Gene Atlantis

Lượt đọc: 881 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 49

❊ ❊ ❊

Đâu đó trên vùng núi miền Tây Trung Quốc

Họ đã thử hạ cánh trên một cái hồ nhỏ đến ba lần liền, và Kate không chịu nổi nữa. “Tôi tưởng anh bảo anh biết lái máy bay?”

David vẫn tập trung vào bộ điều khiển. “Hạ cánh khó hơn bay nhiều.”

Theo Kate nghĩ thì hạ cánh và bay cũng như nhau, nhưng cô không nói thêm. Cô kiểm tra lại khóa đai an toàn đến lần thứ một trăm.

David chùi hơi nước đọng trên mấy bảng đồng hồ cũ rích và lại tìm cách hạ cánh một lần nữa.

Kate nghe thấy một tiếng khục khặc, rồi cảm thấy phần máy bay bên phía cô ngồi bị hẫng xuống. “Có phải anh vừa làm thế không?”

David gõ gõ lên bảng đồng hồ, đầu tiên còn nhẹ nhàng, rồi sau mạnh tay hơn. “Chúng ta hết xăng rồi.”

“Tôi tưởng anh bảo...”

“Chắc đồng hồ đo bị hỏng.” David hất đầu. “Cô ra sau đi.”

Kate bò qua người anh để vào hàng ghế sau, lần này thì không cãi cọ hay kêu ca gì nữa. Cô cài đai an toàn. Đây sẽ là lần cuối cùng họ tìm cách hạ cánh.

Động cơ thứ hai cũng hực lên một tiếng rồi chết lịm, và cái máy bay là là lướt đi trong sự im lặng đầy điềm gở.

Kate nhìn xuống, quan sát khu rừng xanh rậm rì bao quanh một hồ nước nhỏ xanh ngắt. Cảnh đẹp quá, như một vùng hoang dã nào đó ở Canada vậy. Cô biết ở dưới đó rất lạnh; hẳn họ đang ở đâu đó thuộc miền Bắc Ấn Độ hoặc Tây Trung Quốc.

Họ đã bay gần hết quãng đường qua biển, bám sát mặt nước để tránh bị ra đa phát hiện. Họ đã hướng thẳng về phía Bắc; mặt trời luôn nằm cao trên bầu trời bên phải Kate cho tới khi họ băng qua bờ biển, đâu đó ở khu vực gió mùa trũng, có lẽ là Bangladesh. Kate đã không hỏi một câu nào - mặc dù có muốn thì cô cũng chẳng hỏi được vì hai động cơ kép quá ầm ĩ. Dù họ đang ở đâu đi chăng nữa thì nó cũng là một nơi cách biệt và nguyên sơ. Nếu họ bị thương - dù chỉ là chút ít - trong lúc hạ cánh, điều đó cũng có thể nguy hiểm chết người.

Mặt hồ lao vùn vụt về phía họ. David giữ cho máy bay thăng bằng. Hay ít ra anh cũng cố sức - máy bay rõ ràng là khó điều khiển hơn nhiều khi không có sức đẩy của hai động cơ.

Những viễn cảnh đầy rủi ro lao qua tâm trí Kate. Lỡ máy bay đâm mũi xuống hồ thì sao? Quanh họ toàn là núi. Hồ có thể rất sâu - và lạnh nữa. Máy bay sẽ kéo họ xuống. Họ sẽ không bao giờ sống sót nổi ở lòng hồ băng giá đó. Và nếu họ giữ được thăng bằng thì sao? Họ sẽ làm cách nào để dừng lại? Họ sẽ đâm vào rặng cây với tốc độ tối đa. Cô tưởng tượng ra một loạt các cành cây đâm thủng người họ, như những cái ghim cắm vào hình nhân tà thuật. Hoặc hơi xăng trong bình sẽ nổ bùng chỉ với một tia lửa nhỏ xíu; nó sẽ thanh toán họ trong tích tắc.

Hai cái phao lướt bập bõm trên mặt nước, và chiếc máy bay tròng trành sang hai bên.

Một trong hai cái phao có thể đứt ra. Điều đó sẽ xé toạc chiếc máy bay - và cả họ nữa - ra thành nhiều mảnh.

Kate siết chặt sợi đai an toàn hơn. Cô có nên cởi nó ra không? Nó có thể cứa đôi người cô mất.

Hai cái phao lướt trên mặt nước lần nữa rồi lại hếch mũi lên không trung, lảo đảo vì bị hư hại.

