Biên Niên Ký Sao Hỏa

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
Tháng Chín năm 2036 Người Sao Hỏa

❊ ❊ ❊

Dãy núi màu lam nhô lên trong mưa và mưa trút nước xuống những dòng kênh dài, ông lão LaFarge cùng vợ bước ra cửa để ngắm mưa.

“Cơn mưa đầu tiên của mùa này,” ông LaFarge nhận xét.

“Thật là tốt,” vợ ông nói.

“Rất dễ chịu.”

Họ đóng cửa lại. Vào trong nhà, họ sưởi ấm tay bên lò sưởi. Họ rùng mình. Từ đằng xa, qua cửa sổ, họ trông thấy mưa loang loáng trên chiếc phi thuyền đã đưa họ từ Trái Đất lên đây.

“Chỉ có điều,” LaFarge nói, nhìn xuống đôi bàn tay.

“Gì vậy?” vợ ông hỏi.

“Ước gì chúng ta có thể đưa Tom cùng đi.”

“Ôi, thôi nào, Lafe!”

“Tôi sẽ không nói nữa; tôi xin lỗi.”

“Chúng ta lên đây để hưởng tuổi già trong bình yên, chứ không phải để nghĩ về Tom. Nó đã chết lâu rồi, chúng ta phải quên nó và mọi thứ dưới Trái Đất đi.”

“Bà nói đúng,” ông lão nói và trở bàn tay để tiếp tục sưởi ấm. Ông đăm chiêu nhìn ngọn lửa. “Tôi sẽ không nhắc đến chuyện này nữa. Chỉ tại tôi nhớ việc chúng ta cứ Chủ nhật hằng tuần lại lái xe đến công viên vĩnh hằng Green Lawn để đặt hoa trước mộ nó. Đó từng là chuyến đi xa duy nhất của chúng ta.”

Cơn mưa màu lam nhẹ nhàng rơi trên căn nhà.

Đến chín giờ, họ lên giường và nằm trong yên lặng, nắm tay nhau, trong bóng tối của cơn mưa, ông năm mươi lăm tuổi, còn bà sáu mươi.

“Anna?” ông gọi khẽ.

“Sao?” bà đáp.

“Bà có nghe thấy tiếng gì không?”

Cả hai lắng nghe tiếng mưa và tiếng gió.

“Không,” bà đáp.

“Có ai đó đang huýt sáo,” ông nói.

“Không, tôi không nghe thấy.”

“Dù sao thì tôi cũng cứ dậy xem thế nào.”

Ông khoác áo choàng vào rồi đi ra cửa trước. Tần ngần, ông mở cửa ra, mưa lạnh rơi xuống mặt ông. Gió vẫn thổi.

Trong khoảnh sân trước cửa có một bóng người nhỏ đang đứng.

Chớp giật ngang bầu trời trắng lòa, chiếu sáng một khuôn mặt đang nhìn ông lão LaFarge nơi ngưỡng cửa.

“Ai đó?” LaFarge gọi, run rẩy.

Không có tiếng trả lời.

“Ai vậy? Cậu muốn gì?”

Vẫn không có tiếng trả lời.

Ông cảm thấy yếu, và mệt mỏi và tê liệt. “Cậu là ai?” ông kêu to.

Vợ ông đã bước tới sau và khoác tay ông. “Sao ông lại lớn giọng thế?”

“Có một cậu bé đứng ở sân trước nhưng không chịu trả lời tôi,” ông lão nói, run run. “Cậu ta trông giống Tom!”

“Lên giường ngủ đi, ông nằm mơ rồi.”

“Nhưng cậu ta đứng kia kìa; bà nhìn xem.”

Ông mở rộng cửa để bà nhìn rõ hơn. Gió lạnh tạt vào, những hạt mưa thưa thớt rơi xuống nền đất, cái bóng vẫn đứng đó nhìn họ với đôi mắt xa xăm. Bà lão níu lấy ngưỡng cửa.

“Đi đi!” bà nói, xua một tay. “Đi đi!”

“Trông chẳng giống Tom sao?” ông lão hỏi.

Cái bóng không nhúc nhích.

“Tôi sợ,” bà lão nói. “Khóa cửa lại và đi ngủ thôi. Tôi không muốn dây dưa gì đến chuyện này.”

Bà đi vào phòng ngủ, vừa đi vừa rên rỉ.

Ông lão vẫn đứng lại, tay lạnh buốt vì mưa và gió.

“Tom,” ông gọi khẽ. “Tom, nếu là con, nếu đúng là con thật, thì Tom, bố sẽ không cài cửa. Nếu con lạnh và muốn vào trong nhà sưởi ấm, thì cứ vào mà nằm bên lò sưởi; có thảm lông ở đó.”

