Gene Atlantis

Lượt đọc: 881 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 88

❊ ❊ ❊

Ngày 24 tháng 12, 1917

Helena bừng sáng trong chiếc váy. Người thợ may đã mất cả tuần để nới nó ra và tôi đã tốn một gia tài nho nhỏ, nhưng quãng thời gian chờ đợi và số tiền ấy cũng đáng. Nhìn nàng thật lộng lẫy. Chúng tôi khiêu vũ cùng nhau, cả hai đều không để ý đến lời hứa của nàng là sẽ không quá đà. Tôi không thể từ chối nàng được. Chủ yếu là tôi đứng yên, nhưng cơn đau có thể chịu đựng được, và có lẽ đây là lần duy nhất trong đời chúng tôi bắt kịp nhau trên sàn khiêu vũ. Nhạc chậm lại, nàng ngả đầu lên vai tôi, và tôi quên đi sinh vật nửa người nửa vượn trong cái ống. Thế giới đã trở lại bình thường, lần đầu tiên kể từ khi đường hầm ở Mặt trận phía Tây nổ tung.

Thế rồi, cũng như màn khói trong cái ống, tất cả biến mất. Âm nhạc dừng lại, và Huân tước Barton đang vừa nói vừa nâng cốc. Ông ta nâng cốc chúc mừng tôi - giám đốc vận chuyển mới của Immari, chồng của con gái ông ta, và một anh hùng chiến tranh. Những cái đầu gật gù quanh phòng. Ai đó nói đùa về một Lazarus [[1]] thời hiện đại, trở về từ cõi chết. Có tiếng cười lớn. Tôi mỉm cười. Helena kéo tôi lại gần hơn. Barton cuối cùng cũng nói xong, và quanh phòng, những người dự tiệc uống sâm panh và gật đầu với tôi. Tôi ngượng nghịu cúi đầu và dẫn Helena về bàn của chúng tôi.

Đúng lúc đó, vì một lý do nào đó mà tôi không hiểu nổi, tôi bỗng nghĩ tới lần cuối tôi gặp cha tôi - trước hôm tôi ra trận. Đêm đó, ông đã uống say mèm và mất tự chủ - lần đầu, cuối, và duy nhất tôi thấy ông mất tự chủ. Đêm đó, ông đã kể cho tôi nghe về thời thơ ấu của ông, và tôi đã hiểu ông, hay ít ra tôi cũng nghĩ như vậy. Ta có thể hiểu một người đến mức nào?

Chúng tôi sống trong một căn nhà đơn sơ ở trung tâm Charleston, bang Tây Virginia, cạnh nhà các công nhân của cha tôi. Các đồng bạn của ông - những giám đốc, thương gia và chủ ngân hàng - sống phía bên kia thành phố, và cha tôi thích như vậy hơn.

Ông đi đi lại lại quanh phòng khách, nói văng cả nước bọt. Tôi ngồi đó trong bộ quân phục Mỹ mới tinh màu nâu cát, với một vạch đồng của cấp bậc thiếu úy gắn trên cổ áo.

“Nhìn mày cũng ngu ngốc như một người đã nhập ngũ mà ta biết. Ông ấy gần như phát cuồng lên khi chạy về túp lều gỗ. Ông ấy vẫy vẫy lá thư như thể nó được viết bởi nhà vua vậy. Ông ấy đọc thư cho chúng ta nghe, nhưng khi đó ta chẳng hiểu gì. Chúng ta sẽ chuyển đến Mỹ - đến một nơi gọi là Virginia. Cuộc chiến giữa các bang đã nổ ra chừng hai năm trước. Ta không nhớ chính xác là bao giờ nữa, nhưng khi đó cuộc chiến đã khá là đẫm máu. Và cả hai bên đều cần thêm lính, những thân xác mới để nhồi vào cối xay thịt. Nhưng nếu người nào đủ giàu, họ sẽ không phải đi lính. Họ chỉ việc thuê người khác đi thay. Một tay chủ đồn điền giàu có người miền Nam đã thuê ông nội mày làm người thay thế. Một kẻ thay thế. Thử nghĩ xem, ta có thể thuê người khác chết trận thay cho mình chỉ vì có lắm tiền. Khi họ đưa ra chế độ cưỡng bách tòng quân trong cuộc chiến lần này, ta sẽ đảm bảo không kẻ nào có thể cử người đi thay được.”

“Họ sẽ không cần lính nghĩa vụ. Hàng ngàn người can đảm đang tự nguyện nhập ngũ...”

