Biên Niên Ký Sao Hỏa

Lượt đọc: 33 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Tháng Sáu năm 2032 ... Và trăng vẫn sáng

❊ ❊ ❊

Khi họ bước từ phi thuyền xuống thì màn đêm đã buông, trời lạnh đến mức Spender bắt đầu phải gom củi khô để nhóm một ngọn lửa nhỏ. Anh không đả động gì đến lễ chào mừng; anh chỉ gom củi, nhóm lửa và ngắm nhìn lửa cháy.

Trong ánh lửa lóe lên chiếu sáng bầu không khí loãng của khu vực biển cạn này, anh liếc nhìn chiếc phi thuyền đã đưa tất cả bọn họ, cơ trưởng Wilder, Cheroke, Hathaway, Sam Parkhill và chính anh, bay xuyên qua không gian tĩnh lặng và đen thẳm đầy những vì sao để đáp xuống thế giới ảo mộng, chết chóc này.

Jeff Spender đã nghĩ là họ sẽ ồn ào. Anh theo dõi những người khác và chờ đợi họ nhảy lên la hét. Điều đó sẽ xảy ra ngay lúc cảm giác tê liệt khi là những người “đầu tiên” đặt chân lên Sao Hỏa lắng xuống. Không ai nói gì, nhưng có lẽ nhiều người trong số họ hy vọng rằng các đoàn thám hiểm trước đây đã thất bại, còn lần này, đoàn thám hiểm thứ tư sẽ thành công. Họ không có ý gì xấu, mà chỉ đơn giản nghĩ vậy thôi, nghĩ về danh dự và danh vọng, trong lúc đợi cho lá phổi của mình quen với độ loãng của không khí trên Sao Hỏa, thứ khiến cho họ có vẻ nôn nao, nếu cử động quá nhanh.

Biggs bước đến chỗ đống lửa mới nhóm và hỏi, “Sao chúng ta không dùng lửa hóa chất trên tàu thay vì nhóm củi?”

“Không sao đâu,” Spender nói, anh không nhìn lên.

Sẽ không đúng đắn lắm nếu ngay trong đêm đầu tiên đặt chân lên Sao Hỏa, chúng ta lại tạo ra một tiếng ồn lớn, lại trưng ra một thứ ánh sáng kỳ lạ ngớ ngẩn giống như một cái bếp lò. Cảm giác sẽ giống như mang đến sự báng bổ ngoại lai. Chúng ta sẽ có thời gian cho điều đó sau; thời gian để ném vỏ hộp sữa đặc xuống những dòng kênh của Sao Hỏa kiêu hãnh; thời gian để tờ Thời báo New York lăn lóc, sột soạt trên đáy biển cạn xám xịt quạnh hiu của Sao Hỏa; thời gian để vỏ chuối và khăn giấy giắt vào khe của những tàn tích nứt nẻ, mong manh của các thị trấn dưới thung lũng của Sao Hỏa. Rất nhiều thời gian cho việc đó. Và anh lén run rẩy vì suy nghĩ đó.

Anh dùng tay tiếp thêm lửa, và nó giống như lễ vật để cúng cho một gã khổng lồ đã chết. Họ đã đáp xuống một hầm mộ khổng lồ. Ở đây, một nền văn minh đã chết. Phải giữ yên tĩnh trong đêm đầu tiên, đó là một phép tắc đơn giản.

“Tôi không nghĩ chúng ta sẽ ăn mừng kiểu này.” Biggs hướng về phía cơ trưởng Wilder. “Thưa cơ trưởng, tôi tưởng chúng ta sẽ bật tung nắp hàng đống rượu gin, chén đầy thịt thà và hú hét tí chút chứ.”

Cơ trưởng Wilder nhìn về phía thành phố chết cách đó một dặm. “Chúng ta đều mệt rồi,” anh nói mơ hồ, như thể toàn bộ sự chú ý của anh dồn cả vào thành phố kia và quên hết những người xung quanh. “Đêm mai, có lẽ. Đêm nay chúng ta nên thấy mừng vì đã vượt qua không gian mà không bị đâm vào sao chổi và không ai trong chúng ta phải chết.”

Họ đi loanh quanh. Họ có tất cả hai mươi người, họ khoác vai nhau hoặc tự chỉnh lại thắt lưng. Spender theo dõi họ. Họ có vẻ bất mãn. Họ đã liều mình để làm một việc lớn. Giờ thì họ muốn hò hét, uống rượu và nổ súng để chứng tỏ mình tuyệt vời ra sao khi đã chọc thủng một lỗ xuyên không gian và cưỡi trên một chiếc phi thuyền đến tận Sao Hỏa.

Nhưng không ai reo hò cả.

Cơ trưởng lặng lẽ ra lệnh. Một trong số họ trở lại tàu và mang xuống những hộp đồ ăn đã mở rồi lặng lẽ đổ ra đĩa. Bây giờ họ bắt đầu nói chuyện. Cơ trưởng ngồi xuống và thuật lại chuyến đi cho họ nghe. Họ đã biết hết các chi tiết nhưng nghe lại thì vẫn thích, như một công việc đã hoàn thành tốt và giờ có thể yên tâm cất sang một bên. Họ không muốn nói đến chuyến quay về. Có người đã nhắc đến, nhưng họ bảo anh ta hãy im lặng. Dưới ánh sáng của mặt trăng đôi, họ dùng thìa để ăn; đồ ăn thì ngon còn rượu vang còn ngon hơn nữa.

Bỗng một ngọn lửa xẹt ngang bầu trời, và trong phút chốc, một chiếc phi thuyền phụ đáp xuống bên kia bãi hạ trại. Spender theo dõi cánh cửa nhỏ mở ra và Hathaway, nhà địa chất học kiêm thầy thuốc bước ra, họ đều là những người cùng lúc có hai khả năng, để tiết kiệm không gian trên phi thuyền. Anh ta chậm rãi bước về phía cơ trưởng.

“Sao rồi?” cơ trưởng Wilder hỏi.

Hathaway nhìn về phía những thành phố lung linh dưới ánh sao phía xa. Sau khi nuốt nước bọt và tập trung ánh mắt, anh ta nói, “Thành phố kia, thưa cơ trưởng, đã chết và đã chết từ hàng ngàn năm nay. Ba thành phố ở trên đồi cũng vậy. Nhưng thành phố thứ năm, cách đây hai trăm dặm, thưa cơ trưởng.”

“Thành phố đó thì sao?”

“Tuần trước vẫn có người sống, thưa cơ trưởng.”

Spender đứng dậy.

“Người Sao Hỏa,” Hathaway nói.

“Bây giờ họ ở đâu?”

“Họ chết rồi.” Hathaway nói. “Tôi đã đi vào một căn nhà trên phố. Tôi cứ nghĩ nó đã chết từ nhiều thế kỷ trước, giống như các thị trấn khác, những ngôi nhà khác. Chúa ơi, ở đó có những thi thể. Giống như một thảm lá mùa thu ấy. Giống như những cái que và những mẩu bảo chảy, thế thôi. Và những thi thể đó còn mới. Có vẻ như họ mới chết được mười ngày.”

“Anh đã kiểm tra các thị trấn khác chưa? Anh có thấy thứ gì còn sống không?”

“Hoàn toàn không. Cho nên tôi đã đi xem xét các thị trấn khác. Cứ năm thị trấn lại có bốn thị trấn đã bỏ không hàng ngàn năm. Điều gì đã xảy ra với những cư dân bản địa, tôi không hề có một ý niệm nào dù mơ hồ nhất. Nhưng cứ đến thành phố thứ năm sẽ luôn có một thứ. Đó là thi thể. Hàng ngàn thi thể.”

“Họ chết vì cái gì?” Spender tiến lên phía trước.

“Anh sẽ không tin nổi đâu.”

“Cái gì đã giết chết họ?”

Hathaway chỉ nói, “Bệnh thủy đậu.”

“Chúa ơi, không!”

“Có đấy. Tôi đã làm xét nghiệm. Đó là bệnh thủy đậu. Nó tác động lên người Sao Hỏa theo cách khác với người Trái Đất. Cơ chế trao đổi chất của họ khác chúng ta, tôi đoán vậy. Khiến họ bị bỏng và cháy đen thành than. Nhưng dù sao thì tôi chắc chắn đó là bệnh thủy đậu. Cho nên York, cơ trưởng Williams và cơ trưởng Black hẳn đã phải đến được Sao Hỏa, cả ba đoàn thám hiểm. Chúa biết điều gì đã xảy ra với họ. Nhưng ít nhất chúng ta biết rằng họ đã vô tình để lại điều gì cho người Sao Hỏa.”

“Anh không thấy sự sống nào khác ư?”

“Có lẽ vẫn còn một vài người Sao Hỏa, những người thông minh, họ đã trốn lên núi. Nhưng tôi xin cá rằng, họ không đủ để là một vấn đề bản địa đối với chúng ta. Hành tinh này đã tiêu rồi.”

Spender quay đi và đến ngồi bên đống lửa, nhìn đăm đăm vào nó. Thủy đậu, Chúa ơi, thủy đậu, nghĩ mà xem! Một chủng tộc hình thành và phát triển trong hàng triệu năm, tự hoàn thiện mình, xây dựng nên những thành phố như thế, làm mọi thứ có thể để mang lại vẻ đẹp và sự tôn trọng cho chính mình, rồi chết đi. Một phần đã chết từ từ, đúng quy luật và trước thời đại của chúng ta với sự tôn nghiêm. Nhưng còn lại thì sao! Họ có chết vì một căn bệnh có cái tên thật đẹp hay một cái tên đáng sợ hay một cái tên kỳ diệu? Không, mà trong số bao nhiêu cái tên linh thiêng trên đời, nó phải là bệnh thủy đậu, một căn bệnh của trẻ con và thậm chí chẳng đứa trẻ con nào trên Trái Đất phải chết vì nó! Điều này không đúng và không công bằng. Giống như bảo người Hy Lạp chết vì quai bị, người La Mã kiêu hãnh chết trên những ngọn đồi tươi đẹp vì hắc lào! Giá như ta cho người Sao Hỏa đủ thời gian để mặc áo liệm, nằm xuống, với một diện mạo tử tế, và nghĩ ra một lý do khác cho cái chết của mình. Đó không thể là một thứ bẩn thỉu, ngớ ngẩn như bệnh thủy đậu. Nó không tương xứng với kiến trúc ở đây; nó không phù hợp với toàn bộ thế giới này!

