Biên Niên Ký Sao Hỏa

Lượt đọc: 33 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Tháng Tư năm 2031 Đoàn thám hiểm thứ ba

❊ ❊ ❊

Chiếc phi thuyền từ trên không gian đáp xuống. Nó đến đây từ những vì sao, từ tốc độ không thể nhìn thấu giữa màn đen đặc, từ những chuyển động phát sáng, từ những vực xoáy tĩnh lặng của không gian. Đó là một con tàu mới; trong thân có lửa và trong những căn phòng kim loại có người, nó di chuyển hoàn toàn êm ru, mạnh mẽ và ấm áp. Họ có tất cả mười bảy người, kể cả cơ trưởng. Đám đông tiễn họ ở phi trường Ohio đã hò hét và vẫy tay tung hô họ dưới ánh nắng, và chiếc phi thuyền đã phụt ra những bông hoa lửa khổng lồ rồi lao vào không gian, bắt đầu chuyến du hành thứ ba lên Sao Hỏa!

Giờ, chiếc phi thuyền đang giảm tốc bằng hiệu suất kim loại ở tầng trên cùng của khí quyển Sao Hỏa. Nó vẫn là một tạo vật đẹp đẽ và mạnh mẽ. Nó đã di chuyển trong những vùng biển đêm của không gian như một con thủy quái tái nhợt; nó đã đi qua Mặt Trăng cổ xưa và tiến vào hết vùng hư không này đến vùng hư không khác. Những người trong tàu đã bị va đập, bị quăng quật, nôn mửa, tỉnh táo trở lại, từng người một. Một người đã chết, nhưng giờ họ còn lại mười sáu người, với những đôi mắt mở to tỉnh táo, mặt dán vào khoang kính bên thân tàu, ngắm nhìn Sao Hỏa dần hiện lên bên dưới.

“Sao Hỏa!” hoa tiêu Lustig thốt lên.

“Sao Hỏa yêu quý!” Samuel Hinkston, nhà khảo cổ học nói.

“Chà,” cơ trưởng John Black cảm thán.

Chiếc phi thuyền đáp xuống một thảm cỏ xanh. Trên bãi cỏ này có một con hươu sắt. Xa hơn nữa là một căn nhà kiểu Victoria cao lớn màu nâu đang nằm im lìm dưới nắng, bên ngoài trang trí đầy những đường xoắn ốc và những chi tiết lộng lẫy, các cửa sổ kính màu lam, hồng, vàng và xanh lục. Bên hiên nhà có những bụi phong lữ rậm rạp, và một chiếc xích đu cũ kỹ gắn trên mái hiện đang đu đưa trong gió. Toàn bộ phần chóp của ngôi nhà là một đỉnh vòm với những khung cửa sổ pha lê và một mái ngói hình chóp nhọn! Qua cửa sổ trước, ta có thể thấy trên giá một bản nhạc có tựa đề “Ohio xinh đẹp”.

Bốn phía xung quanh con tàu là thị trấn nhỏ màu xanh lá đang nằm yên lặng trong tiết trời mùa xuân của Sao Hỏa. Có những ngôi nhà màu trắng, gạch đỏ, những cây du cao vút đang đu đưa theo gió, những cây phong cao và những cây dẻ ngựa. Cả những tháp chuông nhà thờ với những quả chuông vàng lặng lẽ.

Những người trên phi thuyền nhìn ra ngoài và trông thấy cảnh này. Họ nhìn nhau và lại nhìn ra ngoài. Họ nắm khuỷu tay nhau, bỗng nhiên không thể thở được, dường như vậy. Khuôn mặt họ tái dại.

“Không thể tin được,” Lustig thầm thì, anh ta đưa những ngón tay tê liệt của mình lên vuốt mặt. “Không thể tin được.”

“Không thể như thế được,” Samuel Hinkston nói.

“Chúa ơi,” cơ trưởng John Black nói.

Có tiếng gọi của nhà hóa học. “Thưa cơ trưởng, bầu khí quyển ở đây quá loãng, không thể thở được bình thường. Nhưng vẫn có đủ oxy. Ở đây an toàn.”

“Vậy chúng ta sẽ ra ngoài,” Lustig nói.

“Đợi đã,” cơ trưởng John Black nói. “Làm sao chúng ta biết đây là cái gì?”

“Đây là một thị trấn nhỏ có không khí loãng nhưng vẫn thở được, thưa cơ trưởng.”

“Đây là một thị trấn nhỏ giống các thị trấn dưới Trái Đất,” nhà khảo cổ học Hinkston nói. “Thật khó tin. Không thể thế được, nhưng đúng là như thế.”

Cơ trưởng lơ đãng nhìn anh ta. “Anh cho rằng hai nền văn minh trên hai hành tinh khác nhau có thể có cùng trình độ phát triển và cùng tiến hóa theo cách giống nhau hay sao hả Hinkston?”

“Tôi không nghĩ như thế, thưa cơ trưởng”

Cơ trưởng Black đứng bên cửa. “Nhìn ra kia kìa. Những cây phong lữ. Một loài thực vật đặc biệt. Giống cây này chỉ mới được biết đến trên Trái Đất cách đây năm mươi năm. Hãy nghĩ đến chuyện thực vật phải mất hàng ngàn năm để tiến hóa. Rồi nói cho tôi biết liệu có hợp lý không khi mà người Sao Hỏa lại có: một, cửa sổ pha lê; hai, mái vòm; ba, xích đu ở hiên; bốn, một nhạc cụ giống như piano và có lẽ chính là một chiếc piano; và năm, nếu anh quan sát vào kính viễn vọng từ đây, liệu có hợp lý không khi một nhà soạn nhạc người Sao Hỏa lại sáng tác ra một bản nhạc có nhan đề khá kỳ lạ, ‘Ohio xinh đẹp? Chứng tỏ trên Sao Hỏa cũng có sông Ohio!”

“Cơ trưởng Williams, tất nhiên!” Hinkston kêu lên.

“Cái gì?”

“Đó là cơ trưởng Williams và ba người đi cùng! Hoặc Nathaniel York và cộng sự của anh ta. Điều đó giải thích được.”