Ông cười phá lên và rót một ly rượu nữa. “Hàng ngàn người can đảm. Một tàu hỏa chất đầy lũ ngốc thì có - nhập ngũ chỉ vì nghĩ sẽ được vinh quang, được danh tiếng và mạo hiểm. Chúng đâu có biết cái giá của chiến tranh. Cái giá ta phải trả.” Ông lắc đầu và uống một hơi dài, gần cạn ly. “Tin tức sẽ nhanh chóng lan ra, và rồi họ sẽ phải bắt quân dịch thôi, như các bang đã làm thời Nội chiến ấy. Mới đầu họ không phải làm thế, mà phải mấy năm sau khi chiến tranh bắt đầu, khi người ta đã nếm đủ mùi, đến lúc đó họ mới bắt tòng quân và những người giàu mới bắt đầu viết thư cho những người nghèo như cha của ta. Nhưng thư tín đi rất chậm ở miền biên giới Canada, nhất là nếu ta là một thợ đốn củi sống xa thị trấn. Đến khi chúng ta tới được Virginia thì tay chủ đồn điền đó đã thuê một người khác, nói vì lão không có thư trả lời của cha ta nên lão sợ mình sẽ phải tự đầu quân, lạy trời. Nhưng chúng ta đã ở Virginia và cha ta quyết tâm ra trận để kiếm tiền - những người đi lính thế chân được trả đến gần một ngàn đô - và đó đúng là một gia tài, nếu ta còn sống sót trở về. Nhưng ông ấy đã không làm được. Ông ấy tìm được một tay chủ đồn điền khác bị gọi vào quân ngũ, và ông đã mặc bộ quân phục xám khốn nạn ấy rồi chết trong bộ quân phục đó. Khi miền Nam thua, xã hội tan rã, và khoảnh đất lớn ông nội mày được hứa trả công cho đã bị mua bởi một tên bị thảm [[2]] người miền Bắc trên bậc thềm tòa án hạt, với giá rẻ như bèo.” Cuối cùng cha tôi cũng ngồi xuống với ly rượu rỗng.

“Nhưng đó chỉ là nỗi kinh hoàng cỏn con nhất của thời kỳ tái thiết. Ta đã phải chứng kiến người anh trai duy nhất của mình chết vì thương hàn trong lúc bọn lính Liên bang miền Bắc đến chiếm đóng và ăn uống bằng sạch cho chúng ta đổ nhà đổ cửa - mà đấy đâu phải là nhà, chỉ là một túp lều tạm bợ ở đồn điền. Người chủ mới đuổi chúng ta đi, nhưng mẹ ta đã thỏa thuận: bà sẽ làm việc trên đồng nếu chúng ta được ở lại. Và bà đã làm thế. Bà làm việc quần quật trên đồng cho tới chết. Năm mười hai tuổi, ta rời đồn điền và bắt xe đi nhờ đến Tây Virginia. Công việc ở mỏ rất khó kiếm nhưng họ cần mấy thằng nhóc con, càng nhỏ càng tốt - để bò qua những chỗ hẹp. Cái giá của chiến tranh là thế đấy. Giờ thì mày đã biết rồi. Ít ra mày cũng không có gia đình. Nhưng đó là cái chờ đợi mày ở phía trước: cái chết và nỗi khốn khổ. Nếu mày có bao giờ tự hỏi vì sao ta lại nghiêm khắc với mày đến thế, tại sao ta lại tằn tiện đến thế, tại sao ta lại đòi hỏi nhiều như thế - thì đó chính là lý do đấy. Cuộc sống rất khắc nghiệt - với tất cả mọi người - nhưng nó sẽ là địa ngục trần gian nếu ta ngu ngốc hoặc yếu đuối. Ta đã đảm bảo mày không ngu ngốc hay yếu đuối, thế mà mày trả ơn ta thế này đây.”

“Cuộc chiến này khác...”

“Tất cả mọi cuộc chiến đều giống nhau. Chỉ có tên người chết là thay đổi thôi. Mọi cuộc chiến đều vì cùng một lý do: những kẻ giàu có nào sẽ được chia chiến lợi phẩm. Người ta gọi nó là ‘Cuộc chiến vĩ đại’ - quảng cáo giỏi đấy. Đây là một cuộc Nội chiến châu Âu, câu hỏi chỉ khác ở chỗ là ông hoàng bà chúa nào sẽ chia phần lục địa ấy sau khi cuộc chiến kết thúc mà thôi. Nước Mỹ chẳng liên quan gì đến đó, vì thế ta mới bỏ phiếu chống lại nó. Người châu Âu đã đủ khôn ngoan để tránh xa cuộc nội chiến của chúng ta, thế mà chúng ta không biết làm điều tương tự. Toàn bộ chuyện này chỉ là tranh cãi nội bộ giữa các gia đình hoàng tộc, họ toàn dây mơ rễ má với nhau hết.”

“Và họ có dây mơ rễ má với chúng ta. Mẫu quốc của chúng ta đang bị dồn vào chân tường. Họ cũng sẽ đến giúp chúng ta nếu chúng ta sắp bị diệt vong.”

“Chúng ta chẳng nợ họ gì hết. Nước Mỹ là của chúng ta. Chúng ta đã trả giá cho mảnh đất này bằng mồ hôi, máu và nước mắt - đó là thứ tiền bạc duy nhất có ý nghĩa.”