“Được rồi, Hathaway, anh ra ăn cái gì đó đi.”

“Cảm ơn cơ trưởng.

Và họ nhanh chóng quên chuyện đó đi. Những người đàn ông trò chuyện với nhau.

Spender không rời mắt khỏi họ. Anh bỏ mứa thức ăn trên chiếc đĩa dưới tay. Anh cảm thấy xung quanh ngày một lạnh hơn. Những ngôi sao gần lại, trông rất rõ.

Mỗi khi có ai đó nói quá to, cơ trưởng lại đáp bằng một giọng nhỏ nhẹ khiến họ phải nói nhỏ theo.

Không khí có mùi sạch sẽ và tươi mới. Spender ngồi rất lâu chỉ để thưởng thức nó. Có rất nhiều mùi mà anh không xác định được: hoa, hóa chất, bụi, gió.

“Hồi ở New York tớ có một em tóc vàng, tên là gì nhỉ?... Ginnie!” Biggs kêu lên. “Đúng cái tên đó!”

Spender co người lại. Bàn tay anh bắt đầu run. Mắt anh chuyển động dưới làn mi thưa và mỏng.

“Và Ginnie nói với tớ...” Biggs toang toác.

Đám đàn ông ồ lên.

“Thế là tớ hôn cô ta cái chụt!” Biggs hét to, tay ôm chai.

Spender đặt đĩa của mình xuống. Anh lắng nghe tiếng gió thổi bên tai, mát mẻ và thì thầm. Anh nhìn lớp băng trên những tòa nhà Sao Hỏa màu trắng ở đằng xa bên kia biển cạn.

“Cô ta tuyệt lắm, đỉnh cực!” Biggs dốc cạn chai, mồm rộng ngoác. “Nhất trong số đàn bà mà tớ biết!”

Mùi từ cơ thể nhễ nhại của Biggs phảng phất trong không gian. Spender để cho ngọn lửa tự tàn. “Này, cho thêm củi đi, Spender!” Biggs liếc anh rồi trở lại với cái chai của mình. “Chà, một đêm tớ và Ginnie...”

Một người tên là Schoenke lấy đàn accordion ra và giậm chân nhảy múa, bụi tung bay quanh anh ta.

“Hú hú... mình sống rồi!” anh ta hét.

“Hoan hô!” Đám đàn ông ồ lên. Họ ném những cái đĩa đã hết sạch xuống đất. Ba người xếp thành hàng và cùng giậm chân nhảy như các cô gái trong dàn hợp xướng, trêu chọc nhau om sòm. Những người khác thì vỗ tay, la hét cổ vũ cho một hành động nào đó sắp diễn ra. Cheroke cởi phăng áo ra khoe bộ ngực trần đang túa mồ hôi vì quay cuồng nhảy múa. Ánh trăng chiếu lên mái tóc húi cua và khuôn mặt non choẹt nhẵn nhụi.

Dưới đáy biển, gió khuấy động những làn hơi nước mờ nhạt, và từ trên núi, bóng những phiến đá lớn nhìn xuống chiếc phi thuyền màu bạc và ngọn lửa nhỏ.

Tiếng ồn ngày một lớn, nhiều người tham gia nhảy hơn, ai đó còn thổi khẩu cầm, có người thổi kèn lược. Thêm hai mươi chai nữa được khui ra và uống cạn. Biggs loạng choạng đi qua đi lại, huơ tay chỉ đạo những người đang nhảy múa.

“Nào, cơ trưởng!” Cheroke gọi cơ trưởng, cậu ta đang rền rĩ một bài hát.

Cơ trưởng đành phải nhập hội. Anh không muốn vậy. Mặt anh nghiêm nghị. Spender theo dõi và nghĩ: Tội nghiệp anh, thật là một đêm gì không biết! Họ không biết họ đang làm gì. Lẽ ra họ cần phải được tập huấn trước khi lên Sao Hỏa, để biết cần phải có tác phong thế nào, đi đứng ra sao và cư xử biết điều một chút trong một vài ngày đầu.

“Đủ rồi đấy.” Cơ trưởng xin thôi và ngồi xuống, nói rằng anh mệt lử rồi. Spender nhìn ngực cơ trưởng. Trông không quá hổn hển. Mặt cũng không nhễ nhại mồ hôi.

Đàn accordion, kèn harmonica, rượu vang, hò hét, nhảy múa, rền rĩ, đập xoong nồi, cười cợt.

Biggs lách người đi về phía bờ kênh. Gã mang theo sáu cái chai rỗng và ném từng cái xuống dòng nước xanh thẫm. Chúng kêu bõm một cái rồi chìm xuống.

“Ta đặt tên thánh cho người, ta đặt tên thánh cho ngươi, ta đặt tên thánh cho người...” Biggs lè nhè. “Ta đặt tên thánh cho người là Biggs, Biggs, kênh đào Biggs...”

Spender đứng dậy, bước qua đống lửa và đến bên Biggs lúc nào không biết. Anh đấm Biggs một phát vào răng và một phát vào tai. Biggs loạng choạng ngã xuống nước. Sau cú ngã, Spender lặng lẽ đợi Biggs trèo lên bờ đá. Lúc đó những người khác đã đang giữ Spender lại.

“Này, cậu làm sao thế Spender? Này?” họ hỏi.

Biggs trèo lên và đứng đó, nước chảy tong tỏng. Gã thấy những người khác đang giữ Spender. “Chà,” gã nói và bắt đầu tiến lên phía trước.

“Đủ rồi,” cơ trưởng Wilder gắt. Những người kia thả Spender ra. Biggs dừng lại và liếc nhìn cơ trưởng.

“Được rồi Biggs, thay quần áo khô đi. Các cậu, cứ tiếp tục liên hoan! Spender, lại đây với tôi!”

Họ tiếp tục liên hoan. Wilder đi cách xa họ một đoạn rồi quay lại đối diện với Spender. “Giải thích chuyện vừa rồi đi, anh nói.

Spender nhìn dòng nước. “Tôi không biết nữa. Tôi thấy hổ thẹn. Vì Biggs và vì chúng ta và vì tiếng ồn. Chúa ơi, cảnh tượng này.”

“Đó là một chuyến đi dài. Họ cũng phải được thư giãn chứ.”

“Sự tôn trọng của họ ở đâu, thưa cơ trưởng? Ý thức đúng sai của họ ở đâu?”

“Cậu mệt rồi, và cậu có cách nhìn mọi việc khác mọi người, Spender ạ. Cậu bị phạt năm mươi đô la.”

“Vâng, thưa cơ trưởng. Tôi chỉ nghĩ là họ đang quan sát chúng ta còn chúng ta tự mình biến thành trò cười.”

“Họ ư?”

“Người Sao Hỏa, cho dù họ còn sống hay đã chết.”

“Hầu như chắc chắn là đã chết,” cơ trưởng nói. “Cậu nghĩ họ biết chúng ta ở đây?”

“Chẳng lẽ một thứ cũ lại không nhận ra khi một thứ mới xuất hiện sao?”

“Tôi nghĩ vậy. Cậu có vẻ tin là có linh hồn.”

“Tôi tin vào những thứ đã được làm ra, và có bằng chứng cho thấy rất nhiều thứ đã được làm ra trên Sao Hỏa. Có đường phố và nhà cửa, và có sách, tôi hình dung như thế, có những dòng kênh lớn, đồng hồ và chuồng trại, nếu không phải cho ngựa thì hẳn là cho một loài vật nuôi nào đó, có lẽ mười hai chân, biết đâu được. Nhìn bất cứ đâu tôi cũng thấy những thứ đã được sử dụng. Chúng đã được chạm vào và được cầm lên trong nhiều thế kỷ.

“Nếu hỏi tôi có tin vào linh hồn của sự vật vì chúng đã được sử dụng hay không, tôi sẽ nói là có. Tất cả đều ở đây. Tất cả những sự vật có công dụng. Tất cả những ngọn núi có tên. Và chúng ta sẽ không bao giờ có thể sử dụng chúng mà không cảm thấy chút khó chịu. Và cho dù có gọi những ngọn núi bằng cái tên nào thì không hiểu sao chúng ta cũng không bao giờ thấy phù hợp; chúng ta sẽ đặt tên mới cho chúng, nhưng những cái tên cũ vẫn còn đâu đó trong thời gian, chúng đã được định hình và được nhìn nhận dưới những cái tên đó. Những cái tên mà chúng ta sẽ đặt cho các con kênh hay ngọn núi hay thành phố sẽ lại trôi tuột đi giống như nước đổ lá khoai. Cho dù chúng ta chạm vào Sao Hỏa theo cách nào, chúng ta sẽ không bao giờ thực sự chạm được vào nó. Và sau đó chúng ta sẽ tức giận, và anh biết chúng ta sẽ làm gì không? Chúng ta sẽ xé toang nó ra, lột lớp vỏ của nó và cải tạo nó cho phù hợp với chúng ta.”