Kate gập người tới trước, và không hiểu vì sao, cô lại quàng tay quanh cổ David, kéo chặt anh vào ghế và áp người vào lưng ghế của anh. Cô úp mặt vào gáy anh. Cô không thể nhìn tiếp nữa. Cô cảm thấy máy bay lao xuống nước dữ dội hơn. Sàn máy bay rung lắc liên tục. Cơn rung lắc chuyển sang cả những bức vách kim loại mỏng, rồi cô nghe thấy một loạt những tiếng nứt vỡ, và cô bị ném thẳng ra sau, cảm thấy gần như tức thở. Cô mở mắt ra và hít vào một hơi. Họ đã dừng lại. Có cành cây! Trong buồng lái. Đầu David gục xuống, không còn sức sống.

Kate lao tới trước nhưng sợi đai an toàn ở thắt lưng suýt nữa xé cô ra làm đôi. Mặc kệ sợi đai, cô với về phía anh. Cô lần mò trên ngực anh. Có phải một cành cây đã đâm xuyên qua anh không? Cô chẳng cảm thấy gì cả.

Anh uể oải nhấc đầu lên. “Này cô, ít ra phải mời tôi cốc rượu đã chứ.”

Kate gục xuống ghế và đẩy mạnh vai anh. Cô mừng là mình còn sống. Và cô cũng mừng là anh còn sống nữa, nhưng cô chỉ nói, “Tôi đã có những lần hạ cánh thành công hơn.”

Anh liếc nhìn cô. “Kể cả hạ cánh trên mặt nước?”

“Thật ra đây là lần đầu tiên tôi hạ cánh trên mặt nước nên, không, không phải.”

“Ừ, đây cũng là lần đầu tiên của tôi.” David tháo đai an toàn và trèo ra qua cửa hành khách. Anh đứng trên bậc và tháo ghế hành khách ra để lấy chỗ cho Kate chui ra.

“Anh nói nghiêm túc đấy à? Anh chưa bao giờ hạ cánh máy bay trên mặt nước sao? Anh mất trí rồi chắc?”

“Không, tôi nói đùa đấy. Tôi hạ cánh trên mặt nước suốt.”

“Lần nào anh cũng bị hết xăng à?”

David bắt đầu dỡ đồ từ trên máy bay xuống. “Xăng ư?” Anh ngước lên, như chợt nhớ ra gì đó. “Chúng ta có hết xăng đâu. Tôi chỉ tắt động cơ cho thêm phần kịch tính thôi. Cô biết đấy, tôi mong là cô sẽ ôm tôi từ đằng sau đấy mà.”

“Buồn cười thật.” Kate bắt đầu sắp xếp lại đồ đạc, như thể họ đã làm việc này hàng bao nhiêu năm nay. Cô liếc nhìn David. “Chắc chắn là anh có vẻ, ờ... sống động hơn so với khi ở Jakarta.” Cô đã định không nói gì, nhưng cô vẫn băn khoăn. “Ý tôi là, không phải tôi định than phiền gì...”

“Ờ thì, cô biết đấy, sống sót trước cái chết cận kề luôn khiến tôi phấn chấn hơn. Nhân tiện,” anh đưa cho cô một đầu tấm bạt rộng màu xanh. “Giúp tôi phủ cái này lên máy bay.”

Kate chui xuống bên dưới chiếc máy bay và đón lấy đầu tấm bạt khi anh ném nó sang, rồi đến bên cạnh anh ở chỗ đống nhu yếu phẩm nhỏ. Cô quay lại nhìn chiếc máy bay phủ bạt. “Chúng ta sẽ không... chúng ta có bay đi bằng...”

David mỉm cười với cô. “Không, tôi nghĩ đó là chuyến bay cuối cùng của nó rồi. Hơn nữa, nó đã hết xăng.” Anh giơ lên ba hộp TAS, xòe chúng ra như một cỗ bài. “Cô vẫn định tuyệt thực hay là cô muốn dùng một trong những món cao lương mỹ vị này?”

Kate mím môi và cúi xuống như để xem xét những hộp đồ ăn màu nâu. “Hừm. Thực đơn sáng nay có gì?”

David xoay mấy cái hộp lại. “Để xem nào, chúng tôi xin mời quý vị thưởng thức các món sau: bánh thịt xay, thịt bò xốt kem chua, và xúp mì gà.”

Bữa ăn gần đây nhất của Kate là từ hôm qua - vào cuối buổi chiều, trước khi họ trốn vào hầm tránh bom dưới căn nhà. “Thật ra tôi không đói đến thế, nhưng món xúp mì gà nghe có vẻ hấp dẫn quá.”

David xoay hộp thức ăn đó ra và xé nắp cho cô. “Lựa chọn tuyệt hảo, thưa cô. Xin đợi ít phút để món khai vị của cô được hâm nóng.”

Kate bước về phía anh. “Anh không cần hâm nóng đâu.”

“Vớ vẩn, chuyện vặt thôi mà.”