“Điều đó chẳng giải thích được cái gì hết. Như chúng ta có thể suy luận, đoàn thám hiểm của York đã nổ tung ngay vào ngày nó đến được Sao Hỏa, York và cộng sự của anh ta đã chết. Còn với Williams và ba người đi cùng, con tàu của họ nổ tung vào ngày thứ hai sau khi họ đến. Ít nhất thì sóng vô tuyến của họ cũng ngừng phát tại thời điểm đó, nên chúng ta cho rằng nếu còn sống sau đó, họ đã liên hệ với chúng ta. Và dù sao thì, đoàn thám hiểm của York mới chỉ đến cách đây một năm, còn cơ trưởng Williams và đồng đội mới hạ cánh ở đây vào tháng Tám năm ngoái. Cứ cho là họ còn sống đi, liệu họ có thể, ngay cả với sự trợ giúp của một giống người Sao Hỏa thông minh xuất sắc đi nữa, xây dựng được một thị trấn như thế này và làm nó cũ đi trong một khoảng thời gian ngắn như vậy? Nhìn thị trấn đằng kia xem; trời ạ, nó phải tồn tại ở đây đến bảy mươi năm rồi. Nhìn những thanh gỗ lát hiên nhà xem; nhìn những cái cây hàng trăm năm tuổi xem, tất cả! Không, đây không phải là công trình của York hay của Williams. Phải là một thứ gì khác. Tôi không thích nó. Và tôi sẽ không rời khỏi con tàu này cho đến khi tôi biết chính xác nó là cái gì.”

“Hơn nữa,” Lustig gật đầu nói, “Williams và đồng đội, cũng như York, đã hạ cánh ở phía bên kia của Sao Hỏa. Chúng ta đã rất cẩn trọng để hạ cánh ở phía bên này.”

“Một luận điểm xuất sắc. Để đề phòng trường hợp một bộ lạc hiếu chiến trên Sao Hỏa đã giết chết York và Williams, chúng ta đã được hướng dẫn hạ cánh ở một khu vực khác, để tránh lặp lại thảm họa tương tự. Thế nên bây giờ chúng ta mới ở đây, theo như chúng ta được biết, là mảnh đất mà Williams và York chưa bao giờ nhìn thấy.”

“Khỉ thật,” Hinkston nói, “Tôi muốn ra ngoài và đi vào thị trấn này, thưa cơ trưởng, với sự cho phép của anh. Có thể tồn tại đường hướng suy nghĩ hoặc sơ đồ văn minh tương tự nhau trên mọi hành tinh của hệ Mặt Trời chúng ta lắm chứ. Có thể chúng ta đang đứng trước bậc thềm của khám phá siêu hình và tâm lý học vĩ đại nhất của thời đại mình!”

“Tôi sẵn sàng đợi thêm một lát,” cơ trưởng John Black nói.

“Có thể, thưa cơ trưởng, chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng mà, lần đầu tiên, chứng minh được một cách hoàn toàn thuyết phục sự tồn tại của Chúa, thưa cơ trưởng.”

“Nhiều người có đức tin tuyệt đối mà không cần phải có chứng minh, anh Hinkston ạ.”

“Bản thân tôi cũng là một người như thế, thưa cơ trưởng. Nhưng rõ ràng một thị trấn như thế này không thể nào tự nhiên mọc ra mà không có sự can thiệp của thần thánh. Chi tiết. Nó mang lại cho tôi đầy những cảm xúc mà tôi không biết nên cười hay nên khóc.”

“Vậy thì đừng cười và cũng đừng khóc, cho tới khi chúng ta biết mình đang đối mặt với cái gì.”

“Đối mặt?” Lustig xen vào. “Chẳng đối mặt cái gì hết, thưa cơ trưởng. Đó là một thị trấn xanh rì yên tĩnh, tốt đẹp, rất giống thị trấn ngày xưa nơi tôi sinh ra. Tôi thích diện mạo của nó.”

“ Anh sinh năm nào, Lustig?”

“1980, thưa cơ trưởng.”

“Còn anh, Hinkston?”

“1985, thưa cơ trưởng. Tại Grinnell, Iowa. Và nơi này với tôi giống như quê hương vậy.”

“Hinkston, Lustig, tôi có thể là bậc cha chú của cả hai anh. Tôi 80 tuổi rồi. Sinh năm 1950 ở Illinois, và nhờ ơn Chúa cũng như nhờ nền khoa học trong năm mươi năm qua đã khám phá ra cách giúp một số ông già trẻ lại, giờ đây tôi đang ở trên Sao Hỏa, không mệt hơn các anh chút nào, nhưng chắc chắn đa nghi hơn các anh. Thị trấn này trông rất thanh bình và mát mẻ, rất giống Green Bluff, Illinois, giống đến mức nó khiến tôi sợ. Nó quá giống Green Bluff.” Ông quay sang người trực radio. “Liên lạc Trái Đất. Bảo họ rằng chúng ta đã hạ cánh. Vậy thôi. Bảo họ là ngày mai chúng ta sẽ liên lạc và báo cáo đầy đủ.”

“Vâng, thưa cơ trưởng”

Cơ trưởng Black nhìn ra bên ngoài của con tàu với một khuôn mặt lẽ ra phải là của một ông già tám mươi, nhưng thực tế lại giống người đàn ông bốn mươi. “Chúng ta sẽ làm thế này, Lustig; anh và tôi và Hinkston sẽ đi một vòng quanh thị trấn xem thế nào. Những người khác ở nguyên trên tàu. Nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra thì họ có thể chạy thoát. Thà mất ba người còn hơn mất toàn bộ phi hành đoàn. Nếu lỡ có xảy ra điều gì, chúng ta vẫn có thể cảnh báo cho con tàu tiếp theo. Đó là tàu của cơ trưởng Wilder, tôi cho là vậy, họ dự kiến sẵn sàng cất cánh vào dịp Giáng sinh. Nếu Sao Hỏa là một hành tinh hiếu chiến thì rõ ràng chúng ta cần cảnh báo để con tàu tiếp theo được trang bị đầy đủ vũ khí.”

“Chúng ta cũng có. Chúng ta có mang theo một kho vũ khí thông thường mà.”

“Vậy hãy bảo người của ta trực chiến cạnh chỗ súng. Nào đi thôi, Lustig, Hinkston.”

Ba người cùng bước xuống các bậc thang của con tàu.

Đó là một ngày mùa xuân đẹp trời. Một con chim cổ đỏ đậu trên một cành táo đang nở hoa và hót líu lo. Một cơn gió khẽ lay cành cây, làm cho một cơn mưa bông tuyết rơi xuống, hương hoa lan tỏa. Đâu đó trong thị trấn có người đang chơi piano, tiếng nhạc dìu dặt, nhẹ nhàng, thư thái. Bài hát tên là “Ohio xinh đẹp”. Ở một nơi khác, một chiếc máy quay đĩa, đã xước và sờn, đang rè rè chơi bản “Mưa rào tháng Tư” do Al Jolson hát[1].

