lịch sự đâu. Thế!”

“Ông đã xích tôi lại!”

“Đúng là như vậy.”

“Ông định làm gì?”

“Để anh lại đây.”

“Ông đang đùa.”

“Một trò đùa rất hay.”

“Bản sao của tôi đâu? Không phải chúng ta sẽ xem hắn bị giết thế nào sao?”

“Không có bản sao nào cả.”

“Còn những người khác thì sao?”

“Những người khác chết hết rồi. Những người bị giết mà anh nhìn thấy ban nãy là người thật. Bản sao của họ, bọn rô bốt mới là người đứng xem.”

Garrett không nói gì.

“Giờ anh sẽ nói ‘Vì tình yêu với Chúa, Montresor!”” Stendahl nói. “Và tôi sẽ đáp lại, ‘Phải, vì tình yêu với Chúa.’ Anh sẽ nói chứ? Nào. Nói đi.”

“Ông điên rồi.”

“Tôi phải dỗ dành anh sao? Nói đi. Nói ‘Vì tình yêu với Chúa, Montresor!””

“Tôi không nói, đồ điên. Thả tôi ra.” Anh ta đã tỉnh rượu rồi.

“Đây. Đeo cái này vào.” Stendahl vứt vào một thứ và nó kêu leng keng.

“Đây là cái gì?”

“Một cái mũ có gắn chuông. Đội lên, biết đâu tôi thả anh ra.”

"Stendahl!”

“Đội lên đi, tôi nói rồi đó!”

Garrett làm theo. Những quả chuông kêu lên leng keng.

“Anh có cảm giác là tất cả chuyện này đã từng xảy ra trước đây không?” Stendahl chất vấn, lão bắt tay vào việc với cái bay và hồ vữa và gạch.

“Ông đang làm gì vậy?”

“Xây tường bịt kín anh lại. Đây đã xong một hàng rồi. Thêm hàng nữa.”

“Ông điên rồi!”

“Chuyện đó tôi không cãi.”

“Ông sẽ bị truy tố vì chuyện này!”

Lão cạo cạo một viên gạch rồi đặt nó vào lớp vữa ướt, miệng ngân nga hát.

Giờ thì có tiếng đạp thình thịch, thùm thụp và tiếng kêu khóc từ trong bóng tối. Hàng gạch ngày một cao lên. “Cứ giãy giụa thoải mái đi,” Stendahl nói. “Mình hãy cùng diễn cho hay.”

“Thả tôi ra, thả tôi ra!”

Còn một viên gạch cuối cùng cần đẩy vào cho khít chỗ. Tiếng kêu la vẫn tiếp tục.

“Garrett?” Stendahl gọi khẽ. Garrett im lặng. “Garrett,” Stendahl gọi, “anh có biết tại sao tôi làm thế này với anh không? Bởi vì anh đã đốt sách của Poe mà không thèm đọc những cuốn sách ấy. Anh nghe người khác bảo rằng cần phải đốt. Nếu không, anh đã nhận ra điều tôi định làm với anh từ khi chúng ta xuống đây khi nãy. Ngu dốt là chết người, anh Garrett ạ.”

Garrett im lặng.

“Tôi muốn chuyện này diễn ra thật hoàn hảo” Stendahl nói, lão giơ cao chiếc đèn lồng để ánh sáng có thể lọt vào và chiếu sáng cái bóng đang suy sụp bên trong. “Lắc nhẹ cho chuông kêu đi nào.” Tiếng chuông khe khẽ kêu. “Giờ thì xin hãy nói ‘Vì tình yêu với Chúa, Montresor,’ tôi có thể sẽ thả anh ra.”

Khuôn mặt người đàn ông hiện rõ dưới ánh đèn. Anh ta lưỡng lự. Rồi người đàn ông kệch cỡm đó nói. “Vì tình yêu với Chúa, Montresor.”

“A,” Stendahl nhắm mắt. Lão nhét nốt viên gạch cuối vào và trát vữa. “Xin cho linh hồn này được yên nghỉ, anh bạn thân mến.”

Lão nhanh chóng đi ra khỏi hầm mộ.

Trong bảy căn phòng, tiếng đồng hồ báo nửa đêm khiến mọi thứ dừng cả lại.

Thần Chết Đỏ xuất hiện.

Stendahl đứng ở cửa ngoái lại nhìn một lúc. Rồi lão chạy ra khỏi ngôi nhà lớn, băng qua hào, đến chỗ một chiếc trực thăng đang đợi.

“Xong chưa, Pikes?”

“Xong rồi.”

“Đi thôi!”

Họ nhìn xuống ngôi nhà lớn, mỉm cười. Nó bắt đầu nứt ra ở giữa, như thể vừa có một trận động đất, và khi Stendahl theo dõi cảnh tượng ngoạn mục đó, lão nghe tiếng Pikes đọc phía sau lưng mình, giọng đều và nhỏ:

“... đầu óc tôi quay cuồng khi tôi thấy những bức tường vững chãi rời ra – có một tiếng hét kéo dài và dữ dội như tiếng gầm dưới đáy biển sâu – và hồ nước nhớp nháp dưới chân tôi đột nhiên khép lại lặng lẽ, nuốt lấy những mảnh vụn của Ngôi nhà của dòng họ Usher.”

Chiếc trực thăng bay lên phía trên hồ nước đang bốc hơi và bay về phía tây.

❀ ❀ ❀

[1] Trích truyện ngắn của nhà văn Edgar Allan Poe: “The Fall of the House of Usher" (Sự sụp đổ của ngôi nhà dòng họ Usher).

[2] Nhân vật Babbitt trong tiểu thuyết trào phúng cùng tên của Sinclair Lewis, một người luôn tuân thủ mọi quy chuẩn xã hội mà không suy nghĩ. An ý những người như thế cũng chỉ là “sinh vật tưởng tượng".

[3] Các nhân vật trong cuốn sách Alice ở xứ sở trong gương của Lewis Carroll.

[4] Một loại rượu sherry độc đáo, được đề cập trong truyện ngắn "The Cask of Amontillado" (Thùng rượu Amontillado) của Edgar Allan Poe, về một gã tên Montresor lên kế hoạch trả thù “bạn" mình trong lễ hội hóa trang bằng cách lừa người đàn ông say xỉn đó xuống một hầm rượu.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.