Ông đóng cửa nhưng không cài khóa.

Khi nhận thấy ông trở lại giường, bà rùng mình. “Thật là một đêm kinh khủng. Tôi thấy mình già quá” bà nói và nức nở khóc.

“Thôi nào,” ông vỗ về bà, và kéo bà vào lòng. “Đi ngủ đi!”

Một lúc lâu sau, bà ngủ.

Thế rồi, rất khẽ, ông dỏng tai lắng nghe, ông thấy tiếng cửa mở, mưa và gió đi vào, cánh cửa đóng lại. Ông nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng bên lò sưởi và nhịp thở khẽ khàng. “Tom,” ông tự nhủ.

Chớp nhì nhằng trên cao, rạch ngang bóng tối.

Sáng hôm sau, mặt trời nóng bỏng.

Ông LaFarge mở cửa vào phòng khách và liếc nhìn quanh, thật nhanh.

Không có ai trên tấm thảm trước lò sưởi.

LaFarge thở dài. “Mình già mất rồi,” ông nói.

Ông đi ra kênh để lấy một xô nước sạch về tắm. Ở cửa trước, ông suýt xô ngã cậu bé Tom đang xách về một xô nước đầy tràn. “Chào bố!”

“Chào Tom!” Ông lão bước sang bên. Cậu bé đi chân trần, hối hả băng qua căn phòng và đặt xô nước xuống rồi quay lại mỉm cười. “Hôm nay trời rất đẹp!”

“Đúng thế,” ông lão nói giọng ngờ vực. Cậu bé cư xử như thể không có gì là khác thường. Cậu bắt đầu vục nước rửa mặt.

Ông đến gần. “Tom, sao con đến đây được? Con còn sống sao?”

“Sao lại không ạ?” Cậu bé ngước lên.

“Nhưng, Tom này, nghĩa trang Green Lawn, Chủ nhật hằng tuần, hoa viếng và...” LaFarge phải ngồi xuống. Cậu bé đến gần và đứng trước mặt ông, cầm tay ông. Ông cảm nhận những ngón tay cậu ấm và rắn chắc. “Con thực sự đang ở đây, không phải là mơ chứ?”

“Bố muốn con ở đây phải không?” Cậu bé có vẻ lo lắng.

“Có chứ, có chứ Tom!”

“Vậy sao bố cứ hỏi? Cứ chấp nhận con thôi!”

“Nhưng còn mẹ con; cú sốc...”

“Đừng lo về mẹ. Suốt đêm con đã hát cho bố mẹ nghe, nên bố mẹ sẽ dễ dàng chấp nhận con, đặc biệt là mẹ. Con biết mẹ sẽ sốc chứ. chờ mẹ bố sẽ thấy.” Cậu cười, lắc lắc mái tóc xoăn màu đồng. Mắt cậu rất xanh và trong.

“Chào buổi sáng, Lafe, Tom.” Mẹ đi ra từ phòng ngủ, tóc búi gọn. “Hôm nay trời đẹp nhỉ?”

Tom quay sang bố cười. “Bố thấy chưa?”

Họ ăn một bữa trưa ngon lành, cả ba người, dưới bóng mát đằng sau nhà. Bà LaFarge tìm được một chai rượu vang hướng dương mà bà đã cất kỹ, mang ra cho tất cả cùng uống. Ông LaFarge chưa bao giờ thấy mặt vợ mình rạng ngời như vậy. Nếu trong lòng bà có bất kỳ nghi ngờ nào về Tom, bà cũng chẳng nói ra. Đó là một điều hết sức tự nhiên đối với bà. Và điều đó cũng dần trở nên tự nhiên đối với chính ông LaFarge.

Trong khi người mẹ dọn dẹp bát đĩa, LaFarge ghé sang con trai và kín đáo hỏi, “Con bao nhiêu tuổi rồi, con trai?”

“Bố không biết sao, bố? Tất nhiên là mười bốn.”

Thực ra con là ai? Con không thể là Tom được, mà phải là ai đó. Ai?”

“Đừng” Giật mình, cậu bé đưa tay lên che mặt.

“Cậu có thể nói với tôi,” ông già nói. “Tôi sẽ hiểu. Cậu là người Sao Hỏa, đúng không? Tôi đã nghe kể về người Sao Hỏa; không có gì rõ ràng cả. Họ rất hiếm gặp và khi họ xuất hiện thì sẽ xuất hiện trong diện mạo của người Trái Đất. Cậu có gì đó – cậu là Tom nhưng cũng không phải Tom.”

“Sao bố không thể cứ thế chấp nhận con và đừng nói nữa?” cậu bé kêu lên. Cậu che mặt bằng cả hai tay. “Đừng nghi ngờ, xin đừng nghi ngờ con!” Cậu quay đi và bỏ chạy.