Ba người đàn ông đứng bên ngoài con tàu. Họ hít vào và thở ra thứ không khí rất loãng và bước đi hết sức từ từ để tránh bị mệt.

Lúc này, máy quay đĩa đang phát ra tiếng hát:

“Ôi hãy ban cho ta một đêm tháng Sáu

Ánh trăng và nàng…[2]”

Lustig bắt đầu run rẩy. Samuel Hinkston cũng vậy.

Bầu trời quang đãng và yên ả, đâu đó một dòng nước róc rách luồn qua những khe đá dưới bóng cây của một con suối. Đâu đó, tiếng ngựa gõ móng lục cục và tiếng bánh xe lăn qua, nẩy lên vì xóc.

“Thưa cơ trưởng” Samuel Hinkston nói, “chắc hẳn là, chắc chắn là, du hành lên Sao Hỏa bằng phi thuyền phải có từ những năm trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất!”

“Không đâu.”

“Thế làm sao chúng ta lý giải được sự xuất hiện của những ngôi nhà này, của con hươu sắt, của những chiếc đàn piano, của âm nhạc?” Hinkston níu lấy khuỷu tay của cơ trưởng để thuyết phục, anh ta nhìn sát vào mặt cơ trưởng. “Nhỡ đâu vào năm 1905, có những người ghét chiến tranh nên họ đã bí mật cùng các nhà khoa học chế tạo một chiếc phi thuyền và đã đến Sao Hỏa này...”

“Không, không, Hinkston.”

“Tại sao lại không? Thế giới năm 1905 rất khác so với thế giới bây giờ; bí mật có thể dễ dàng được giữ kín hơn rất nhiều.”

“Nhưng một thứ phức tạp như phi thuyền, không anh không thể giữ bí mật về nó được.”

“Và họ đến đây để sống, và dễ hiểu vì sao họ lại xây những ngôi nhà giống như trên Trái Đất bởi họ mang theo đến đây cả văn hóa nữa.”

“Và họ đã sống ở đây suốt chừng ấy năm?” cơ trưởng hỏi.

“Trong hòa bình và yên tĩnh, phải. Có lẽ họ đã đi một vài chuyến, đủ để đưa người lên lập thành một thị trấn nhỏ, và sau đó họ dừng lại vì sợ bị phát hiện. Đó là lý do vì sao thị trấn này trông lại lỗi thời đến thế. Bản thân tôi không thấy thứ gì sau năm 1957, còn ông? Hoặc có lẽ, thưa cơ trưởng, du hành bằng phi thuyền có lịch sử xa xưa hơn ta tưởng. Có lẽ nó đã khởi phát từ nhiều thế kỷ trước ở một nơi nào đó trên thế giới và được giữ kín bởi một số ít người nay đã lên Sao Hỏa và thỉnh thoảng mới quay về thăm Trái Đất.”

“Điều anh nói có vẻ hợp lý.”

“Chắc chắn là thế. Chúng ta có bằng chứng ngay trước mắt đây; chỉ cần tìm ai đó và xác nhận lại thôi.”

Giày họ bước đi êm bặt trên nền cỏ xanh dày. Có mùi cỏ tươi mới cắt. Cơ trưởng John Black cảm thấy lòng dâng tràn một cảm giác bình yên khôn cưỡng. Đã ba mươi năm rồi ông không đến một thị trấn nhỏ, và tiếng bay vù vù của bầy ong mùa xuân trong không gian đã thu hút ông, khiến ông tĩnh lại. Vẻ tươi mát của mọi vật quanh đây là một liều thuốc làm dịu tâm hồn.

Họ đặt chân lên hiên nhà. Có tiếng vọng rỗng vang lên bên dưới ván sàn khi họ bước đến cánh cửa lưới. Bên trong, họ có thể thấy một bức rèm làm từ các chuỗi hạt treo ngang lối vào, một chiếc đèn chùm pha lê và một bức tranh Maxfield Parrish lồng khung treo trên tường, phía trên một chiếc ghế Morris dễ chịu. Căn nhà có mùi cũ kỹ, mùi kho xép, và tạo cảm giác thoải mái vô bờ. Có thể nghe tiếng những viên đá nhỏ chạm nhau lách cách trong bình nước chanh. Trong căn bếp ở phía xa, bởi vì trời nóng, ai đó đang chuẩn bị một bữa trưa với đồ ăn nguội. Ai đó đang ngân nga những giai điệu trầm bổng.

Cơ trưởng John Black bấm chuông.

Những bước chân thanh thoát và nhỏ nhắn đi dọc hành lang, và một người phụ nữ tuổi độ bốn mươi có khuôn mặt tử tế, đang mặc một chiếc váy kiểu năm 1939, ló ra nhìn họ.

“Tôi có thể giúp gì các anh?” chị hỏi.

“Xin lỗi,” cơ trưởng Black ngập ngừng. “Nhưng chúng tôi đang tìm... tức là, chị có thể giúp chúng tôi...” Ông ngừng lại. Chị nhìn ông bằng đôi mắt sẫm vẻ thắc mắc.

“Nếu các anh muốn bán thứ gì đó...” chị nói.

“Không, xin đợi đã!” ông kêu lên. “Đây là thị trấn gì vậy?”

Chị nhìn ông từ đầu đến chân. “Ý anh là gì, đây là thị trấn gì ư? Làm sao anh có thể ở thị trấn mà không biết tên nó?”

Cơ trưởng trông như thể ông muốn ngồi dưới một cây táo tỏa bóng mát. “Chúng tôi mới từ xa tới. Chúng tôi muốn biết làm sao thị trấn này lại có ở đây và làm sao chị đến đây được.”

“Các anh là cán bộ điều tra dân số à?”

“Không”

“Ai cũng biết,” chị nói, “thị trấn này có từ năm 1868. Đây có phải trò đố vui không?”

“Không, không phải trò chơi!” cơ trưởng thốt lên. “Chúng tôi đến từ Trái Đất.”

“Từ dưới đất lên, ý anh là vậy?” chị thắc mắc.

“Không, chúng tôi đến từ hành tinh thứ ba, gọi là Trái Đất, trên một phi thuyền. Và chúng tôi vừa đáp xuống đây, hành tinh thứ tư, Sao Hỏa...”

“Đây,” người phụ nữ giải thích, như thể chị đang nói chuyện với một đứa trẻ, “là Green Bluff, Illinois, trên lục địa châu Mỹ, xung quanh là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, ở một nơi gọi là thế giới, hoặc đôi khi, là Trái Đất. Giờ thì mời các anh đi cho. Xin chào.”