“Chúng ta sẽ không hủy hoại Sao Hỏa,” cơ trưởng nói. “Nó quá to lớn và quá tốt đẹp.”

“Anh nghĩ là không ư? Người Trái Đất chúng ta có năng khiếu trong việc hủy hoại những thứ to lớn và xinh đẹp. Lý do duy nhất chúng ta không đặt những quầy bánh kẹp xúc xích giữa đền Karnak ở Ai Cập là vì nó quá hẻo lánh và không phục vụ được cho mục đích thương mại lớn. Mà Ai Cập chỉ là một phần nhỏ của Trái Đất thôi. Nhưng ở đây, toàn bộ nơi này thật cổ kính và khác biệt, còn chúng ta cứ phải đáp xuống một nơi nào đó và làm nó rối tung lên. Chúng ta sẽ gọi con kênh là kênh Rockefeller và ngọn núi kia là núi King George và bờ biển này là biển Dupont, và sẽ có những thành phố Roosevelt rồi Lincoln và Coolidge, và sẽ chẳng bao giờ là phù hợp khi đặt những cái tên riêng cho những chốn này.”

“Đó sẽ là việc của cậu, với tư cách là nhà khảo cổ học, cậu phải tìm ra những cái tên cũ và chúng ta sẽ sử dụng nó.”

“Chỉ một số ít người như chúng ta chống lại toàn bộ lợi ích thương mại.” Spender nhìn lên dãy núi hùng vĩ. “Họ biết chúng ta ở đây đêm nay để khạc nhổ vào dòng kênh rượu vang của họ, và tôi hình dung họ căm ghét chúng ta.”

Cơ trưởng lắc đầu. “Ở đây không có sự căm ghét.” Anh lắng nghe tiếng gió. “Từ vẻ ngoài của các thành phố ở đây, ta có thể đoán họ là những con người duyên dáng, xinh đẹp và bình thản. Họ chấp nhận điều xảy đến với mình. Họ cam chịu cái chết của cả chủng tộc, chúng ta biết được chừng đó, và đến phút cuối cùng vẫn không vì tuyệt vọng mà gây chiến để rồi phá hủy các thành phố. Mọi đô thị mà chúng ta đã thấy cho đến nay vẫn còn nguyên không một chút xây xước. Có lẽ họ cũng chẳng lo lắng việc chúng ta ở đây hơn việc trông trẻ con chơi trên thảm cỏ, vì họ biết và hiểu trẻ con như chúng vốn thế. Và, dù sao thì, có lẽ tất cả những thứ này sẽ thay đổi chúng ta theo hướng tốt đẹp hơn.

“Cậu có nhận ra sự im lặng kỳ lạ của mọi người không, Spender, cho đến lúc Biggs ép họ phải vui vẻ? Trông họ khá khiêm tốn và sợ hãi. Nhìn vào tất cả những thứ này, chúng ta biết rằng chúng ta không quá quan trọng; chúng ta chỉ là trẻ con mặc quần yếm, la hét với đám phi thuyền và nguyên tử đồ chơi, ồn ào và nhanh nhảu. Nhưng một ngày kia, Trái Đất cũng sẽ giống như Sao Hỏa hôm nay. Điều này sẽ khiến chúng ta tỉnh táo lại. Đó là một bài học khách quan về nền văn minh. Chúng ta sẽ học từ Sao Hỏa. Thôi đừng buồn nữa. Quay lại chơi vui vẻ đi. Cậu vẫn bị phạt năm mươi đô la đấy nhé.”

Buổi tiệc đang không suôn sẻ lắm. Gió từ biển chết cứ liên tục thổi vào. Gió vờn quanh họ, vờn quanh cơ trưởng và Jeff Spender khi hai người trở lại gia nhập nhóm. Gió thổi tung bụi, gió thốc vào trong phi thuyền, gió thổi vào chiếc accordion và hất bụi vào chiếc kèn harmonica vá víu. Bụi bay vào mắt họ còn gió thì tạo ra một âm thanh như tiếng hát vút lên không trung. Rồi đột ngột như lúc nó đến, cơn gió ngừng bặt.

Nhưng buổi tiệc cũng kết thúc.

Họ đứng thẳng, in bóng lên bầu trời đêm lạnh lẽo.

“Thôi nào, các quý ông, thôi nào!” Biggs từ phi thuyền nhảy xuống trong một bộ đồng phục mới, không nhìn Spender lấy một lần. Giọng gã giống như vang lên trong một phòng thu không người. Nó cô đơn. “Nào!”

Không ai nhúc nhích.

“Nào Whitie, kèn harmonica của cậu!”

Whitie thổi một giai điệu. Nghe nó kỳ cục và sai sai. Whitie lau hơi ẩm trên chiếc kèn và cất nó đi.

“Đây kiểu tiệc tùng gì vậy?” Biggs chất vấn.

Ai đó ôm cây đàn accordion. Nó phát ra âm thanh của một con thú sắp chết. Tất cả chỉ có thế.

“Được rồi, tớ và cái chai này sẽ tiếp tục bữa tiệc của mình.” Biggs ngồi dựa lưng vào phi thuyền, dốc ngược bình lên tu.

Spender dõi theo gã. Spender không nhúc nhích suốt một lúc lâu. Rồi những ngón tay anh lần từ cẳng chân đang run rẩy lên khẩu súng lục nằm trong bao, rất lặng lẽ, và vuốt ve rồi vỗ vỗ cái vỏ bao da.

“Ai muốn thì đi theo tôi vào thành phố” cơ trưởng thông báo. “Chúng ta sẽ cắt cử một người ở lại để canh chừng tàu và trang bị vũ khí, đề phòng trường hợp xấu.”

Họ đếm người. Có mười bốn người muốn đi, kể cả Biggs, kẻ đang vừa cười cợt vừa vẫy cái chai để được tính. Sáu người ở lại.

“Chúng ta đi thôi!” Bi quát to.

Đoàn người lặng lẽ đi dưới ánh trăng. Họ đi tới rìa thành phố chết đang nằm mơ màng dưới ánh sáng của hai vầng trăng nãy giờ vẫn chạy đua với họ. Bóng họ, dưới trăng, là những cái bóng đôi. Họ nín thở, hoặc gần như nín thở, có lẽ, trong một vài phút. Họ chờ đợi thứ gì đó khuấy động lên trong thành phố chết, một hình thù màu xám vươn dậy, một bóng dáng cổ xưa tự ngàn đời từ nền biển cạn phi tới trên mình con chiến mã cổ xưa bọc giáp, dòng giống kỳ quái, xuất thân phi thường.

Spender ngắm nhìn các con phố bằng mắt và bằng cả tâm trí. Anh thấy những bóng người di chuyển như những ánh đèn hơi thủy ngân màu xanh trên các đại lộ rải sỏi, có những tiếng lầm rầm rất nhỏ, những con thú lạ nhốn nháo chạy ngang bãi cát màu đỏ xám. Khung cửa sổ nào cũng có một người đang tựa, vẫy tay chầm chậm, như thể từ dưới vùng nước vô tận, với một dáng hình chuyển động nào đó cách xa hàng sải dưới những tòa tháp dát ánh trăng bạc. Một điệu nhạc vẳng lên trong tai anh, và Spender tưởng tượng ra hình dáng của thứ nhạc cụ có thể phát ra loại âm thanh như vậy. Vùng đất này đã bị ma ám.

“Này!” Biggs hô lớn, gã đứng thẳng, hai tay chắp lên miệng. “Này, mọi người ở trong thành phố này ơi, mọi người ơi!”

“Biggs!” cơ trưởng nói.

Biggs trật tự.

Họ tới một đại lộ lát đá. Bây giờ ai cũng nói thì thầm, bởi nơi đây giống như một thư viện ngoài trời khổng lồ hoặc một lăng mộ nơi chỉ có gió thổi và những ngôi sao chiếu sáng. Cơ trưởng khẽ nói. Anh tự hỏi cư dân ở đây đã biến đi đâu hết cả, họ thuộc giống loài nào, vua của họ là ai và họ đã chết như thế nào. Và anh khẽ buột miệng tự hỏi, họ đã xây dựng thành phố này như thế nào mà trải bao năm tháng như thế, và họ đã bao giờ đến Trái Đất chưa? Họ có phải là tổ tiên của con người trên Trái Đất hàng ngàn năm trước? Họ có yêu và ghét những thứ giống con người không, có làm những thứ ngu ngốc như con người không?

Không ai nhúc nhích. Ánh trăng đã giữ họ lại và bắt họ đứng im; gió chầm chậm vờn quanh họ.

“Huân tước Byron,” Jeff Spender nói.

“Huân tước gì cơ?” cơ trưởng quay lại nhìn anh.

“Huân tước Byron, một nhà thơ thế mười chín. Ông ta có sáng tác một bài thơ cách đây rất lâu rồi nhưng lại rất hợp với thành phố này cũng như cảm xúc mà hẳn người Sao Hỏa đang cảm thấy, nếu họ còn lại chút gì để mà cảm nhận. Bài thơ chẳng khác nào được sáng tác bởi một nhà thơ cuối cùng của Sao Hỏa.”

Mọi người đứng im, dưới chân họ là những cái bóng.

Cơ trưởng nói, “Bài thơ đó thế nào, Spender?”

Spender đổi chân, đưa tay ra để cố nhớ lại, lặng lẽ nheo mắt một lúc; rồi, nhớ ra, anh khẽ chậm rãi đọc bài thơ trong lúc mọi người chăm chú lắng nghe từng từ một:

“Vậy là thôi dừng lang bạt mải miết

Đêm đã quá khuya rồi,

Dẫu trái tim còn chưa nguôi tha thiết,

Và trăng vẫn sáng trên đồi.”