“Tom, quay lại đây!”

Nhưng cậu bé đã chạy dọc bờ kênh về phía thị trấn xa xa.

“Tom đi đâu vậy?” Anna hỏi, bà đã trở lại dọn tiếp bát đĩa. Bà nhìn mặt chồng. “Ông nói gì làm nó buồn à?”

“Anna,” ông nói, cầm tay bà. “Anna, bà có nhớ gì về nghĩa trang Green Lawn, cái bia mộ và việc Tom bị viêm phổi không?”

“Ông đang nói cái gì vậy?” Bà cười.

“Thôi bỏ đi,” ông lặng lẽ nói.

Xa xa dọc bờ kênh, bụi đất nơi Tom chạy qua đã lắng xuống.

Đến năm giờ chiều, khi hoàng hôn xuống, Tom trở lại. Cậu nhìn bố nghi ngại. “Bố có định hỏi con điều gì không?” cậu băn khoăn.

“Không hỏi nữa,” LaFarge nói.

Cậu bé mỉm cười khoe hàm răng trắng. “Tốt quá.”

“Con đã ở đâu vậy?”

“Gần thị trấn. Suýt nữa con đã không thể quay lai. Con đã suýt thì...” cậu bé cố gắng tìm từ – “mắc kẹt.”

“Mắc kẹt’ nghĩa là sao?”

“Con đi ngang qua một căn nhà tôn nhỏ bên bờ kênh và suýt thì không thể quay về đây gặp bố mẹ được nữa. Con không biết giải thích như thế nào, không có cách nào để giải thích, con không thể nói được, vì chính con cũng không hiểu; lạ lắm, con không muốn nói về chuyện này nữa.”

“Vậy chúng ta sẽ không nói nữa. Con nên đi tắm đi. Đến giờ ăn tối rồi.”

Cậu bé chạy đi.

Khoảng mười phút sau, một con thuyền trôi xuôi mặt kênh êm ả. Người đàn ông cao gầy có mái tóc đen chống sào đẩy thuyền đi bằng cử động thong dong của đôi cánh tay. “Chào buổi tối, người anh em LaFarge,” ông ta nói và tạm dừng tay chống.

“Chào buổi tối Saul, có tin gì mới không?”

“Nhiều lắm. Ông biết cái gã tên là Nomland sống trong túp lều tôn ở đoạn kênh dưới kia không?”

LaFarge cứng người. “Sao?”

“Ông có biết gã là loại bất lương đến mức nào không?”

“Người ta đồn là gã bỏ trốn khỏi Trái Đất vì tội giết người.”

Saul chống người vào cây sào ướt, đăm đăm nhìn LaFarge. “Nhớ tên của người bị giết không?”

“Gillings, đúng không?”

“Phải. Gillings. Chà, khoảng hai tiếng trước, gã Nomland chạy vào thị trấn kêu ầm lên là đã nhìn thấy Gillings còn sống, trên Sao Hỏa này, ngay hôm nay, chiều nay! Gã tìm mọi cách để được nhốt vào phòng giam, để được an toàn. Nhưng họ không đồng ý. Thế là Nomland về nhà, và hai mươi phút sau, theo tôi được kể, gã đã dùng súng tự bắn vào đầu. Tôi vừa từ đấy về.”

“Chà, chà,” LaFarge nói.

“Chuyện chết tiệt gì cũng có thể xảy ra,” Saul nói. “Thôi, tạm biệt ông, LaFarge.

“Tạm biệt.”

Con thuyền tiếp tục trôi xuôi dòng nước êm ả.

“Bữa tối nóng hổi đây,” bà lão gọi.

Ông LaFarge ngồi xuống ăn tối và, cầm con dao trong tay, ông nhìn Tom như dò xét. “Tom,” ông hỏi, “chiều này con đã làm gì?”

“Không gì cả,” Tom trả lời, miệng đầy thức ăn. “Sao thế ạ?”

“Bố chỉ muốn biết thôi.” Ông gài khăn ăn vào.

Bảy giờ tối, bà lão muốn đi vào thị trấn. “Đã hàng mấy tháng mình không đi rồi,” bà nói. Nhưng Tom ngần ngừ. “Con sợ thị trấn lắm,” cậu nói. “Có nhiều người. Con không muốn đi.”

“Xem con đã lớn rồi mà còn nói vậy kìa,” Anna nói. “Mẹ sẽ không nghe gì hết. Con sẽ đi cùng. Mẹ bảo đi là đi.”

“Anna, nếu thằng bé không muốn...” ông lão cất lời.