Chị quay vào trong hành lang, tay gạt tấm rèm làm bằng chuỗi hạt.

Ba người đàn ông đứng nhìn nhau.

“Mình ập cửa xông vào nhé,” Lustig nói.

“Chúng ta không được phép làm vậy. Đây là đất tư nhân mà. Chúa ơi!”

Họ ngồi trên bậc thang của hiên nhà.

“Liệu anh có bao giờ thoáng nghĩ, Hinkston, rằng vì một lý do nào đó, theo một cách nào đó, chúng ta đã bay chệch hướng và vô tình quay lại hạ cánh trên Trái Đất không?”

“Sao thế được?”

“Tôi không biết, tôi không biết. Ôi Chúa ơi, để tôi nghĩ xem.”

Hinkston nói, “Nhưng cứ đi được một dặm là chúng ta lại kiểm tra mà. Đồng hồ đo được bao nhiêu là dặm như thế. Chúng ta đã đi qua Mặt Trăng và tiến vào không gian, và giờ chúng ta ở đây. Tôi chắc chắn chúng ta đang ở trên Sao Hỏa.”

Lustig nói, “Nhưng giả sử, tình cờ, trong không gian và trong thời gian, chúng ta mất phương hướng và hạ cánh trên Trái Đất ở thời điểm cách đây sáu mươi hoặc bảy mươi năm.”

“Ồ, thôi đi Lustig!”

Lustig đi đến chỗ cánh cửa, kéo chuông và gọi vào trong căn phòng ảm đạm lạnh lẽo. “Đây là năm nào?”

“1956, đương nhiên rồi,” người phụ nữ nói, chị đang ngồi trên một chiếc ghế bập bênh, nhấp một ngụm nước chanh.

“Hai người nghe thấy chưa?” Lustig hào hứng quay về phía hai người còn lại. “1956! Chúng ta đã trở về quá khứ! Đây Trái Đất!”

Lustig ngồi xuống, và ba người đàn ông khổ sở vì sự kỳ dị và kinh hoàng của ý tưởng ấy. Bàn tay họ đặt trên gối bồn chồn. Cơ trưởng nói, “Tôi đâu có đòi hỏi một thứ như thế này. Nó khiến tôi sợ phát khiếp. Sao một điều như vậy có thể xảy ra? Ước gì chúng ta mang Einstein theo.”

“Liệu trong thị trấn này có ai tin lời chúng ta không?” Hinkston nói. “Liệu chúng ta có đang đùa với một thứ nguy hiểm? Thời gian, ý tôi là vậy. Chẳng phải chúng ta nên nhổ rễ và quay về nhà sao?”

“Không. Phải thử một nhà khác đã.”

Họ đi qua ba nhà, đến một ngôi nhà gỗ nhỏ màu trắng nằm dưới tán một cây sồi. “Tôi muốn mình sử dụng lý trí nhiều nhất có thể,” cơ trưởng nói. “Và tôi tin là chúng ta thậm chí còn chưa chạm được vào nó đâu. Cứ cho là, Hinkston ạ, như lúc ban đầu anh đưa ra suy đoán, du hành không gian đã có từ nhiều năm trước, thì sao? Khi người Trái Đất đã sống ở đây được vài năm, họ bắt đầu nhớ nhà, nhớ Trái Đất. Đầu tiên đó chỉ là một chứng loạn thần kinh nhẹ thôi, sau đó xuất hiện đầy đủ các triệu chứng của bệnh tâm thần. Sau đó là có nguy cơ điên nặng. Nếu là bác sĩ trị liệu tâm lý thì anh sẽ làm gì nếu gặp một vấn đề như vậy?”

Hinkston suy nghĩ. “Ừm, tôi nghĩ mình sẽ tổ chức lại nền văn minh trên Sao Hỏa sao cho nó ngày càng giống Trái Đất hơn. Nếu có cách nào để sao chép lại từng cái cây, từng con đường, từng cái hồ, thậm chí từng đại dương, tôi sẵn sàng làm. Rồi bằng thuật thôi miên đám đông, tôi sẽ thuyết phục mọi cư dân của một thị trấn nhỏ cỡ này rằng đây thực sự là Trái Đất, không phải Sao Hỏa.”

“Tốt đấy, Hinkston. Tôi cho là chúng ta đang đi đúng hướng rồi. Người phụ nữ trong ngôi nhà ban nãy nghĩ là cô ta đang sống trên Trái Đất. Nó giúp cô ta cân bằng. Cô ta và tất cả những người còn lại của thị trấn này là bệnh nhân của thí nghiệm vĩ đại nhất về di cư và thôi miên mà các anh từng được chứng kiến trong đời.”

“Chính thế, thưa cơ trưởng!” Lustig thốt lên.

“Phải rồi!” Hinkston nói.

“Ừm,” cơ trưởng thở dài. “Giờ chúng ta đã có bước tiến rồi. Tôi thấy khá hơn. Nghe có vẻ hợp lý hơn một chút. Câu chuyện về thời gian và những chuyến du hành về quá khứ hay đến tương lai khiến dạ dày tôi nhộn nhạo hết cả. Nhưng thế này...” Cơ trưởng mỉm cười. “Chà, có vẻ như chúng ta sẽ rất được yêu thích ở đây.”

“Liệu có phải thế không?” Lustig hỏi. “Suy cho cùng, giống những người hành hương, họ đến đây để chạy trốn khỏi Trái Đất. Có lẽ họ sẽ không quá vui khi thấy chúng ta. Có lẽ họ sẽ tìm cách đuổi chúng ta đi hoặc giết chết chúng ta.”

“Chúng ta có vũ khí tân tiến. Đến ngôi nhà tiếp theo rồi. Nào chúng ta đi.”

Nhưng họ chưa kịp đi qua bãi cỏ thì Lustig dừng lại và nhìn về phía xa, phía cuối một con phố chiều mơ màng và tĩnh lặng. “Thưa cơ trưởng,” anh ta nói.

“Cái gì thế, Lustig?”

“Ôi, thưa cơ trưởng, cơ trưởng, điều mà tôi thấy...” Lustig nói và bắt đầu khóc. Anh ta run run đưa tay lên chỉ, khuôn mặt anh ta tràn đầy niềm vui và ngỡ ngàng như không thể tin vào mắt mình. Dường như anh ta có thể phát điên lên bất cứ lúc nào vì hạnh phúc. Anh ta nhìn về phía cuối con đường và bắt đầu chạy, vụng về vấp váp, ngã dúi dụi, đứng dậy, tiếp tục chạy. “Này, này!”

“Đừng để anh ta chạy mất!” Cơ trưởng cũng vùng chạy theo.