Thành phố xám sừng sững và bất động. Khuôn mặt những người đàn ông biến đổi dưới ánh sáng.

“Vì lưỡi gươm cần thay bao mới,

Vì ngực đã mòn dù tâm vẫn trẻ trung,

Vì tim cần được thở giữa chừng,

Và chính tình yêu cũng cần ngơi nghỉ.

“Dù màn đêm là lúc cho tình ý

Và ngày mới sẽ sớm trở lại thôi,

Nhưng hãy dừng lang bạt mải miết

Dưới ánh trăng bên đồi.”

Không nói một lời nào, những người Trái Đất đứng ở trung tâm thành phố. Đó là một đêm trời quang đãng. Không có một âm thanh nào trừ tiếng gió. Dưới chân họ là một khoảng sân lát gạch tạo thành hình những con thú và những tộc người cổ xưa. Họ cúi xuống nhìn.

Biggs phát ra tiếng ọe trong cổ họng. Mắt gã đục ngầu. Gã đưa tay lên miệng; gã nghèn nghẹt, nhắm mắt, cúi người xuống, và một thứ chất lỏng ộc lên miệng, phọt ra tung tóe trên nền gạch, che lấp các hoa văn trên đó. Biggs nôn hai lần. Mùi chua lòm của rượu vang xộc lên trong bầu không khí mát lạnh.

Không ai bước tới giúp Biggs. Gã tiếp tục nôn mửa.

Spender trừng mắt nhìn một lúc rồi quay đi và bước đến đại lộ của thành phố, anh cứ thế đi một mình dưới ánh trăng. Không một lần nào anh ngoái lại nhìn đám người đang túm tụm ở đó.

Họ trở về vào lúc bốn giờ sáng. Họ nằm trên những tấm mền, nhắm mắt và hít thở bầu không khí yên tĩnh. Cơ trưởng Wilder ngồi tiếp thêm củi cho đống lửa.

Hai tiếng sau, McClure mở mắt. “Anh không ngủ ư cơ trưởng?”

“Tôi chờ Spender.” Cơ trưởng nở nụ cười mệt mỏi.

McClure suy nghĩ một lúc. “Anh biết không cơ trưởng, tôi nghĩ anh ta không quay lại đâu. Tôi không biết vì sao tôi lại biết, nhưng tôi cảm thấy như vậy về anh ta, cơ trưởng à, anh ta sẽ không bao giờ quay lại đâu.”

McClure lại cuộn tròn người ngủ tiếp. Đống lửa lách tách và tàn dần.

Cả tuần sau Spender cũng không về. Cơ trưởng cử các nhóm đi tìm, nhưng họ đều trở lại nói rằng không biết Spender đi đâu. Anh ta sẽ trở về khi nào cảm thấy sẵn sàng. Anh ta thuộc kiểu người dễ lên cơn, họ nói. Quỷ tha ma bắt anh ta đi!

Cơ trưởng không nói gì nhưng ghi chép lại vào nhật ký...

Đó là một buổi sáng, có thể là thứ Hai hoặc thứ Ba hoặc bất kỳ ngày nào trên Sao Hỏa. Biggs đang ở bên bờ kênh; chân thò xuống ngâm dưới nước mát, mặt ngửa lên hứng ánh nắng.

Một người đàn ông bước men theo bờ kênh. Bóng người đàn ông đó đổ xuống người Biggs. Biggs ngước lên nhìn.

“Chà, ngạc nhiên chưa!” Biggs nói.

“Tôi là người Sao Hỏa cuối cùng” người đó nói và rút ra một khẩu súng.

“Mày nói gì?” Biggs hỏi.

“Tôi sẽ giết anh.”

“Thôi đi. Đùa kiểu quái gì vậy Spender?”

“Đứng lên và hứng trọn lấy đi!”

“Vì Chúa, cất khẩu súng đi.”

Spender chỉ bóp cò một lần. Biggs vẫn ngồi trên bờ kênh một lúc rồi mới đổ gục và rơi xuống nước. Khẩu súng chỉ phát ra một tiếng o o nhỏ xíu. Cái xác trôi lờ đờ dưới dòng kênh lũng lờ. Nó chỉ kêu mấy tiếng lõm bõm rồi im bặt.

Spender giắt khẩu súng vào bao rồi lặng lẽ bước đi. Mặt trời đang chiếu xuống Sao Hỏa. Anh cảm nhận mặt trời nóng rát trên đôi tay và trượt trên hai gò má đang căng ra của mình. Anh không chạy; anh cứ bước đi như thể không có gì mới, ngoại trừ bây giờ là buổi sáng. Anh tới chỗ phi thuyền, ở đó vài người đang ăn bữa sáng mới dọn ra dưới một túp lều do Cookie dựng lên.

“Kẻ Cô Độc đã tới!” có người nói.

“Chào Spender! Lâu lắm không gặp!”

Bốn người ngồi ở bàn ngắm nhìn người đàn ông trầm lặng đang đứng nhìn lại họ.

“Mày với cái đống đổ nát chết tiệt của chúng nó!” Cookie vừa cười lớn vừa khuấy chất lỏng màu đen trong bình. “Mày như một con chó đi sục sạo khắp nơi tìm xương vậy.”

“Có lẽ thế,” Spender nói. “Tôi đã tìm được nhiều thứ. Các cậu sẽ nói gì nếu tôi bảo tôi đã thấy một người Sao Hỏa?”

Bốn người kia đặt dĩa xuống.

“Thật không? Ở đâu?”

“Mà thôi. Để tôi hỏi các cậu một câu. Các cậu nghĩ sao nếu các cậu là một người Sao Hỏa và có người đến đất của cậu rồi bắt đầu phá phách?”

“Tôi biết chính xác tôi sẽ cảm thấy thế nào, Cheroke nói. “Tôi có máu bản địa Cherokee trong người. Ông tôi kể rất nhiều chuyện về lãnh địa Oklahoma. Nếu có một người Sao Hỏa ở đây tôi sẽ đứng về phía anh ta!”

“Còn những người khác?” Spender thận trọng hỏi.

Không ai trả lời; sự im lặng của họ cũng đủ nói lên điều cần nói. Vớ gì dùng nấy, đi ăn cỗ về mất chỗ, nếu đối phương chìa má ra thì cứ tát thẳng tay, v.v...

“Chà,” Spender nói, “tôi đã thấy một người Sao Hỏa.”

Họ liếc nhìn anh.

“Ở một thị trấn chết. Tôi không nghĩ sẽ thấy ông ta. Tôi không định đi tìm ông ta. Tôi không biết ông ta đang làm gì ở đó. Tôi đã sống một tuần ở một thị trấn nhỏ trong thung lũng, học cách đọc những cuốn sách cổ và chiêm ngưỡng những hình thức nghệ thuật cũ của họ. Rồi bỗng một ngày tôi thấy người đàn ông Sao Hỏa ấy. Ông ta đứng đó một lúc rồi biến mất. Ngày hôm sau ông ta cũng không quay lại. Tôi cứ quanh quẩn ở đó, học đọc chữ cổ, thế rồi người Sao Hỏa quay lại, mỗi lần lại đến gần hơn một chút, cho đến khi tôi học được cách giải mã tiếng Sao Hỏa – nó thực sự đơn giản đến mức ngạc nhiên và còn có cả những hình vẽ để hỗ trợ nữa – người Sao Hỏa xuất hiện trước mặt tôi và nói, Đưa cho tôi đôi ủng của anh. Thế là tôi đưa cho ông ta đôi ủng của tôi. Ông ta lại nói, Đưa cho tôi đồng phục và toàn bộ phụ kiện của anh.’ Tôi lại đưa hết cho ông ta. Thế rồi ông ta lại nói, Đưa cho tôi súng của anh, và tôi lại đưa ông ta khẩu súng của tôi. Sau đó ông ta nói, Bây giờ đi theo tôi và quan sát những gì sẽ xảy ra. Và ông ta dẫn tôi về đây, ông ta đang ở đây.”

“Tôi không thấy người Sao Hỏa nào cả,” Cherokenói.

“Tôi rất tiếc.”

Spender lấy súng ra. Nó o o nhè nhẹ. Viên đạn đầu tiên hạ gục người bên trái; viên thứ hai và thứ ba hạ người bên phải và người ngồi giữa. Cookie kinh hãi quay ra từ đống lửa để rồi nhận viên đạn thứ tư. Anh ta ngã ngửa lên đống lửa và cứ nằm thế trong lúc quần áo anh ta bắt đầu cháy.

Chiếc phi thuyền đang nằm dưới ánh nắng. Ba người đang ngồi ở bàn ăn, tay họ để trên bàn, không cử động, đồ ăn bắt đầu nguội dần trước mặt họ. Cheroke, không hề hấn gì, ngồi đờ ra và chằm chằm nhìn Spender mà không tin nổi vào mắt mình.

“Cậu có thể đi cùng tôi,” Spender nói.

Cheroke không nói gì.

“Cậu có thể nhập hội với tôi.” Spender chờ đợi.

Cuối cùng Cheroke cũng mở miệng nói. “ Anh đã giết họ,” cậu ta nói, nhìn những người đàn ông xung quanh.

“Họ đáng bị như vậy.”

“Anh điên rồi!”

“Có lẽ tôi điên. Nhưng cậu có thể đi cùng tôi.”

“Đi cùng anh, vì cái gì?” Cheroke thốt lên, khuôn mặt cậu ta biến sắc, mắt cậu ta ngấn nước. “Đi đi, biến đi!”

Mặt Spender đanh lại. “Trong số họ, tôi những tưởng là cậu sẽ hiểu.”

“Cút đi!” Cheroke lần tay lấy súng.

Spender bắn phát súng cuối cùng. Cheroke thôi không cử động nữa.