Nhưng không tranh cãi gì hết. Bà thúc họ xuống thuyền và con thuyền đưa họ trôi xuôi theo dòng kênh dưới những ánh sao đêm. Tom nằm ngửa, nhắm mắt; không biết đang ngủ hay còn thức. Ông lão nhìn cậu bé không rời, trong lòng băn khoăn. Đây là ai, ông nghĩ, mà cũng cần tình yêu thương nhiều như chúng ta? Cậu ta là ai và cậu ta là gì, mà vì cô đơn, cậu ta phải tìm đến với những người ngoài hành tinh chúng ta, sao chép giọng nói và khuôn mặt từ ký ức chúng ta, để được chấp nhận và được hạnh phúc? Từ ngọn núi nào, cái hang nào, chủng tộc thưa người cuối cùng nào còn sót lại sau khi những chiếc phi thuyền từ Trái Đất đến đây? Ông lão lắc đầu. Không cách nào biết được. Đây, dù với mục đích nào, chính là Tom.

Ông lão nhìn về hướng thị trấn phía trước và cảm thấy không thích không khí ở đó, nhưng rồi ông trở lại với những suy nghĩ về Tom và Anna và ông tự nhủ: Có lẽ việc giữ Tom ở lại thêm dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn cũng là sai lầm, bởi nó không mang lại ích lợi gì ngoài rắc rối và đau khổ. Nhưng làm sao có thể dễ dàng từ bỏ thứ mà ta vẫn hằng mong muốn, kể cả khi biết rằng nó chỉ nán lại vài ngày thôi và sau đó sẽ biến mất, khiến cho sự trống trải càng lớn thêm, đêm tối càng u ám thêm, những đêm mưa càng sũng nước thêm? Thà giật thức ăn khỏi miệng chúng tôi còn hơn lấy đi của chúng tôi thứ này.

Và ông nhìn cậu bé đang ngủ yên lành trong lòng thuyền. Cậu đang nức nở vì một giấc mơ nào đó. “Người,” cậu mấp máy trong giấc ngủ. “Biến đổi và biến đổi. Mắc kẹt.”

“Nào, nào, con trai.” LaFarge vuốt ve mái tóc xoăn mềm mại của cậu bé và Tom ngừng khóc.

LaFarge đỡ vợ ông và con trai bước lên bờ.

“Chúng ta tới nơi rồi!” Anna mỉm cười nhìn ánh đèn, nghe tiếng nhạc phát ra từ những quán rượu, tiếng piano, tiếng máy quay đĩa, ngắm nhìn mọi người nắm tay thả bộ trên đường phố nhộn nhịp.

“Ước gì con đang ở nhà” Tom nói.

“Ngày xưa con chẳng bao giờ nói như vậy,” người mẹ nói. “Con luôn thích những buổi tối thứ Bảy ở thị trấn.”

“Đi sát vào con nhé,” Tom thì thầm. “Con không muốn bị mắc kẹt.”

Anna nghe được. “Đừng nói kiểu như vậy; đi thôi nào!”

LaFarge để ý thấy cậu bé nắm tay mình. LaFarge siết chặt tay cậu. “Bố sẽ ở bên cạnh con, Tommy.” Ông nhìn dòng người qua lại và bỗng nhiên cũng trở nên lo lắng. “Chúng ta sẽ không ở đây lâu.”

“Vớ vẩn, chúng ta sẽ ở đây cả đêm,” Anna nói.

Họ sang đường, ba gã say rượu đâm sầm vào họ. Trong lúc lộn xộn, họ bị tách ra, một chiếc xe lăn bánh ngang qua, thế rồi LaFarge đứng sững.

Tom không còn ở đó.

“Nó đâu rồi?” Anna cáu. “Hở ra một cái là đã chạy biến đi. Tom!” bà gọi.

Ông LaFarge chạy đi tìm trong đám đông, nhưng Tom đã biến mất.

“Nó sẽ quay lại; nó sẽ ở chỗ con thuyền khi chúng ta về,” bà tự tin nói, và kéo chồng đi về hướng rạp chiếu bóng. Bất chợt đám đông bỗng xôn xao, một người đàn ông và một người phụ nữ chạy qua LaFarge. Ông nhận ra họ. Đó là Joe Spaulding và vợ ông ta. Họ đã chạy mất trước khi ông kịp nói gì với họ.

Quay lại nhìn với vẻ bồn chồn, ông mua vé vào rạp và để mặc cho bà vợ kéo mình vào bóng tối mặc dù ông không hứng thú.

Lúc mười một giờ, Tom không có mặt ở bến thuyền. Mặt bà LaFarge trắng bệch.

“Thôi nào, mẹ nó à,” LaFarge nói, “đừng lo. Tôi sẽ đi tìm nó. Chờ ở đây nhé.”

“Nhanh nhé.” Giọng bà yếu ớt như lẫn vào tiếng vỗ của nước.