Giờ thì Lustig chạy rất nhanh, vừa chạy vừa la hét. Đến giữa con phố rợp bóng cây, anh ta rẽ vào một khoảng sân và nhảy lên hiên ngôi nhà lớn màu xanh lục, trên mái gắn một con gà trống bằng sắt.

Khi Hinkston và cơ trưởng chạy đến nơi, thì anh ta đang đập vào cánh cửa, hò hét và kêu khóc. Họ đều thở dốc và khò khè, kiệt sức vì phải chạy trong không khí loãng. “Bà ơi! Ông ơi!” Lustig gọi.

Có hai ông bà già đứng ở cửa.

“David!” họ reo lên và chạy đến ôm chầm lấy anh ta, vỗ lưng anh ta và vây quanh anh ta. “David, ôi, David, đã bao nhiêu năm rồi! Cháu lớn quá trời ơi; cháu mới cao lớn làm sao. Ôi, thằng bé David của ông bà, cháu thế nào?”

“Ông, bà!” David Lustig sụt sịt. “Ông bà trông thật ổn quá, ổn quá!” Anh ta cầm tay họ, xoay người họ, hôn họ, ôm họ, khóc trên vai họ, đẩy họ ra, chớp mắt nhìn hai ông bà già có vóc dáng nhỏ bé này. Mặt trời đã lên cao, gió thổi, cỏ thì xanh, cánh cửa lưới thì rộng mở.

“Vào đi, chàng trai, vào đi. Có trà đá cho cháu đấy, mới pha, rất nhiều!”

“Cháu có những người bạn này nữa.” Lustig quay lại, rối rít vẫy cơ trưởng và Hinkston, miệng cười giòn giã. “Thưa cơ trưởng, xin hãy lại đây.”

“Chào các anh!” hai ông bà già nói. “Mời vào. Bạn của David thì cũng là bạn của chúng tôi. Đừng đứng đó!”

Bên trong phòng khách của ngôi nhà cũ rất mát. Trong góc nhà, một chiếc đồng hồ quả lắc đang gõ những âm thanh cao vút và vang dài như tiếng đồng thau. Có những chiếc xô pha lớn, những chiếc gối ôm mềm mại, những cuốn sách chất đầy trên các bức tường, một chiếc rương khắc kín hoa văn hoa hồng, cùng ly trà đá đổ mồ hôi lạnh trên tay và mát rượi trên đầu lưỡi khát cháy.

“Chúc sức khỏe,” bà đưa ly lên hàm răng trắng sứ.

“Bà ở đây từ bao giờ bà ơi?” Lustig hỏi.

“Từ khi chúng ta chết!” bà nói lạnh tanh.

“Kể từ khi ông bà sao cơ?” Cơ trưởng John Black đặt ly trà của mình xuống.

“Ồ vâng” Lustig gật đầu. “Họ đã chết được ba mươi năm rồi.”

“Thế mà anh có thể ngồi đây bình thản như thế!” cơ trưởng quát.

“Khẽ nào.” Bà cụ nháy mắt đầy vẻ tinh nghịch. “Anh là ai mà dám cật vấn về những gì đang xảy ra? Chúng ta ở đây. Suy cho cùng thì cuộc sống là gì? Ai làm gì, vì sao và ở đâu? Ta chỉ biết là chúng ta đang ở đây, được sống một lần nữa, và không có câu hỏi nào được đặt ra. Một cơ hội thứ hai.” Bà thong thả bước tới và chìa cổ tay ra. “Chạm vào đi.” Cơ trưởng chạm vào tay bà. “Là thật, đúng không?” bà hỏi. Ông gật đầu. “Vậy thì,” bà nói vẻ đắc thắng, “sao cứ phải thắc mắc?”

“À,” cơ trưởng nói, “đơn giản là chúng tôi không ngờ là sẽ thấy một thứ như thế này trên Sao Hỏa.”

“Và giờ thì anh thấy rồi đấy. Tôi dám nói rằng hành tinh nào cũng có rất nhiều thứ chứng minh cho anh thấy khả năng của Thượng Đế là vô hạn.”

“Đây có phải là thiên đường không?” Hinkston hỏi.

“Vớ vẩn, không. Đây là một thế giới nơi chúng ta có cơ hội thứ hai. Không ai nói cho chúng ta biết lý do vì sao. Nhưng mà cũng có ai nói cho chúng ta biết vì sao chúng ta lại có mặt trên Trái Đất đâu. Trái Đất kia ấy, ý ta muốn nói vậy. Nơi mà từ đó các anh tới đây. Làm sao chúng ta biết được là không có một thế giới nữa trước thế giới đó?”

“Một câu hỏi hay,” cơ trưởng nói.

Lustig cứ mỉm cười với ông bà anh ta mãi. “Chúa ơi, được gặp lại ông bà vui quá đi mất. Chúa ơi, vui quá đi mất.”

Cơ trưởng đứng dậy, tay vỗ đầu gối vẻ tự nhiên. “Chúng tôi phải đi. Cảm ơn ông bà đã mời uống trà.”

“Các anh sẽ quay lại chứ, tất nhiên là thế,” những người già nói. “Để ăn bữa tối?”

“Chúng tôi sẽ cố gắng, xin cảm ơn. Có rất nhiều việc phải làm. Người của tôi đang chờ trên phi thuyền và...”

Ông dừng lại. Ông nhìn ra cửa, sửng sốt.

Phía xa, dưới ánh mặt trời là những tiếng nói, tiếng la hét và tiếng chào nhau hồ hỏi.

“Cái gì vậy?” Hinkston hỏi.

“Chúng ta sẽ sớm biết thôi.” Cơ trưởng John Black bước nhanh ra khỏi cửa, băng qua bãi cỏ xanh và chạy ra phố.

Ông đứng nhìn chiếc phi thuyền. Cửa đã mở và phi hành đoàn của ông đang ùa ra, vẫy tay. Một đám đông đã tụ lại, và các thành viên phi hành đoàn của ông hối hả hòa vào đám đông ấy, cười nói, tay bắt mặt mừng. Người ta nhảy múa. Người ta tràn ra. Chiếc phi thuyền nằm đó trống huếch, không còn một bóng người.

Dưới nắng, đội kèn tấu vang giai điệu vui tươi từ những chiếc tuba và trumpet. Tiếng trống dồn, tiếng sáo vút lên lanh lảnh. Những cô bé tóc vàng nhảy tưng tưng. Những cậu bé hô vang, “Hu ra!” Những ông béo truyền tay nhau mấy điếu xì gà mười xu. Thị trưởng đọc diễn văn. Sau đó, các thành viên của phi hành đoàn, một bên là mẹ, một bên là cha hoặc chị gái, lần lượt biến mất trong những ngôi nhà tranh nhỏ hoặc biệt thự lớn trên phố.