Giờ thì người Spender rung lên. Anh ta đưa tay lên vuốt khuôn mặt đầm đìa mồ hôi. Anh ta liếc sang chiếc phi thuyền, khắp mình đột nhiên run rẩy. Anh ta gần như khuỵu xuống, một phản ứng cơ thể quá mạnh. Mặt anh ta như vừa tỉnh dậy sau thôi miên, sau một giấc mơ. Anh ta ngồi xuống một lát và tự ép cho cơn run rẩy biến đi.

“Thôi đi, dừng lại đi!” anh ta ra lệnh cho cơ thể mình. Từng thớ thịt đang run rẩy và rung lắc. “Dừng lại đi!” Anh ta dùng tâm trí ép cho đến khi con run rẩy bị đẩy hết ra ngoài. Bây giờ, bàn tay anh ta đang bình tĩnh một cách lặng lẽ!

Anh ta đứng dậy, buộc ngang lưng một chiếc két lưu trữ di động bằng động tác nhanh gọn và lặng lẽ. Bàn tay anh ta lại bắt đầu run, chỉ trong giây lát, nhưng anh ta nói, “Không!” rất cương quyết, và con run rẩy lại qua đi. Sau đó, anh ta cả quyết đi về phía những ngọn đồi nóng đỏ của vùng đất này, một mình.

Mặt trời lên cao, nóng bỏng hơn nữa. Một giờ sau, cơ trưởng từ phi thuyền trèo xuống để lấy một ít giăm bông và trứng. Anh chào bốn người đang ngồi ở bàn ăn và nhận ra ngay mùi thuốc súng thoang thoảng. Anh thấy người đầu bếp nằm trên đống lửa còn bốn người kia đang ngồi trước những đĩa đồ ăn giờ đây đã nguội lạnh.

Một lát sau Parkhill và hai người nữa trèo xuống. Cơ trưởng ngăn họ lại, anh chăm chú nhìn những người đang ngồi lặng lẽ trước bàn ăn sáng.

“Gọi cả đội đi, gọi tất cả ấy,” cơ trưởng nói.

Parkhill hối hả chạy dọc bờ kênh.

Cơ trưởng chạm vào Cheroke. Cậu ta khẽ xoay người và đổ gục. Nắng gắt như thiêu đốt mái tóc ngắn cứng như rễ tre và đôi gò má cao.

Những người khác đều đã về.

“Còn thiếu ai?”

“Vẫn là Spender, thưa cơ trưởng. Chúng tôi thấy xác Biggs dưới nước.”

"Spender!”

Cơ trưởng nhìn những ngọn đồi vươn cao dưới ánh nắng. Mặt trời thì nhe nanh cau có. “Đồ khốn,” anh mệt mỏi nói. “Tại sao cậu ta không đến nói chuyện với tôi?”

“Lẽ ra hắn phải gặp tôi mới đúng” Parkhill thốt, mắt sôi lên. “Tôi sẽ bắn phọt óc hắn, đó là điều tôi sẽ làm, nhân danh Chúa.”

Cơ trưởng Wilder hất đầu với hai người của mình. “Lấy xẻng đi,” anh nói.

Công việc đào mộ khiến họ nóng bức. Trong khi cơ trưởng lật giở quyển Kinh Thánh, một cơn gió nóng thổi vào từ biển cạn và ném bụi vào mặt họ. Khi cơ trưởng gập cuốn sách lại, ai đó bắt đầu chậm rãi hất những xẻng cát lên các hình hài đã được bọc kín.

Họ trở lại phi thuyền, gạt chốt súng trường, khoác dải lựu đạn dày lên lưng và kiểm tra chế độ nã tự do của súng lục trong bao. Mỗi người được giao phụ trách một khu vực trên đồi. Cơ trưởng chỉ đạo họ mà không hề lên giọng hay nhấc tay, tay anh vẫn buông thõng hai bên sườn.

“Đi thôi,” anh nói.

Spender nhìn thấy những đám bụi mỏng bay lên ở vài nơi trong thung lũng và anh ta biết cuộc truy kích đã bắt đầu. Anh ta đặt cuốn sách mỏng bằng bạc xuống, cuốn sách mà anh ta đang thong thả ngồi đọc trên một phiến đá nhẵn. Những trang sách mỏng tang làm từ bạc nguyên chất, được vẽ tay bằng màu đen và màu vàng kim. Đó là một cuốn sách triết học ít nhất mười ngàn năm tuổi mà anh ta đã tìm thấy bên trong một căn biệt thự của một thị trấn dưới thung lũng Sao Hỏa. Anh ta ngập ngừng đặt nó sang một bên.

Anh ta suy nghĩ một lúc, Có tác dụng gì đâu? Mình sẽ ngồi đây đọc sách cho đến khi họ tới bắn hạ mình.

Về việc giết sáu người sáng nay, phản ứng đầu tiên của anh ta là trống rỗng đến choáng váng mất một lúc, sau đó là buồn nôn, và giờ, một sự bình yên kỳ lạ. Nhưng rồi cảm giác bình yên cũng qua đi, khi anh ta thấy những đám bụi bay lên trên đường đi của những người đang săn tìm mình, và anh ta lại cảm thấy phẫn uất.

Anh ta hớp một ngụm nước mát từ chiếc bi đông đeo ở hông. Rồi anh ta đứng dậy, vươn vai, ngáp và lắng nghe sự bình yên kỳ diệu của thung lũng quanh mình. Thật tốt biết bao nếu anh ta cùng một số ít người mà anh ta biết dưới Trái Đất có thể sống ở đây, không ồn ào, không lo lắng.

Một tay cầm sách, một tay anh ta sẵn sàng nắm khẩu súng lục. Anh ta cởi quần áo và lội xuống tắm dưới một dòng suối nhỏ chảy xiết có nhiều đá cuội và sỏi trắng. Anh ta làm mọi thứ hết sức thong thả, sau đó mới mặc quần áo và nhặt súng lên.

Tiếng súng đầu tiên nổ ra lúc khoảng ba giờ chiều. Khi đó, Spender đã leo lên rất cao. Họ đuổi theo anh ta qua ba thị trấn nhỏ nằm trên đồi. Bên trên những thị trấn đó, nằm rải rác như những viên đá cuội, là những căn biệt thự đơn nơi các gia đình xưa kia tìm được một dòng suối, một địa điểm xanh tươi để xây hồ bơi, thư viện và khoảng sân có đài phun nước. Spender dành nửa tiếng để bơi trong một bể bơi như thế, được đổ đầy nước mưa theo mùa, và chờ đợi những người kia đuổi kịp mình.

Tiếng súng vang lên khi anh ta rời khỏi căn biệt thự nhỏ. Gạch ngói rơi xuống cách anh ta chừng năm sáu mét, vỡ vụn. Anh ta vùng chạy, núp sau một loạt những bờ dốc nhỏ, đoạn xoay người lại, và với phát súng đầu tiên, bắn hạ một người đang đuổi theo.

Họ sẽ bao vây; Spender biết điều đó. Họ sẽ đi vòng xung quanh và khép chặt vòng vây cho đến khi bắt được anh ta. Lạ là họ không dùng lựu đạn. Cơ trưởng hoàn toàn có thể ra lệnh cho họ ném lựu đạn mà.

Nhưng mình không đáng bị nổ banh xác, Spender nghĩ. Đó là điều cơ trưởng nghĩ. Anh ấy chỉ muốn mình bị bắn đòm một phát thôi. Có gì lạ đâu? Anh ấy muốn mình chết cho sạch sẽ. Không tóe loe ra. Tại sao? Bởi anh ấy hiểu mình. Và bởi anh ấy hiểu, nên anh ấy sẵn sàng hy sinh những người lính thiện chiến để cho mình một phát đạn gọn gàng vào đầu. Phải vậy không?

Chín, mười viên đạn bắn liên tiếp. Đá văng xung quanh anh ta. Spender giữ nhịp bắn đều, thỉnh thoảng lại liếc sang cuốn sách bạc mà anh ta cầm trên tay.

Cơ trưởng chạy dưới ánh nắng bỏng rát với một khẩu súng trường trên tay. Spender chĩa súng dõi theo nhưng không bắn. Thay vào đó, anh ta di chuyển và bắn vào đỉnh một tảng đá mà Whitie đang nấp phía sau, rồi nghe tiếng tay này quát tháo giận dữ.

Đột nhiên cơ trưởng đứng dậy. Anh cầm trên tay một chiếc khăn màu trắng. Anh nói gì đó với người của mình rồi đi lên núi sau khi cất khẩu súng trường đi. Spender nằm yên đó, rồi đứng dậy, khẩu súng lục sẵn sàng.

Cơ trưởng lên đến nơi và ngồi xuống một phiến đá ấm, không nhìn Spender trong một thoáng.

Cơ trưởng thọc tay vào túi áo khoác. Ngón tay Spender căng ra nơi cò súng.

Cơ trưởng hỏi, “Hút không?”

“Cảm ơn.” Spender cầm lấy một điếu.

"Lửa?

“Tôi tự châm.”

Họ hút một, hai hơi trong yên lặng.

“Trời nóng đấy,” cơ trưởng nói.

“Phải.”

“Ở trên này cậu thấy thoải mái chứ?”

“Tương đối.”

“Cậu nghĩ mình sẽ trụ được bao lâu?”

“Khoảng mười hai người.”

“Tại sao sáng nay cậu không giết hết tất cả, khi có cơ hội? Cậu đã có thể làm vậy, cậu biết đấy.”