Ông bước đi trên những con phố đêm, tay cho vào túi. Khắp nơi, đèn đã lần lượt tắt. Một vài người còn ló đầu ra ngoài cửa sổ để hóng gió, bởi đêm nay trời ấm, mặc dù đôi lúc vẫn có những đám mây dông hiện ra giữa những vì sao lấp ló. Vừa đi ông vừa nhớ lại chuyện cậu bé liên tục nhắc đến việc bị mắc kẹt, nỗi sợ đám đông và các thành phố. Chẳng hiểu nổi, ông mệt mỏi nghĩ. Có lẽ cậu bé sẽ biến mất mãi mãi, có lẽ cậu chưa bao giờ tồn tại. LaFarge rẽ vào một con hẻm, dõi theo từng số nhà.

“Chào ông LaFarge.”

Một người đàn ông đang ngồi ở cửa nhà, hút tẩu.

“Chào Mike.”

“Ông với bà nhà lại có chuyện à? Ông ra ngoài cho đỡ bực à?”

“Không, tôi chỉ đang đi dạo.”

“Trông ông như vừa bị mất thứ gì đó. Nói về những thứ bị mất,” Mike nói, “tối nay người ta đã tìm lại được một người mất tích đấy. Ông biết Joe Spaulding chứ? Ông nhớ Lavinia, con gái ông ta không?”

“Có.” LaFarge lạnh người. Như một giấc mơ lặp lại. Ông biết người kia sẽ nói gì tiếp theo.

“Lavinia tối nay đã về nhà,” ông Mike vừa nói vừa hút thuốc. “Ông nhớ là cô bé đã bị mất tích dưới đáy biển cạn cách đây khoảng một tháng không? Họ đã tìm được xác cô bé, họ tin là thế, lúc đó nó đã phân hủy rồi. Kể từ đó, gia đình nhà Spaulding không ổn chút nào. Joe hay ra đường nói rằng cô bé chưa chết, đó không phải là xác của cô bé. Có lẽ ông ta đúng. Tối nay Lavinia đã xuất hiện.”

“Ở đâu?” LaFarge thấy mình thở gấp, tim đập dồn.

“Trên phố chính. Gia đình Spaulding đang mua vé vào rạp thì tự nhiên, Lavinia xuất hiện giữa đám đông. Cảnh tượng lúc đó chắc xôn xao ra trò. Lúc đầu cô bé không nhận ra họ. Họ đi theo nó đến giữa phố, nói chuyện với nó. Thế rồi nó nhớ ra.”

“Ông có nhìn thấy cô bé không?”

“Không, nhưng tôi nghe thấy nó hát. Ông có nhớ nó hay hát bài ‘Đôi bờ xinh đẹp của hồ Lomond’ không[1]? Ban nãy tôi nghe thấy nó líu lo cho bố nó nghe ở trong nhà. Tin này vui thật; cô bé xinh đẹp là vậy. Thật tiếc, tôi tưởng nó đã chết; nhưng giờ thì nó đã về và thế là tốt rồi. Nhưng mà này, trông ông yếu lắm. Vào đây uống một ly whisky chứ...”

“Không, cảm ơn Mike.” Ông lão bước đi. Ông nghe tiếng Mike chào tạm biệt nhưng không đáp lại, mà chỉ chăm chăm nhìn tòa nhà hai tầng nơi những cụm hoa màu đỏ của Sao Hỏa mọc lan trên mái nhà pha lê. Ở khu vườn trên cao sau nhà là một ban công sắt uốn và những cửa sổ còn sáng đèn. Lúc đó đã rất khuya, nhưng ông vẫn tự nhủ: Anna sẽ ra sao nếu mình không đưa được Tom về? Cú sốc thứ hai này, cái chết thứ hai này, sẽ tác động thế nào với bà ấy? Liệu bà ấy có nhớ đến cái chết đầu tiên, và cơn mơ này, và sự biến mất đột ngột? Ôi Chúa ơi, mình phải tìm được Tom, không thì Anna sẽ ra sao? Anna tội nghiệp đang đứng chờ ở bến thuyền. Ông ngừng lại và ngẩng đầu lên. Đâu đó trên kia, những giọng nói khe khẽ chúc ngủ ngon, những cánh cửa khép lại, đèn tắt, và một tiếng hát dịu dàng vẫn tiếp tục. Lát sau, một cô gái rất dễ thương, tầm mười tám tuổi hoặc ít hơn, bước ra đứng ở ban công.

LaFarge gọi với lên theo làn gió.

Cô gái quay ra và nhìn xuống. “Ai vậy?” cô kêu lên.