“Dừng lại!” cơ trưởng Black hô lớn.

Những cánh cửa đóng sập lại.

Khí nóng dâng lên trên bầu trời mùa xuân quang đãng, rồi tất cả chìm vào im lặng. Đội kèn đồng đi khuất sau một góc phố, chỉ còn lại chiếc phi thuyền lấp lóa lẻ loi dưới nắng.

“Bỏ đi!” cơ trưởng nói. “Họ đã bỏ tàu mà đi, họ đã làm vậy đấy! Tôi sẽ lột da họ, thề có Chúa! Họ được lệnh phải ở lại trên tàu cơ mà!”

“Thưa cơ trưởng” Lustig nói, “đừng quá nghiêm khắc với họ. Đó đều là họ hàng và bạn bè cũ của họ.”

“Đó không phải là cái có!”

“Hãy nghĩ về cảm xúc của họ, thưa cơ trưởng, khi nhìn thấy những gương mặt thân quen ở bên ngoài con tàu!”

“Họ phải tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh, chết tiệt!”

“Nhưng nếu là ông thì ông sẽ cảm thấy thế nào, thưa cơ trưởng?”

“Tôi sẽ làm theo mệnh lệnh...” cơ trưởng chưa nói hết câu.

Đang sải bước trên vỉa hè, dưới ánh nắng Sao Hỏa, là một thanh niên khoảng hai mươi sáu tuổi, dáng cao, miệng tươi cười, đôi mắt màu xanh lơ trong sáng kỳ lạ. “John!” người ấy gọi lớn và chạy lại.

“Gì thế kia?” Cơ trưởng John Black run rẩy.

“John, đồ trời đánh kia!”

Người thanh niên chạy tới chộp lấy tay ông và vỗ vào lưng ông.

“Là anh,” cơ trưởng Black nói.

“Tất nhiên rồi, cậu còn nghĩ là ai nữa?”

“Edward!” Cơ trưởng quay sang Lustig và Hinkston, vẫn nắm tay người lạ mặt. “Đây là anh trai tôi, Edward. Ed, đây là người cùng phi hành đoàn với em, Lustig và Hinkston! Anh trai tôi đấy!”

Họ cầm bàn tay, ôm cánh tay rồi cuối cùng ôm chầm lấy nhau.

"Ed!”

“John, cái thằng này!”

“Trông anh ổn đấy, Ed, nhưng mà Ed, đây là cái gì vậy? Anh chẳng khác gì sau bao nhiêu năm. Em nhớ là anh đã chết khi anh hai mươi sáu tuổi còn em thì mười chín. Chúa ơi, bao nhiêu năm rồi, vậy mà giờ anh lại ở đây, Chúa ơi, có chuyện gì xảy ra vậy?”

“Mẹ đang đợi,” Edward Black hớn hở nói.

“Mẹ?”

“Và bố nữa.”

“Bố?” Cơ trưởng gần như khuỵu xuống tựa hồ vừa bị tấn công bởi một loại vũ khí hạng nặng. Ông bước đi gượng gạo và loạng choạng. “Bố và mẹ còn sống? Ở đâu?”

“Ở ngôi nhà cũ trên đại lộ Oak Knoll.”

“Ngôi nhà cũ.” Cơ trưởng nhìn chăm chăm trong sự ngạc nhiên thích thú. “Các anh nghe thấy không, Lustig, Hinkston?”

Hinkston đã đi mất. Anh ta đã trông thấy nhà của mình trên phố và đang chạy về phía đó. Lustig thì cười. “Ông thấy không thưa cơ trưởng, điều đã xảy ra với mọi người trên tàu ấy? Họ không thể ngăn được bản thân mình.”

“Phải, phải.” Cơ trưởng nhắm mắt. “Khi em mở mắt ra anh sẽ không còn ở đây nữa.” Ông chớp mắt. “Anh vẫn ở đây. Lạy Chúa. Ed, nhưng trông anh ổn đấy!”

“Đi thôi, bữa trưa đang chờ chúng ta. Anh đã báo mẹ rồi.”

Lustig nói, “Thưa cơ trưởng, tôi sẽ ở cùng ông bà, nếu có việc gì cần đến tôi.”

“Gì cơ? Ồ được thôi, Lustig. Vậy hẹn gặp lại anh.”

Edward nắm chặt cánh tay ông, lôi ông đi. “Ngôi nhà kia kìa. Nhớ không?”

“Chà! Cá là em sẽ chạy đến hiên nhà trước anh!”

Họ chạy. Trên đầu cơ trưởng Black, những tán cây gầm gào; dưới chân ông, mặt đất cũng như gầm gào. Ông thấy bóng dáng màu vàng của Edward Black vượt lên phía trước như trong một con mơ kỳ lạ về thực tại. Ông thấy ngôi nhà đổ xô về phía mình, cánh cửa lưới bật mở rộng. “Thắng rồi nhé!” Edward nói. “Em đã là một ông già rồi,” cơ trưởng thở dốc, “còn anh thì vẫn trẻ. Nhưng phải công nhận, anh luôn thắng em, em nhớ là thế!”

Ở lối ra vào là mẹ, hồng hào, phốp pháp và rạng rỡ. Đằng sau bà, mái tóc hoa râm, là bố, trong tay cầm tẩu thuốc lá.

"Bố, mẹ!”

Như một đứa trẻ, ông chạy lên bậc thang để đến với họ.

Đó là một buổi chiều tuyệt vời thật dài. Họ ăn xong bữa xế và ngồi bên hiên, ông kể cho họ nghe mọi thứ về chiếc phi thuyền. Họ gật đầu mỉm cười với ông, mẹ vẫn như thế, và bố cũng vẫn cắn đầu một điếu xì gà và châm lửa một cách chăm chú như cũ. Tối đó, họ có một bữa tiệc gà tây và thời gian cứ trôi đi. Khi những cái đùi gà trên đĩa đã được gặm sạch, cơ trưởng tựa lưng vào ghế vào thở ra hài lòng. Màn đêm đã luồn vào những tàng cây và tô đen bầu trời, bóng đèn trở thành những quầng sáng hồng dịu bên trong căn nhà đầm ấm. Từ những căn nhà khác trên phố vắng lại tiếng nhạc, tiếng đàn piano, tiếng sập cửa.