Kate ngắm nghía tấm vải bạt phủ chiếc máy bay. “Chẳng phải đốt lửa sẽ làm lộ vị trí của chúng ta... làm chúng ta gặp nguy hiểm sao...?”

David lắc đầu. “Bác sĩ thân mến, tôi thừa nhận là hôm nay chúng ta đã hơi vất vả, nhưng chúng ta không sống trong thời kỳ đồ đá và phải nấu thức ăn trong bếp lò đá như người Neanderthal đâu.” Anh lấy từ trong túi ra một thứ nhìn như một cái đèn pin nhỏ và giơ ra cho cô thấy. Anh vặn nắp và một ngọn lửa nhỏ như ở đèn khò hiện lên. Anh hơ ngọn lửa qua lại bên dưới hộp thức ăn của Kate.

Kate ngồi xổm đối diện anh và theo dõi món “xúp mì gà” sôi dần. Chắc hẳn trong đó chỉ có đậu nành hoặc một thứ gì đó thay thế thịt gà. “Ít nhất cũng không có con vật nào bị làm hại.”

David chăm chú nhìn ngọn lửa và hộp thức ăn như thể anh đang sửa một món đồ điện tinh vi vậy. “Ô, tôi nghĩ đây là thịt thật đấy. Mấy năm gần đây họ đã cải tiến loại thức ăn này rất nhiều. Hồi còn ở Afghanistan, tôi đã ăn những thứ không thể cho người ăn được. Hoặc theo như cô nói thì sẽ là không thể cho họ người ăn.”

“Ấn tượng đấy - phải, chúng ta là họ người. Hay chính xác hơn là tông người. Tông duy nhất còn tồn tại.”

“Tôi đã ôn lại lịch sử tiến hóa.” David đưa cho cô món xúp gà đã được hâm nóng, rồi mở một hộp khác - bánh thịt xay - và ăn nguội luôn.

Kate khuấy món xúp bằng cái thìa pha dĩa và rón rén ăn thử vài miếng. Không tệ lắm. Hay là cô đã quen với mùi vị kinh khủng của nó? Cũng chẳng quan trọng gì. Cô húp từng ngụm xúp trong lúc họ lặng lẽ ăn. Mặt hồ yên ả, và khu rừng rậm xanh rì quanh họ ngả nghiêng trong gió, thỉnh thoảng lại kẽo kẹt khi những sinh vật giấu mặt nhảy từ cành này sang cành kia. Nếu không phải vì những sự kiện đáng sợ của hôm qua thì họ chẳng khác gì hai người đi cắm trại giữa thiên nhiên hoang dã; và trong thoáng chốc, Kate cảm thấy như thế thật. Cô ăn nốt ngụm xúp cuối cùng sau David một phút, rồi anh đón lấy cái hộp không và nói, “Chúng ta nên đi thôi, chỉ còn ba mươi phút nữa là đến giờ hẹn với đầu mối rồi.” Và thế là sự bình yên và vô hại của khung cảnh thiên nhiên lập tức biến mất. David đeo một cái túi nặng lên vai và giấu rác rưởi của họ dưới tấm bạt.

Anh bước nhanh trong lúc họ đi bộ qua khu rừng trên núi, làm Kate phải vất vả lắm mới theo kịp và giấu được hơi thở hổn hển của mình. Anh khỏe hơn cô nhiều. Thỉnh thoảng anh mới dừng bước, vẫn hít thở bằng mũi, trong lúc Kate phải quay đi, hít từng hơi bằng miệng.

Đến lần nghỉ thứ ba, anh tựa lưng vào một thân cây và nói, “Tôi biết cô chưa sẵn sàng kể cho tôi nghe về nghiên cứu của cô, nhưng hãy cho tôi biết điều này: cô nghĩ tại sao Immari lại bắt hai đứa bé ấy?”

“Thực ra tôi đã nghĩ rất nhiều về chuyện đó từ lúc ở Jakarta.” Kate cúi xuống và chống tay lên đầu gối. “Một số điều Martin nói với tôi, những câu chúng tra hỏi tôi, chúng chẳng có nghĩa lý gì cả.”

“Ví dụ?”

“Ông ấy nói có một loại vũ khí gì đó, một loại siêu vũ khí, có thể xóa sổ cả nhân loại...”

David đứng thẳng lên. “Ông ấy có nói...?”

“Không, ông ấy không nói gì nữa cả. Chỉ toàn là những lời vớ vẩn hoang đường. Nào là các thành phố bị mất, rồi di truyền học và... còn gì nữa nhỉ?” Kate lắc đầu. “Ông cho rằng trẻ em mắc chứng tự kỷ có thể là một mối đe dọa, rằng chúng là bước tiếp theo trong quá trình tiến hóa của loài người.”