“Bố đây,” ông nói, và khi nhận ra câu trả lời này thật ngốc nghếch và kỳ quặc, ông im lặng nhưng môi vẫn mấp máy. Liệu ông có nên gọi to lên. “Tom, con trai ơi, bố của con đây?” Nói thế nào với cô bé? Cô sẽ nghĩ ông bị điên và đi gọi bố mẹ.

Cô gái cúi người xuống trong ánh sáng rạng rỡ. “Tôi biết ông,” cô đáp khẽ. “Xin hãy đi đi; ông không làm gì được đâu.”

“Con phải quay về!” LaFarge buột miệng nói.

Cái bóng được ánh trăng chiếu vào trên ban công lại lẫn vào bóng tối, nên không thể nhận ra, chỉ nghe thấy một giọng nói. “Tôi không còn là con trai ông nữa,” giọng nói đáp. “Lẽ ra chúng ta không nên đi vào thị trấn.”

“Anna đang chờ ở bến thuyền.”

“Tôi xin lỗi” giọng nói lặng lẽ đáp. “Nhưng tôi có thể làm gì được? Tôi hạnh phúc khi ở đây, tôi được yêu thương, cũng nhiều như được ông bà yêu thương vậy. Tôi là tôi, và tôi cũng là bất kỳ ai theo suy nghĩ của mọi người; quá muộn rồi, họ đã bắt được tôi.”

“Nhưng Anna, cú sốc với bà ấy, hãy nghĩ về điều đó.”

“Suy nghĩ ở trong căn nhà này quá mạnh; cảm giác như bị bủa vây. Tôi không thể tự biến mình trở lại như cũ.”

“Con là Tom, con từng là Tom, đúng không? Con đừng đùa cợt một ông già; con thực sự không phải là Lavinia Spaulding?”

“Tôi không là ai hết, tôi chỉ là tôi; cho dù là ở đâu, tôi cũng là một thứ gì đó, và giờ thì tôi là một thứ mà ông không thể ngăn cản được.”

“Con sẽ không được an toàn nếu ở trong thị trấn. Tốt hơn là lên thuyền đi đến nơi không ai có thể làm con tổn thương” ông lão van xin.

“Đúng vậy.” Giọng nói ngần ngừ. “Nhưng tôi cũng phải nghĩ đến những người này nữa. Họ sẽ cảm thấy thế nào nếu sáng ra, tôi lại biến mất, lần này là biến mất hẳn? Dù sao thì mẹ cũng biết tôi là cái gì; bà ấy đoán được, giống như ông đã đoán được. Tôi nghĩ tất cả bọn họ đều đoán được nhưng không ai hỏi. Người ta không chất vấn ý Chúa. Nếu không thể có nhau trong thực tế thì một giấc mơ cũng tốt rồi. Có lẽ với họ, tôi không chỉ là một người thân trở về từ cõi chết, mà còn là cái gì đó hơn thế; một hình ảnh lý tưởng do tâm trí họ tạo ra. Tôi phải lựa chọn giữa việc làm tổn thương ai, họ hay là vợ ông.”

“Gia đình họ có năm người. Họ có thể chịu đựng mất mát này dễ dàng hơn.”

“Xin ông” giọng nói đáp. “Tôi mệt mỏi lắm.”

Giọng ông đanh lại. “Cậu phải đi. Tôi không thể để Anna lại đau đớn một lần nữa. Cậu là con trai chúng tôi. Cậu là con trai tôi, và cậu thuộc về chúng tôi.”

“Không, xin ông!” Cái bóng run rẩy.

“Cậu không thuộc về ngôi nhà này và những người này.”

“Không, xin đừng làm thế với tôi.”

“Tom, Tom, con trai à, nghe bố này. Quay lại đi, trượt xuống theo dây leo này đi con. Đi thôi, Anna đang chờ; bố mẹ sẽ cho con một mái nhà ấm áp, mọi thứ con muốn.” Ông nhìn lên da diết, đầy quyết tâm.

Những cái bóng trôi qua, cây dây leo xao động.

Cuối cùng có tiếng nói khẽ, “Được rồi, bố.”

"Tom!”

Dưới ánh trăng, bóng một cậu bé nhanh nhẹn trượt xuống theo cây leo. LaFarge giơ tay ra đỡ cậu.

Đèn trong căn phòng phía trên bật sáng. Một giọng nói cất lên sau một trong các cửa sổ chắn lưới. “Ai ở dưới đó?”

“Nhanh lên, con trai!”

Thêm nhiều đèn được bật lên và thêm nhiều tiếng nói. “Dừng lại, tôi có súng! Vinny, con không sao chứ?” Có tiếng chân chạy.

Ông và cậu bé cùng nhau chạy qua khu vườn.

Một tiếng súng vang lên. Viên đạn bắn trúng vào tường vừa lúc họ đóng sầm cánh cổng.