Mẹ đặt một đĩa hát vào máy quay, bà và cơ trưởng John Black cùng nhau khiêu vũ. Bà xức đúng loại nước hoa đã xức hồi họ gặp tai nạn tàu hỏa mùa hè ấy, ông còn nhớ. Trong vòng tay mình, ông cảm thấy bà rất thật, họ nhẹ nhàng bước theo điệu nhạc. “Không phải ngày nào ta cũng có một cơ hội thứ hai để sống,” bà nói.

“Sáng mai con sẽ tỉnh giấc,” cơ trưởng nói. “Và con sẽ lại ở trên tàu, trong không gian, và tất cả những thứ này sẽ biến mất.”

“Không, đừng nghĩ thế,” bà nhẹ nhàng thốt lên. “Đừng đặt câu hỏi. Chúa nhân từ với chúng ta. Hãy cứ vui vẻ.”

“Con xin lỗi, mẹ.”

Bài hát kết thúc bằng một tiếng rè của đĩa hát.

“Con mệt rồi, con trai.” Bố dùng tẩu chỉ lên gác. “Phòng ngủ cũ của con đang chờ đấy, chiếc giường bằng đồng và các thứ.”

“Nhưng con cần báo cho đồng đội đã.”

“Tại sao?”

“Tại sao ư? Chà, con không biết. Không có lý do gì, con nghĩ vậy. Không. Chẳng hề có lý do gì. Họ đều đang ăn hoặc đang ngủ. Một giấc ngủ ngon sẽ không làm hại đến ai.”

“Chúc ngủ ngon, con trai.” Mẹ hôn lên trán ông. “Thật tốt khi có con ở nhà.”

“Thật tốt vì được ở nhà.”

Ông rời khỏi vùng không gian ám khói xì gà cùng nước hoa, sách và thứ ánh sáng nhẹ nhàng để đi lên gác, vừa đi vừa trò chuyện hàn huyên với Edward. Edward mở ra một cánh cửa, ông thấy chiếc giường có khung bằng đồng cùng những cờ hiệu bóng bầu dục từ thời đại học và chiếc áo khoác da ẩm mốc mà ông cứ mãi vuốt ve và thầm xúc động. “Thế là quá nhiều,” cơ trưởng nói. “Em mụ mẫm và em mệt rồi. Quá nhiều thứ đã xảy ra hôm nay. Em cảm thấy như thể đã tắm mình trong một cơn mưa sầm sập suốt bốn mươi tám tiếng mà không có ô hay áo khoác. Em ướt đẫm cảm xúc.”

Edward trải bộ chăn ga trắng tuyết ra và đập gối. Anh đẩy cửa sổ lên để hương hoa nhài ban đêm thoang thoảng lọt vào phòng. Ánh trăng và tiếng khiêu vũ cùng tiếng thì thầm từ đằng xa lọt vào phòng.

“Vậy ra đây là Sao Hỏa” cơ trưởng nói và cởi quần áo.

“Đúng là nó.” Edward cũng uể oải cởi quần áo, cử động của anh thong thả, kéo áo qua đầu, để lộ đôi vai ánh vàng và cái cổ gân guốc.

Đèn tắt; họ nằm trên giường, cạnh nhau, như ngày xưa cách đây bao nhiêu thập kỷ? Cơ trưởng nằm duỗi người và hương hoa nhài đưa ông, qua tấm rèm bằng ren, ra khỏi bầu không khí tối đen trong phòng. Dưới những tán cây, trên thảm cỏ, ai đó vừa bật một chiếc máy quay đĩa xách tay và giờ đây nó đang phát ra một bài nhạc nhẹ nhàng, “Luôn luôn.”

Ý nghĩ về Marilyn xuất hiện trong tâm trí ông.

“Marilyn có ở đây không?”

Anh trai ông, nằm thẳng người dưới ánh trăng đang xuyên vào qua cửa sổ, chờ đợi một lúc rồi mới nói. “Có. Cô ấy ra ngoài thị trấn. Nhưng sáng mai cô ấy sẽ lại ở đây.”

Cơ trưởng nhắm mắt lại. “Em rất muốn gặp Marilyn.”

Căn phòng vuông vức và yên lặng, chỉ còn tiếng thở của họ.

“Chúc ngủ ngon, Ed.”

Một sự ngập ngừng. “Chúc ngủ ngon, John.”

Ông nằm trong bình yên, để cho những suy nghĩ của mình được tự do. Lần đầu tiên mọi sự căng thẳng trong ngày mới được dẹp sang một bên; bây giờ, ông có thể suy nghĩ một cách logic. Tất cả đều là cảm xúc. Ban nhạc, những gương mặt thân quen. Nhưng giờ...

Bằng cách nào? ông tự hỏi. Tất cả những thứ này được tạo ra bằng cách nào? Và tại sao? Vì mục đích gì? Vì thiện ý thánh thần nào đó? Vậy thì, liệu Chúa có thực sự chu đáo với các con chiên của người đến mức ấy? Bằng cách nào, tại sao và để làm gì?

Ông nghĩ đến những giả thuyết khác nhau mà Lustig và Hinkston đã đưa ra hồi đầu giờ chiều. Ông để cho đủ loại giả thuyết mới thong thả xuất hiện trong đầu, vần xoay và ném ra những chớp sáng mờ đục. Mẹ. Bố. Edward. Sao Hỏa. Trái Đất. Sao Hỏa. Người Sao Hỏa.

Ai đã sống trên Sao Hỏa này cách đây hàng ngàn năm? Người Sao Hỏa? Hay mọi chuyện vẫn luôn diễn ra như ngày hôm nay?

Người Sao Hỏa. Ông thầm lặp lại một cách lơ đãng.

Ông đã suýt bật cười lớn. Bỗng nhiên ông nghĩ ra giả thuyết nực cười nhất. Nó khiến ông thư giãn. Nó thực sự không có gì nghiêm túc, đương nhiên rồi. Rất khó có khả năng xảy ra. Ngớ ngẩn. Quên nó đi. Lố bịch.

Nhưng, ông nghĩ, cứ giả sử... Chỉ là giả sử thôi, rằng trên Sao Hỏa đang có người sống và họ thấy phi thuyền của mình đang tới, họ thấy mình bên trong, họ ghét mình. Giả sử, nào, cho vui thôi, rằng họ muốn hủy diệt mình, như một kẻ xâm lược, một vị khách không mời, và họ muốn làm điều đó bằng một cách cực kỳ thông minh, để mình mất cảnh giác. Chà, người Sao Hỏa sẽ dùng loại vũ khí lợi hại nhất nào để chống lại vũ khí nguyên tử của người Trái Đất nhỉ?