“Tôi biết. Lúc đó tôi buồn nôn. Khi rất muốn làm một điều gì đó, người ta có thể tự lừa dối bản thân. Họ sẽ nói những người khác đều sai cả. Chà, ngay sau khi bắt đầu giết người, tôi đã nhận ra rằng họ chỉ là những kẻ ngốc nghếch và lẽ ra tôi không nên giết họ. Nhưng đã muộn rồi. Tôi không thể tiếp tục, cho nên tôi lên đây, nơi tôi có thể lại tự lừa dối mình thêm chút nữa, để tích tụ lại từ đầu cơn giận dữ.

“Đã tích tụ xong chưa?”

“Chưa nhiều lắm. Đủ dùng.”

Cơ trưởng nhìn điếu thuốc của mình. “Sao cậu lại làm như vậy?”

Spender lặng lẽ đặt khẩu súng lục xuống đất, cạnh chân. “Bởi vì tôi thấy những người Sao Hỏa này đã có những thứ tốt đẹp mà chúng ta hy vọng sẽ có. Họ đã dừng lại ở nơi lẽ ra chúng ta đã phải dừng lại cách đây một trăm năm. Tôi đã đi vào các thành phố của họ và tôi cảm thấy tôi biết những người này, và tôi sẽ vui mừng được gọi họ là tổ tiên của mình.”

“Họ có những thành phố đẹp đấy.” Cơ trưởng hất đầu về phía các thành phố.

“Và không chỉ có thế. Phải. Thành phố của họ đẹp. Họ biết đưa nghệ thuật vào cuộc sống. Với người Mỹ, nghệ thuật luôn là một thứ riêng biệt. Nghệ thuật là một thứ mà người ta cất trên lầu, trong phòng đứa con trai hâm dở. Nghệ thuật là thứ gì đó mà người ta chỉ làm một liều vào ngày Chủ nhật, trộn với tôn giáo, có lẽ. Chà, những người Sao Hỏa này có nghệ thuật, tôn giáo, mọi thứ.”

“Theo cậu, họ có biết ý nghĩa của tất cả những điều đó không?”

“Tôi cá tiền.”

“Và vì thế mà cậu giết người?”

“Khi còn nhỏ, tôi được bố mẹ đưa đi thăm Mexico City. Tôi sẽ luôn nhớ cách mà bố tôi hành xử – ồn ào và hợm hĩnh. Còn mẹ tôi thì không thích người ở đó bởi họ đen đúa và không tắm rửa sạch sẽ. Chị tôi thì hầu như chẳng nói chuyện với họ. Tôi là người duy nhất thích họ. Và tôi có thể hình dung bố mẹ tôi mà lên Sao Hỏa thì cũng sẽ xử sự như vậy.

“Bất cứ cái gì xa lạ đều là không tốt đối với đa số người Mỹ. Nếu nói đến ống nước, thì phải là của Chicago, còn không thì chỉ là vớ vẩn. Nghĩ mà xem! Ôi Chúa ơi, nghĩ về điều đó mà xem! Và rồi... chiến tranh. Anh đã nghe những bài diễn văn ở quốc hội trước khi chúng ta đi rồi đấy. Nếu mọi thứ tốt đẹp, họ hy vọng sẽ xây ba viện nghiên cứu nguyên tử và kho vũ khí hạt nhân trên Sao Hỏa. Điều đó có nghĩa là Sao Hỏa tiêu rồi; tất cả những điều tuyệt vời này sẽ biến mất. Anh sẽ cảm thấy thế nào khi một người Sao Hỏa nôn rượu ôi lên nền nhà của Nhà Trắng?”

Cơ trưởng không nói gì, anh chỉ lắng nghe.

Spender tiếp tục: “Và rồi các nhóm lợi ích quyền lực khác sẽ tới. Các tập đoàn khai thác khoáng sản và những người đi du lịch. Anh nhớ chuyện gì đã xảy ra với Mexico khi Cortez và những người bạn tốt bụng của ông ta từ Tây Ban Nha tới đó chứ? Cả một nền văn minh bị hủy hoại bởi những kẻ mù quáng tham lam nhưng nghĩ mình làm đúng. Lịch sử sẽ không bao giờ tha thứ cho Cortez.”

“Bản thân cậu hôm nay cũng chưa hành động có đạo đức đâu,” cơ trưởng nhận xét.

“Tôi có thể làm gì được? Tranh cãi với anh sao? Chỉ là tôi chống lại toàn bộ cái cơ chế tham lam vô độ của người Trái Đất. Họ sẽ mang những quả bom nguyên tử rác rưởi lên đây, giành nhau căn cứ để chuẩn bị cho chiến tranh. Họ phá hủy một hành tinh rồi còn chưa đủ hay sao mà còn muốn phá hủy thêm một hành tinh nữa; họ cứ phải làm bẩn máng ăn của người khác hay sao? Lũ ba hoa phét lác và tư duy hẹp hòi. Khi lên đến đây, tôi cảm thấy mình không chỉ thoát khỏi cái gọi là nền văn hóa, mà còn thoát khỏi ràng buộc đạo đức và tập quán của họ. Tôi nằm ngoài mọi khung tham chiếu của họ, tôi nghĩ thế. Tất cả những gì tôi cần làm là giết hết các anh đi và sống cuộc sống của riêng tôi.”

“Nhưng thực tế đã chứng minh không phải như thế,” cơ trưởng nói.

“Đúng. Sau khi giết người thứ năm vào bữa sáng, tôi phát hiện ra rằng tôi không hoàn toàn là con người mới, không hoàn toàn là người Sao Hỏa, suy cho cùng là thế. Tôi không thể dễ dàng vứt bỏ hết những thứ đã học trên Trái Đất. Nhưng bây giờ, tôi lại thấy quyết tâm rồi. Tôi sẽ giết hết các anh. Qua đó sẽ làm chậm lại chiếc phi thuyền tiếp theo, trong khoảng thời gian năm năm. Hôm nay, ngoài phi thuyền này ra, không còn chiếc phi thuyền nào khác. Người dưới Trái Đất sẽ đợi một năm, hai năm, đến khi họ không nghe được tin tức gì từ chúng ta, họ sẽ rất sợ hãi và không dám chế tạo thêm một chiếc phi thuyền mới. Họ sẽ mất thời gian gấp đôi và phải chế tạo thêm hàng trăm mô hình thử nghiệm để đảm bảo không gặp thất bại nữa.”

“Cậu nói đúng.”

“Ngược lại, nếu anh trở về, bản báo cáo tươi sáng của anh sẽ đẩy nhanh quá trình xâm lược Sao Hỏa. Nếu may mắn, tôi sẽ sống đến sáu mươi tuổi. Các đoàn thám hiểm lên Sao Hỏa đều sẽ phải gặp tôi. Mỗi lần sẽ chỉ có một phi thuyền thôi, chỉ một chiếc mỗi năm, khoảng đấy, và mỗi phi hành đoàn không bao giờ có nhiều hơn hai mươi người. Sau khi kết bạn với họ và kể cho họ nghe rằng phi thuyền của chúng ta đã nổ – tôi dự định cho nó nổ sau khi kết thúc công việc trong tuần này – tôi sẽ giết hết bọn họ, từng người một. Sao Hỏa sẽ được nguyên vẹn trong nửa thế kỷ tới. Sau một hồi thì có lẽ người Trái Đất sẽ thôi không muốn thử nữa. Nhớ lại xem họ đã trở nên thận trọng như thế nào khi ý tưởng chế tạo khí cầu Zeppelin luôn thất bại và nó luôn bốc cháy?”

“Cậu đã tính toán hết cả rồi,” cơ trưởng thừa nhận.

“Đúng vậy.”

“Nhưng một mình cậu sao có thể chống lại chúng tôi. Chỉ một giờ nữa, chúng tôi sẽ bao vây được cậu. Trong vòng một giờ nữa, cậu sẽ chết.”

“Tôi đã tìm thấy một đường hầm ngầm và một nơi để sống mà các anh sẽ không bao giờ tìm ra. Tôi sẽ rút về đó và sống ở đó vài tuần. Cho đến khi các anh không còn cảnh giác nữa. Tôi sẽ ra ngoài và tiêu diệt các anh, từng người một.”

Cơ trưởng gật đầu. “Nói cho tôi nghe về nền văn minh ở đây đi,” anh nói, khoát tay lên chỉ các thị trấn trên núi.

“Họ biết cách sống với thiên nhiên và hòa hợp tốt với thiên nhiên. Họ không tìm mọi cách để tồn tại bất chấp các loài khác. Đó là sai lầm của chúng ta khi Darwin xuất hiện. Chúng ta tươi cười ca tụng ông ta và Huxley cùng Freud. Thế rồi chúng ta phát hiện ra Darwin và tôn giáo của chúng ta không thể hòa hợp. Hoặc ít nhất chúng ta đã nghĩ là không thể hòa hợp. Chúng ta là những kẻ ngốc. Chúng ta tìm cách làm cho Darwin và Huxley cùng Freud lay chuyển. Nhưng họ không chịu nhường bước. Cho nên, giống như những thằng ngốc, chúng ta đã tìm cách hủy diệt tôn giáo.

“Chúng ta đã khá thành công. Chúng ta đánh mất niềm tin và đi loanh quanh tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời. Nếu nghệ thuật chỉ là sự nổi loạn tuyệt vọng của các ham muốn bị dồn nén, nếu tôn giáo không là gì khác ngoài sự tự ảo tưởng, thì cuộc sống này có ý nghĩa gì? Niềm tin đã luôn cho chúng ta câu trả lời cho tất cả. Nhưng nó đã bị hủy hoại cùng với Freud và Darwin. Chúng ta đã và vẫn đang là những kẻ lạc lối.”

“Và những người Sao Hỏa này là người tìm được đường lối?” cơ trưởng chất vấn.