“Tom, con chạy lối đó; bố chạy lối này để đánh lạc hướng họ! Chạy đến kênh ấy; bố sẽ gặp con ở đó sau mười phút nữa, con trai!”

Họ chia nhau ra.

Mặt trăng giấu mình sau một đám mây. Ông lão chạy đi trong bóng tối.

“Anna, tôi đây!”

Bà lão đỡ ông lên thuyền, run rẩy. “Tom đâu?”

“Nó sẽ đến bây giờ,” LaFarge thở hổn hển.

Họ quay ra quan sát những con hẻm của thị trấn đang ngủ. Những người đi đêm vẫn đang ở ngoài kia: một viên cảnh sát, một người gác đêm, một phi hành gia, một vài người đàn ông độc thân trở về nhà sau buổi hẹn hò, một nhóm bốn người đàn ông và một phụ nữ đi ra từ một quán bar, cười nói. Âm nhạc réo rắt đâu đó.

“Sao nó vẫn chưa đến?” bà lão hỏi.

“Nó sẽ đến, nó sẽ đến.” Nhưng LaFarge không chắc chắn lắm. Nhỡ thằng bé lại bị bắt trở lại thì sao, như thế nào đó, bằng cách nào đó, trên đường đi đến bến thuyền, khi đang chạy trên đường phố nửa đêm giữa những ngôi nhà tối. Đó là một quãng đường dài, ngay cả đối với một thiếu niên. Nhưng lẽ ra cậu phải đến trước ông mới đúng.

Từ đằng xa, trên đại lộ sáng ánh trăng, có một bóng người đang chạy.

LaFarge kêu thốt lên rồi im lặng, bởi vì ở đằng đó còn có tiếng nói và tiếng chân chạy của nhiều người khác. Những ánh đèn bật sáng, lần lượt từ cửa sổ này đến cửa sổ khác. Băng qua quảng trường và hướng đến bến thuyền, một cái bóng đang chạy. Đó không phải Tom đó chỉ là một cái bóng đang chạy, với một khuôn mặt loang loáng ánh bạc phản chiếu ánh sáng từ những bóng đèn quanh quảng trường. Và khi cái bóng chạy lại gần hơn nữa, gần hơn nữa, nó càng có vẻ quen thuộc hơn, cho đến khi chạy đến bến thuyền thì đó là Tom! Anna đưa tay ra đỡ. LaFarge hối hả tháo dây buộc thuyền. Nhưng đã quá muộn.

Từ phía đại lộ, băng qua quảng trường yên tĩnh, giờ đây có một người đàn ông, một người đàn ông nữa, một người phụ nữ, hai người đàn ông nữa, ông Spaulding, tất cả đều đang chạy. Họ dừng lại, bối rối. Họ nhìn xung quanh, nửa muốn quay lại vì đây có thể chỉ là một cơn ác mộng, mọi chuyện thật điên rồ. Nhưng họ lại tiến lên, ngần ngừ, dừng lại, rồi đi tiếp.

Đã quá muộn. Buổi đêm, và chuyện này, đã đến hồi kết. LaFarge cuộn dây thừng vào ngón tay. Ông rất lạnh lẽo và đơn độc. Những người kia nhấc chân lên rồi lại đặt chân xuống dưới ánh trăng, lướt đi với tốc độ lớn, mắt mở to, cho đến khi cả mười người dùng lại ở bến thuyền. Họ săm soi ngó vào thuyền. Họ kêu lên.

“Đứng im, LaFarge!” Spaulding có súng.

Và giờ thì mọi chuyện đã rõ. Tom đã chạy qua các con phố sáng ánh trăng, một mình, lướt qua người này người kia. Một viên cảnh sát trông thấy cái bóng lao qua. Thế là anh ta quay lại, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt cậu, gọi một cái tên, và ra lệnh “Anh kia, đứng lại!” Anh ta trông thấy mặt một tên tội phạm. Dọc đường đến đây, điều tương tự đã xảy ra, chỗ này thì với những người đàn ông, chỗ kia là với những người phụ nữ, rồi những người gác đêm, những phi hành gia. Cái bóng là tất cả đối với họ, mọi danh tính, mọi cá nhân, mọi cái tên. Không biết bao nhiêu cái tên khác nhau đã được gọi ra trong năm phút vừa qua? Bao nhiêu khuôn mặt đã xuất hiện trên mặt Tom, tất cả đều sai?