Câu trả lời thật thú vị. Thuật viễn cảm, thôi miên, ký ức và tưởng tượng.

Giả sử tất cả những ngôi nhà này đều không có thật, cái giường này không có thật, mà chỉ là những mảnh ghép của trí tưởng tượng của mình, được thêm chất liệu nhờ thuật viễn cảm và thôi miên của người Sao Hỏa, cơ trưởng John Black nghĩ. Giả sử những ngôi nhà này thực ra có hình dáng khác, kiểu của người Sao Hỏa, nhưng, đánh vào mong muốn khao khát của mình, những người Sao Hỏa này đã làm cho chúng giống như thị trấn quê nhà cũ của mình, ngôi nhà cũ của mình, để dụ mình bỏ hết nghi ngờ. Còn cách nào tốt hơn để đánh lừa một người, so với việc sử dụng bố và mẹ anh ta làm mồi nhử?

Và thị trấn này, quá cổ xưa, từ năm 1956, tức là rất lâu trước khi bất kỳ ai trong phi hành đoàn được sinh ra. Năm đó mình mới sáu tuổi, lại còn có những đĩa hát của Al Jolson, tranh của Maxfield Parrish vẫn còn đang treo, rèm làm bằng chuỗi hạt, bài “Ohio xinh đẹp” và lối kiến trúc từ giữa thế kỷ hai mươi. Có lẽ người Sao Hỏa chỉ lấy ký ức của riêng mình để dựng hình ảnh thị trấn? Họ nói ký ức tuổi thơ là rõ ràng nhất mà. Sau khi đã xây dựng thị trấn từ ký ức của mình, họ đưa vào đó những người thân yêu từ tâm trí của tất cả những người có mặt trên phi thuyền!

Và giả sử hai người đang ngủ ở phòng bên cạnh chẳng phải là bố mẹ mình, mà là hai người Sao Hỏa cực kỳ thông minh, có khả năng giữ cho mình luôn ở trong trạng thái bị thôi miên này.

Còn đội kèn đồng hôm nay thì sao? Thật là một kế hoạch kỳ diệu đến mức kinh ngạc. Đầu tiên lừa được Lustig, sau đó là Hinkston, sau đó một đám đông kéo đến và tất cả mọi người trên phi thuyền đã trông thấy bố mẹ, cô dì, chú bác, người yêu, những người đã chết từ mười, hai mươi năm trước. Và theo lẽ tự nhiên, họ đã bất chấp mệnh lệnh chạy ra và bỏ tàu. Còn điều gì tự nhiên hơn thế? Điều gì chắc chắn hơn thế? Điều gì đơn giản hơn thế? Chẳng ai lại hỏi quá nhiều câu hỏi khi mẹ anh ta bỗng nhiên sống lại; anh ta quả hạnh phúc. Và đêm nay tất cả chúng ta ở đây, trong những căn nhà khác nhau, trên những chiếc giường khác nhau, không có vũ khí để bảo vệ, còn con tàu thì nằm dưới ánh trăng, trống rỗng. Liệu có khủng khiếp và đáng sợ không khi phát hiện ra rằng toàn bộ chuyện này nằm trong một kế hoạch cực kỳ thông minh của người Sao Hỏa, chia nhỏ chúng tôi ra để chinh phục chúng tôi, để giết chết chúng tôi? Vào một lúc nào đó trong đêm, có lẽ, anh trai mình đây trên chiếc giường này sẽ tan chảy, định hình, biến đổi hình dáng thành một thứ khác, một thứ khủng khiếp, một người Sao Hỏa. Anh ta có thể dễ dàng quay sang đâm thẳng một nhát dao vào tim mình. Và trong tất cả các ngôi nhà khác trên phố, hàng chục người anh, người cha cũng đột nhiên biến hình, cầm dao và làm gì đó với những người Trái Đất đang ngủ, không chút nghi ngờ...

Bàn tay ông run rẩy dưới tấm chăn. Mình ông lạnh toát. Đột nhiên đó không còn chỉ là giả thuyết. Đột nhiên ông rất sợ hãi.

Ông nhổm dậy lắng nghe. Màn đêm tĩnh mịch và tiếng nhạc đã ngừng. Gió cũng không thổi nữa. Anh trai ông đang nằm ngủ bên cạnh.

Thận trọng, ông nhấc chăn lên và ém nó lại. Ông nhón dậy, ra khỏi giường và đang khẽ bước đi thì nghe tiếng người anh trai hỏi, “Em đi đâu đấy?”

“Gì cơ?”

Giọng nói của người anh trai khá lạnh lùng. “Anh hỏi, em đang đi đâu?”

“Đi uống nước.”

“Nhưng em có khát đâu.”

“Có, em có khát.”

“Không, em không khát.”

Cơ trưởng Black vùng chạy khỏi phòng. Ông hét lên. Ông hét lên hai lần.

Ông đã không ra được đến cửa.

Sáng hôm sau, đội kèn đồng chơi một điệu nhạc buồn cho lễ truy điệu. Từ các ngôi nhà trên phố bước ra những đám rước nhỏ trang nghiêm khiêng những chiếc hòm dài, và dọc theo con phố tràn đầy ánh nắng, những người bà người mẹ người chị người anh người chủ người cha vừa khóc sụt sịt vừa đi tới nghĩa trang nhà thờ, nơi có những lỗ huyệt mới đào và bia mộ mới gắn. Mười sáu lỗ huyệt và mười sáu tấm bia.

Ông thị trưởng đọc một bài điếu văn ngắn, khuôn mặt ông ta lúc thì trông giống một ông thị trưởng, lúc lại giống một thứ gì khác.

Bố mẹ của Black cũng ở đó, cùng anh trai Edward, họ khóc, khuôn mặt thân thuộc họ cũng đang tan ra thành một thứ gì khác.

Ông bà của Lustig cũng ở đó, họ khóc, khuôn mặt họ mềm ra như sáp và rung rinh như mọi thứ vẫn thường rung rinh trong những ngày nóng.

Những chiếc quan tài được hạ xuống. Ai đó lầm bầm về “cái chết đột ngột và bất ngờ của mười sáu người tốt trong đêm qua.”

Đất được ném lên nắp quan tài.

Đội kèn đồng vừa chơi bài “Columbia, viên ngọc của đại dương” vừa ồn ào diễu hành trở vào thị trấn, và mọi người về nghỉ ngơi.

❀ ❀ ❀

[1] Bài hát “Beautiful Ohio" và "April Showers”.

[2] Bài hát “June Night" của Abel Bear và Cliff Friend.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.