“Phải. Họ biết cách kết hợp giữa khoa học và tôn giáo để cả hai cùng cộng hưởng, không bên nào phủ nhận bên nào, mà bổ sung cho nhau.”

“Nghe thật lý tưởng.”

“Đúng thế. Tôi muốn chỉ cho anh xem cách mà người Sao Hỏa đã làm.”

“Người của tôi đang chờ.”

“Chúng ta chỉ đi nửa tiếng thôi. Cứ bảo họ như vậy, thưa cơ trưởng.”

Cơ trưởng lưỡng lự rồi đứng lên và thông báo cho phía dưới.

Spender dẫn anh tới một ngôi làng Sao Hỏa nhỏ xây bằng đá cẩm thạch mát lạnh. Những đường diềm trang trí hình động vật rất đẹp, những con mèo chân trắng, những biểu tượng mặt trời tia vàng, những bức tượng khắc hình một sinh vật giống bò, tượng đàn ông, phụ nữ và những con chó khổng lồ được chạm khắc rất khéo léo.

“Câu trả lời cho anh đấy, cơ trưởng”

“Tôi không thấy.”

“Người Sao Hỏa đã khám phá ra bí mật của cuộc sống muôn loài. Động vật không đặt câu hỏi cho sự sống. Chúng chỉ đơn giản sống. Lý do để sống chính là sự sống; chúng tận hưởng và say mê sự sống. Anh thấy không – những bức tượng, những biểu tượng loài vật, cứ lặp đi lặp lại.”

“Có vẻ như là tín ngưỡng đa thần.”

“Trái lại, đó là những biểu tượng của Chúa, biểu tượng của sự sống. Trên Sao Hỏa, người ta cũng từng tập trung quá mức vào phần người mà quên mất mình cũng là động vật. Sau đó, người Sao Hỏa nhận ra rằng để tồn tại họ phải ngừng đặt cái câu hỏi ấy: Tại sao lại sống? Chính sự sống là câu trả lời. Sự sống là sự nhân lên của chính sự sống và có một cuộc sống càng chất lượng càng tốt. Người Sao Hỏa nhận ra rằng cứ mỗi khi ở đỉnh điểm của chiến tranh và tuyệt vọng, họ lại đặt ra câu hỏi “Tại sao lại sống? Lúc đó, họ đã không thể có câu trả lời. Nhưng khi nền văn minh đã đi vào trật tự, chiến tranh không còn, thì câu hỏi đó lại trở nên vô nghĩa theo một cách khác. Cuộc sống giờ đây đã tốt đẹp lắm rồi và không cần phải tranh cãi thêm về nó nữa.”

“Có vẻ như người Sao Hỏa tương đối ngây thơ.”

“Họ phải trả giá mới học được sự ngây thơ. Họ đã từ bỏ nỗ lực hủy hoại mọi thứ, hạ thấp mọi thứ. Họ đã gộp tôn giáo với nghệ thuật và khoa học lại làm một bởi vì, về cơ bản, khoa học không hơn gì hành trình tìm kiếm một phép mầu mà ta không bao giờ có thể lý giải, và nghệ thuật là sự thể hiện của phép mầu đó. Họ không bao giờ để cho khoa học làm hỏng tính thẩm mỹ và cái đẹp. Đơn giản chỉ là vấn đề mức độ. Một người Trái Đất cho rằng: ‘Trong bức tranh kia, màu sắc không tồn tại, thật vậy. Một nhà khoa học có thể chứng minh rằng màu sắc chỉ là cách sắp xếp các tế bào của chất liệu khi được ánh sáng chiếu vào. Cho nên, màu sắc không hẳn là một bộ phận của sự vật mà tôi ngẫu nhiên nhìn thấy. Một người Sao Hỏa, thông minh hơn nhiều, sẽ nói rằng: Đây là một bức tranh đẹp. Nó là sản phẩm của bàn tay và khối óc của một người có cảm hứng. Ý tưởng và màu sắc của nó bắt nguồn từ sự sống. Điều này là tốt đẹp.”

Một khoảng im lặng. Ngồi dưới ánh nắng chiều, cơ trưởng tò mò nhìn xung quanh thị trấn nhỏ lặng lẽ mát lạnh.

“Tôi muốn sống ở đây,” anh nói.

“Anh có thể sống ở đây nếu muốn.”

“Cậu bảo tôi làm thế?”

“Liệu có ai trong số người của anh thực sự hiểu được những điều này? Họ là những kẻ chuyên hoài nghi, và đã quá muộn để họ thay đổi. Tại sao anh muốn quay vě với họ? Để sống bon chen với nhau? Để mua cho được một con quay hồi chuyển giống của gã Smith? Để nghe nhạc qua máy đọc sách thay vì nghe trực tiếp bằng tai? Ở đây có một khoảnh sân nhỏ và một cuộn băng nhạc của người Sao Hỏa có từ cách đây năm mươi ngàn năm. Vẫn chơi được. Thứ âm nhạc anh chưa bao giờ nghe thấy trong đời. Anh có thể nghe. Còn có sách nữa. Tôi đã học được cách đọc chúng. Anh có thể ngồi đây và đọc sách.”

“Nghe thật tuyệt, Spender.”

“Nhưng anh sẽ không ở lại?”

“Đúng vậy. Dù sao cũng cảm ơn cậu!”

“Và anh chắc chắn sẽ không để tôi ở yên tại đây. Tôi sẽ phải giết hết tất cả.”

“Cậu lạc quan đấy!”

“Tôi có thứ để chiến đấu và sống vì nó; điều đó giúp tôi giết người giỏi hơn. Giờ thì tôi đã có một thứ gần giống với tôn giáo. Đó là học cách thở lại từ đầu. Cách nằm dưới ánh nắng để có làn da rám nâu, để cho nắng đi vào, nuôi dưỡng cơ thể. Cách nghe nhạc và cách đọc sách. Còn nền văn minh của anh thì có gì?”

Cơ trưởng chuyển chân. Anh lắc đầu. “Tôi rất tiếc vì điều này đang xảy ra. Tôi rất tiếc vì tất cả.”

“Tôi cũng vậy. Tôi nghĩ bây giờ nên đưa anh trở lại để các anh có thể bắt đầu cuộc tấn công.”

“Tôi nghĩ vậy.”

“Cơ trưởng, tôi sẽ không giết anh. Khi chuyện này kết thúc, anh sẽ vẫn còn sống.”

“Gì cơ?”

“Từ đầu tôi đã quyết định là anh sẽ không hề hấn gì.”

“Chà...”

“Tôi sẽ chừa anh ra. Khi họ chết cả rồi, có lẽ anh sẽ đổi ý.”

“Không” cơ trưởng nói. “Trong tôi có quá nhiều phần của người Trái Đất. Tôi sẽ phải tiếp tục truy đuổi cậu.”

“Ngay cả khi anh có một cơ hội để sống ở đây?”

“Buồn cười thật, nhưng đúng là như vậy, ngay cả thế. Tôi không biết tại sao. Tôi chưa từng tự hỏi bản thân mình. Chà, chúng ta đến nơi rồi.” Họ đã trở lại chỗ ban nãy. “Cậu sẽ đi cùng tôi chứ, Spender? Đây là lời đề nghị cuối cùng của tôi.”

“Không, xin cảm ơn.” Spender rút tay ra. “Một điều cuối cùng. Nếu anh thắng, hãy giúp tôi một việc. Hãy tìm cách ngăn chặn việc phá nát hành tinh này, ít nhất là trong năm mươi năm, cho đến khi các nhà khảo cổ học có cơ hội làm xong việc của họ, được không?”

“Được.”

“Và cuối cùng – nếu việc này có thể giúp anh chút nào, hãy cứ nghĩ về tôi như là một anh chàng bỗng dưng bị tâm thần và không bao giờ trở lại bình thường nữa. Như vậy có lẽ dễ dàng cho anh hơn.”

“Tôi sẽ suy nghĩ về việc đó. Vĩnh biệt, Spender. Chúc may mắn!

“Anh là một người đặc biệt,” Spender nói khi cơ trưởng theo đường mòn đi xuống trong làn gió ấm nóng.

Đối với những đồng đội người bám đầy bụi, việc cơ trưởng trở lại giống như tìm lại được báu vật bị mất. Anh liên tục nheo mắt nhìn mặt trời và thở một cách khó nhọc.

“Có cái gì để uống không?” anh hỏi. Anh cảm nhận một cái chai được ấn vào tay mình. “Cảm ơn.” Anh uống. Anh lau miệng.

“Được rồi,” anh nói. “Thận trọng nhé. Chúng ta có thừa thời gian. Tôi không muốn mất thêm người nào nữa. Các cậu phải bắn chết cậu ta. Cậu ta sẽ không xuống đây đâu. Cố gắng bắn gọn gàng, sạch sẽ. Đừng để cậu ta phải chết một cách bẩn thỉu. Kết thúc thật nhanh.”

“Tôi sẽ bắn phọt óc thằng khốn đó,” Sam Parkhill nói.

“Không, bắn vào ngực ấy,” cơ trưởng nói. Anh có thể hình dung khuôn mặt mạnh mẽ, quyết tâm của Spender.

“Bộ óc khốn kiếp,” Parkhill nói.

Cơ trưởng dúi cho anh ta cái chai. “Cậu nghe tôi nói rồi đấy. Bắn vào ngực.”

Parkhill làu bàu.

“Đi đi,” cơ trưởng nói.

Họ lại tản ra, đầu tiên là đi, sau đó là chạy, rồi lại đi trên sườn đồi nóng bức, nơi thỉnh thoảng đột nhiên lại có một cái hang mát mẻ đầy mùi rêu, hoặc những cái hốc bất chợt nằm phơi mình nồng mùi nắng nung trên đá.