Suốt dọc con đường, người bỏ chạy và người truy đuổi, giấc mơ và những kẻ chạy theo giấc mơ, con mồi và chó săn. Suốt dọc con đường là sự hiển lộ, một ánh mắt quen, một cái tên cũ, một ký ức cũ, đám người cứ nhiều lên mãi. Tất thảy đều lao lên phía trước trong lúc cái giấc mơ đang chạy kia chợt đến rồi đi, biến thành những khuôn mặt khác nhau đối với những người ở trước mặt, những người ở đằng sau, những người chưa nhìn thấy và những người không nhìn thấy, như một hình ảnh phản chiếu từ mười nghìn tấm gương, mười nghìn đôi mắt.

Và giờ thì tất cả bọn họ đều ở đây, nơi bến thuyền, đòi hỏi giấc mơ của riêng mình, như chúng ta muốn cậu là Tom chứ không phải Lavinia hay William hay Roger hay bất kỳ ai khác, LaFarge nghĩ. Nhưng mọi chuyện đã kết thúc rồi. Chuyện này đã đi quá xa.

“Lên đây, tất cả lên đây!” Spaulding ra lệnh.

Tom bước lên. Spaulding túm lấy cổ tay cậu bé. “Con sẽ về nhà với ta. Ta biết.”

“Chờ đã,” viên cảnh sát nói. “Hắn là tù nhân của tôi. Tên là Dexter; đang bị truy nã vì tội giết người.”

“Không!” một người phụ nữ sụt sịt khóc. “Anh ấy là chồng tôi! Tôi phải biết chồng tôi chứ!”

Những giọng nói khác phản đối. Đám đông xít lại.

Bà LaFarge đứng lên chắn trước Tom. “Đây là con trai tôi; các người không có quyền buộc nó vào tội gì hết. Chúng tôi sẽ về nhà bây giờ!”

Về phần Tom, cậu đang run rẩy, co giật dữ dội. Trông cậu rất không ổn. Đám đông dồn sát vào cậu, vươn tay ra túm cậu, giành cậu về phía mình.

Tom hét lên.

Trước mắt họ, cậu biến đổi. Cậu là Tom, rồi là James, rồi là một người tên Switchman, một người nữa tên Butterfield; cậu là thị trưởng và là cô bé Judith và là người chồng William và là người vợ Clarisse. Cậu là sáp tan ra thành hình dạng mà tâm trí họ mong muốn. Họ quát tháo, họ dồn ép về phía trước, cầu xin. Cậu hét lên, dang tay ra, khuôn mặt cậu biến đổi theo từng đòi hỏi. “Tom!” LaFarge kêu lên. “Alice!” một người khác. “William!” Họ cào cấu cổ tay cậu, xoay tròn cậu, cho đến khi với một tiếng thét kinh hoàng cuối cùng, cậu ngã xuống.

Cậu nằm trên thềm đá, cơ thể bằng sáp tan chảy giờ nguội lại, khuôn mặt cậu là mọi khuôn mặt, một con mắt xanh, một con mắt vàng, mái tóc vừa nâu, vừa đỏ, vừa vàng, vừa đen, một bên lông mày rậm, một bên mỏng, một tay to, một tay bé.

Họ đứng nhìn xuống cậu và tay che miệng. Họ cúi xuống.

“Nó chết rồi,” cuối cùng có người nói.

Trời bắt đầu mưa.

Mưa rơi xuống đám người, họ nhìn lên trời.

Từ từ, rồi sau đó nhanh hơn, họ quay người bước đi rồi bắt đầu chạy, tản ra tứ phía. Trong chốc lát, nơi này đã không còn ai. Chỉ còn ông bà LaFarge ở lại, nhìn xuống, nắm tay nhau và kinh hãi.

Mưa rơi trên khuôn mặt đang nhìn lên, không thể nhận ra.

Anna không nói gì nhưng bà bắt đầu khóc.

“Thôi ta về, Anna, chúng ta không thể làm gì nữa,” ông lão nói.

Họ trèo xuống thuyền và ngược dòng trở về trong màn đêm. Họ đi vào nhà và thắp một ngọn lửa rồi sưởi ấm tay. Họ lên giường và nằm cạnh nhau, lạnh giá và gầy guộc, lắng nghe tiếng mưa trở lại trên mái nhà, phía trên họ.

“Nghe kìa,” LaFarge nói lúc nửa đêm. “Bà có nghe thấy gì không?”

“Không, không gì cả.”

“Dù sao thì tôi cũng đi xem thế nào.”

Ông dò dẫm đi qua căn phòng tối và đứng chờ ở của một lúc lâu trước khi mở ra.

Ông mở rộng cửa nhìn ra ngoài.

Mưa từ nền trời đen kịt trút lên khoảng sân trước trống trải, xuống dòng kênh và giữa những ngọn núi màu lam.

Ông đợi năm phút rồi, với đôi bàn tay ướt đẫm, ông khẽ đóng và chốt cửa lại.

❀ ❀ ❀

[1] "The Bonnie Banks of Loch Lomond".

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.