“Điều đó có thể không? Chuyện tiến hóa ấy?”

“Tôi không biết nữa. Có thể. Chúng ta đã biết là bước đột phá lớn gần đây nhất trong tiến hóa là sự thay đổi trong hoạt động não của loài người. Nếu chúng ta xem xét hệ gen của con người cách đây một trăm ngàn năm và con người cách đây năm mươi ngàn năm, ta sẽ không thấy nhiều thay đổi về mặt di truyền, nhưng chúng ta biết rằng những gen có thay đổi đã đem lại ảnh hưởng to lớn - chủ yếu trong cách suy nghĩ của chúng ta. Loài người bắt đầu biết dùng ngôn ngữ và biết phân tích để giải quyết vấn đề thay vì chỉ hành động theo bản năng. Tóm lại là bộ não bắt đầu hoạt động như một chiếc máy tính, chứ không chỉ đơn thuần là một trung tâm xử lý các phản xạ nữa. Vẫn còn nhiều tranh cãi quanh việc này, nhưng có bằng chứng cho thấy một thay đổi nữa trong hoạt động não đang diễn ra. Chứng tự kỷ chính là một thay đổi trong hoạt động não, và số lượng các ca được chẩn đoán là mắc chứng tự kỷ đang tăng vọt. Chỉ riêng ở Mỹ, lượng này đã tăng năm trăm phần trăm trong vòng hai mươi năm vừa qua. Cứ tám mươi tám người Mỹ thì có một người thuộc phổ tự kỷ. Sự tăng vọt này một phần là vì kỹ thuật chẩn đoán đang tốt hơn, nhưng rõ ràng chứng tự kỷ đang lan rộng - ở mọi nước trên thế giới. Các nước phát triển có vẻ bị ảnh hưởng nặng nề nhất.”

“Tôi không hiểu. Chứng tự kỷ thì có liên quan gì đến di truyền tiến hóa?”

“Chúng ta biết là hầu hết các dạng tự kỷ đều có phần nào liên quan mật thiết đến di truyền. Tất cả các dạng tự kỷ đều có nguyên nhân là một khác biệt trong hoạt động não, do một nhóm gen nhỏ gây ra. Nghiên cứu của tôi tập trung vào việc các gen đó ảnh hưởng đến hoạt động não như thế nào - và quan trọng hơn, một liệu pháp gen có thể làm cách nào để bật hoặc tắt các gen giúp trẻ mắc bệnh có khả năng giao tiếp tốt hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống của chúng. Có rất nhiều người trong phổ tự kỷ vẫn sống độc lập và hạnh phúc. Ví dụ, những người bị chẩn đoán là mắc hội chứng Asperger [[1]] chỉ đơn giản là gặp khó khăn khi giao tiếp và thường rất tập trung vào một lĩnh vực nào đó mà họ quan tâm - ví dụ như là máy tính, truyện tranh, hoặc tài chính, và tất cả các lĩnh vực khác mà anh có thể nghĩ ra. Nhưng nó không nhất thiết là một hạn chế đối với họ. Thực ra, ngày nay, càng chuyên biệt thì lại càng dễ thành công. Anh thử xem danh sách của Forbes mà xem - nếu kiểm tra những người đã kiếm được cả gia tài nhờ máy tính, công nghệ sinh học và tài chính thì tôi đảm bảo phần lớn họ sẽ nằm trong phổ tự kỷ. Nhưng họ đã gặp may -họ đã thắng cuộc xổ số di truyền. Não họ hoạt động theo một cách khiến họ có thể giải quyết những vấn đề phức tạp đồng thời lại có đủ khả năng giao tiếp để sống được giữa xã hội. Đó là điều tôi đang cố làm, cho lũ trẻ đó một cơ hội tốt hơn trong cuộc sống.” Kate đã lấy lại được hơi thở, nhưng cô vẫn nhìn xuống.

“Đừng nói thế. Đừng nói như thể tất cả đã kết thúc. Đi tiếp thôi. Ta còn mười lăm phút.”

Họ bước tiếp, và lần này thì Kate theo kịp. Năm phút trước giờ hẹn, rừng thưa dần và một nhà ga rộng hiện ra trong tầm mắt họ.

“Trông nó chẳng có vẻ gì là bị bỏ hoang cả,” Kate nói.

Trước mắt họ, nhà ga đầy người, tất cả đều mặc áo blu trắng, đồng phục bảo vệ và các loại đồng phục khác. David và Kate chắc chắn sẽ nổi bật giữa đám đông đang tiến vào ga.

“Nhanh lên, trước khi họ thấy ta từ trong rừng đi ra.”

[1] Hội chứng rối loạn phổ tự kỷ.

Dịch giả Lê Minh Đức
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.