Mình không thích phải thông minh tháo vát, cơ trưởng nghĩ, khi quả thực mình không thấy thế và không muốn thế. Rình rập và lên kế hoạch, và cảm thấy mình quan trọng khi làm vậy. Mình ghét cái cảm giác ta cứ nghĩ mình đang làm đúng trong khi quả thực ta không thể biết chắc đúng sai. Suy cho cùng, chúng ta là ai? Là số đông ư? Liệu đó có phải câu trả lời? Số đông luôn là linh thiêng, hay không phải thế? Luôn luôn, luôn luôn; không bao giờ sai dù chỉ một giây phút ngắn ngủi ư? Không bao giờ sai trong suốt hơn mười triệu năm? Anh nghĩ: Số đông này là cái gì và có những ai ở trong đó? Và họ nghĩ gì, sao họ lại thế, họ có bao giờ thay đổi không, và làm thế quái nào mà mình lại mắc kẹt trong cái số đông mục ruỗng ấy? Mình không cảm thấy thoải mái. Liệu đó có phải là chứng sợ không gian hẹp, chứng sợ đám đông, hay là một suy nghĩ thông thường? Liệu có thể nào một người quả là đúng, còn cả thế giới chỉ tưởng rằng họ đúng? Thôi đừng nghĩ đến chuyện đó. Hãy tiếp tục bò đi và tỏ ra phấn khích đi và bóp cò đi. Thế, và thế.

Họ chạy và thụp xuống, rồi lại chạy và lại thụp xuống trong bóng râm, nhe nanh, thở hổn hển vì không khí ở đây rất loãng, không thích hợp với việc chạy; không khí thì loãng và cứ chốc chốc họ lại phải ngồi xuống nghỉ năm phút, thở khò khè và mắt thì hoa lên, cố gắng hớp càng nhiều không khí càng tốt, nhắm mắt tịt và cuối cùng lại đứng dậy, nhấc súng lên bắn, chọc vào bầu không khí loãng ấy những lỗ thủng của hơi nóng và tiếng súng.

Spender vẫn ở yên tại chỗ, chỉ thỉnh thoảng mới lại nổ súng.

“Bắn phọt óc thằng chết tiệt đi!” Parkhill gào lên và chạy lên đồi.

Cơ trưởng chĩa súng về phía Parkhill. Nhưng anh hạ súng xuống ngay và chằm chằm nhìn nó sợ hãi. “Mày định làm gì thế?” anh hỏi bàn tay đang thông ra và khẩu súng.

Suýt nữa anh đã bắn vào lưng Parkhill.

“Xin Chúa hãy giúp con.”

Anh thấy Parkhill vẫn đang chạy, chốc chốc lại nằm thụp xuống.

Spender đang bị dồn lại trong vòng vây lỏng lẻo của những gã đang chạy. Trên đỉnh đồi, phía sau hai tảng đá, Spender nằm, nghiến răng kiệt quệ vì không khí loãng, mồ hôi loang ra những mảng lớn dưới hai nách. Cơ trưởng nhìn thấy hai tảng đá. Có một kẽ hở giữa chúng, rộng khoảng mười phân, hoàn toàn có thể xuyên qua đó bắn thẳng vào ngực Spender.

“Này, thằng kia!” Parkhill gọi lớn. “Nhận lấy một viên đạn cho cái đầu của mày đi.”

Cơ trưởng Wilder chờ đợi. Nào, Spender, anh nghĩ. Ra đi, như cậu đã nói. Cậu chỉ có vài phút để chạy trốn. Đi đi rồi trở lại sau. Đi đi. Cậu nói cậu sẽ đi mà. Hãy đi xuống đường hầm mà cậu nói là đã tìm được ấy, và sống ở đó hàng tháng, hàng năm, đọc những cuốn sách hay, và tắm trong những bể nước đẹp. Đi đi, nào, chàng trai, trước khi quá muộn.

Spender không nhúc nhích khỏi vị trí.

“Cậu ta làm sao thế nhỉ?” cơ trưởng tự hỏi.

Cơ trưởng lại cầm súng lên. Anh theo dõi những người đang chạy, đang núp. Anh nhìn lên những tòa tháp trong những ngôi làng Sao Hỏa sạch sẽ, nhỏ bé, như những quân cờ tạc sắc nét dưới ánh nắng chiều. Anh thấy hai tảng đá và kẽ hở ở giữa, nơi bờ ngực của Spender lộ ra.

Parkhill đã lên đến nơi và la hét giận dữ.

“Không, Parkhill” cơ trưởng nói. “Tôi không thể để cậu làm việc đó. Cả những người khác cũng vậy. Không, không ai trong các cậu. Chỉ mình tôi thôi.” Anh giơ súng lên và ngắm bắn.

Liệu mình có còn trong sạch sau chuyện này? Anh nghĩ. Liệu có đúng đắn không nếu mình là người làm chuyện này? Phải, đúng vậy. Mình biết mình đang làm gì, vì lý do gì và nó đúng đắn, bởi vì mình nghĩ mình là người phù hợp. Mình hy vọng và cầu sao mình xứng đáng.

Anh hất đầu về phía Spender. “Nào,” anh thì thào và chẳng ai nghe thấy. “Tôi sẽ cho cậu ba mươi giây nữa để chạy. Ba mươi giây!”

Đồng hồ tích tắc trên tay anh. Cơ trưởng theo dõi nó nhích từng giây. Người của anh đang chạy. Spender thì không nhúc nhích. Đồng hồ tích tắc rất lâu, rất ồn ào bên tai cơ trưởng. “Nào, Spender, nào, chạy đi!”

Ba mươi giây đã hết.

Khẩu súng đã được ngắm bắn. Cơ trưởng hít một hơi thật sâu. “Spender,” anh nói, và thở ra.

Anh kéo cò.

Chỉ thấy một đám bụi đá bay lên dưới ánh mặt trời. Âm thanh vang vọng của tiếng súng tắt dần.

Cơ trưởng đứng dậy và gọi người của mình. “Cậu ta chết rồi.”

Họ không tin. Từ góc của họ không thể nhìn thấy khe hở giữa hai tảng đá. Họ thấy cơ trưởng chạy lên đồi một mình và nghĩ rằng hoặc là anh rất dũng cảm, hoặc là anh điên.

Vài phút sau họ lên đến nơi.

Họ đứng quanh cái xác và ai đó nói, “Bắn vào ngực?”

Cơ trưởng nhìn xuống. “Vào ngực,” anh nói. Anh thấy phiến đá dưới cơ thể Spender chuyển màu sẫm lại. “Tôi tự hỏi vì sao cậu ta chờ đợi. Tôi tự hỏi vì sao cậu ta không trốn đi như đã dự định. Tôi tự hỏi vì sao cậu ta ở lại để bị giết chết.”

“Ai biết được,” ai đó nói.

Spender nằm đó, hai tay siết chặt, một bên là khẩu súng, bên kia là cuốn sách bạc chói lên dưới ánh nắng.

Liệu có phải là vì mình? cơ trưởng nghĩ. Có phải vì mình đã từ chối đề nghị của cậu ta? Có phải Spender không muốn giết mình? Mình có gì khác với những người kia? Có phải vì điều đó không? Cậu ta nghĩ có thể tin mình? Còn câu trả lời nào khác nữa?

Không. Anh ngồi xuống bên cái xác câm lặng.

Mình phải sống sao cho xứng đáng, anh nghĩ. Mình không thể để cậu ta thất vọng. Nếu cậu ta cho rằng mình có chút gì đó giống cậu ta và do vậy không thể giết mình, thì trước mắt mình có một nhiệm vụ to lớn quá! Đúng rồi, phải, chính thế. Mình không khác gì Spender, nhưng mình đã suy nghĩ trước khi bắn. Mình không bắn, mình không giết người. Mình chỉ làm việc này việc kia với mọi người. Và cậu ta không thể giết mình vì mình chính là cậu ta trong điều kiện hơi khác một chút.

Cơ trưởng cảm nhận mặt trời đang soi lên gáy mình. Anh nghe mình tự nói: “Giá mà cậu ta đến gặp tôi trước khi giết ai, có lẽ tôi và cậu ta đã có thể giải quyết theo cách khác.”

“Giải quyết gì?” Parkhill hỏi. “Ta có thể giải quyết cái gì với những dạng người như hắn?”

Gió nóng thổi vù vù khắp thung lũng, đập vào vách đá, và bốc lên bầu trời xanh. “Có lẽ cậu đúng” cơ trưởng nói. “Chúng ta không bao giờ có thể thống nhất với nhau. Tôi và Spender thì có lẽ còn được. Nhưng cậu hay những người khác và Spender thì không, không bao giờ. Cậu ta ra đi thì hơn. Tôi sẽ uống chút nước ở cái bình kia.”

Chính cơ trưởng là người gợi ý dành chiếc quách rỗng ấy cho Spender. Họ đã tìm thấy một khu mộ cổ của người Sao Hỏa. Họ đặt Spender vào một chiếc hòm làm bằng bạc cùng với sáp và rượu vang mười ngàn năm tuổi, tay anh ta khoanh lại trên ngực. Thứ cuối cùng ở anh ta mà họ nhìn thấy là một gương mặt bình yên.

Họ đứng một lúc trong vòm mộ cổ. “Tôi nghĩ các cậu thỉnh thoảng nên nhớ đến Spender,” cơ trưởng nói.

Họ đi ra khỏi hầm mộ và đóng cánh cửa bằng đá cẩm thạch lại.

Chiều hôm sau Parkhill luyện ngắm bắn trong một thành phố chết, anh ta bắn vỡ các cửa kính bằng pha lê và thổi tung các đỉnh tháp mong manh. Cơ trưởng bắt được Parkhill và đấm vỡ mồm anh ta.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.