“Ở đó họ rất cần thợ mỏ. Chiến tranh đường hào có thể kết thúc cuộc chiến này sớm hơn. Cha muốn con ở nhà ư? Con có thể cứu sống nhiều người.”

“Mày chẳng thể cứu được ai hết.” Ông tỏ vẻ phẫn nộ. “Mày chẳng hiểu một lời nào ta vừa nói, phải không? Cút đi. Và nếu có sống sót trở về sau cuộc chiến thì cũng đừng quay về đây nữa. Nhưng vì những gì ta đã làm cho mày, hãy làm một điều này cho ta. Khi nhận ra mày đang tham gia vào cuộc chiến của kẻ khác, hãy bỏ đi. Và đừng lập gia đình cho tới khi mày cởi bộ quân phục ấy ra. Đừng có tàn nhẫn và tham lam như ông nội mày. Chúng ta đã bước qua miền Bắc bị tàn phá để đến cái đồn điền ấy ở Virginia. Ông biết ông đang tham gia vào chuyện gì, vậy mà ông vẫn lao vào. Khi nào được tận mắt chứng kiến chiến tranh thì mày sẽ hiểu. Hãy đưa ra những lựa chọn khôn ngoan hơn cái lựa chọn của mày hôm nay.” Ông bước ra khỏi phòng, và tôi không bao giờ gặp lại ông nữa.

Tôi quá chìm đắm trong ký ức ấy đến nỗi tôi gần như không nhận ra đám người đang đi qua trước mặt chúng tôi, tự giới thiệu và khẽ chạm vào bụng Helena. Chúng tôi ngồi đó như một cặp vợ chồng hoàng gia tại một sự kiện quốc gia nào đó. Có hàng chục nhà khoa học, chắc hẳn đến để nghiên cứu căn phòng chúng tôi mới phát hiện. Tôi gặp mặt giám đốc các chi nhánh Immari ở nước ngoài. Tổ chức này quả là khổng lồ. Konrad Kane tiến lại. Chân tay ông ta cứng đờ, lưng thẳng đuỗn, như thể ông ta đang bị chọc ngoáy bởi một dụng cụ vô hình nào đó. Ông ta giới thiệu người phụ nữ đứng bên cạnh - vợ ông ta. Bà có nụ cười nồng ấm và giọng nói dịu dàng, khiến tôi bất ngờ. Tôi thấy hơi ngượng vì cách cư xử thô lỗ của mình. Một thằng bé chạy ra từ sau lưng bà và nhảy vào lòng Helena, đè lên bụng nàng. Tôi túm tay nó, giật nó ra khỏi người nàng và ném nó xuống đất. Mặt tôi đầy giận dữ, và thằng bé nhìn như sắp khóc. Konrad nhìn vào mắt tôi, nhưng vợ ông ta đã vòng tay quanh thằng bé và mắng nó, “Cẩn thận chứ, Dieter. Cô Helena đang có mang.”

Helena ngồi thẳng dậy và đưa tay về phía thằng bé. “Không sao đâu. Đưa tay cho cô, Dieter.” Nàng nắm tay thằng bé kéo về phía mình và đặt tay nó lên bụng nàng. “Cháu cảm thấy không?” Thằng bé ngước lên nhìn Helena và gật đầu. Nàng mỉm cười với nó. “Cô còn nhớ khi cháu ở trong bụng mẹ cháu. Cô còn nhớ ngày cháu ra đời.”

Huân tước Barton bước ra giữa Konrad và tôi. “Đến lúc rồi.” Ông ta nhìn người phụ nữ và thằng bé đang đặt tay lên cái bụng tròn của Helena. “Xin phép các bà.”

Barton dẫn chúng tôi qua đại sảnh, đến một phòng họp lớn.

Các tông đồ của ngày tận thế đang ở đây đợi chúng tôi: Rutger, Mallory Craig và một đám người nữa, chủ yếu là các nhà khoa học và nhà nghiên cứu. Họ vội vã giới thiệu. Rõ ràng là họ chẳng lấy gì làm ấn tượng với tôi. Họ chúc mừng và tán tụng một hồi nữa như thể chúng tôi đã chữa được dịch hạch; rồi họ bắt đầu vào việc.

“Khi nào thì chúng ta sẽ vào được bên trong - trên đỉnh bậc thang?” Konrad hỏi.

Tôi biết mình muốn nói gì, nhưng trí tò mò đã lấn át tôi. “Thế còn những thiết bị trong căn phòng chúng tôi tìm thấy thì sao?”

Một nhà khoa học lên tiếng. “Chúng tôi vẫn còn đang nghiên cứu. Chắc là một dạng ống đông lạnh.”

Tôi cũng đoán như vậy, nhưng nghe một nhà khoa học nói ra thì có vẻ đỡ điên rồ hơn nhiều. “Căn phòng đó là một phòng thí nghiệm ư?”

Các nhà khoa học gật đầu. “Phải. Chúng tôi tin rằng tòa nhà đó là một tòa nhà khoa học, có lẽ toàn bộ là một phòng thí nghiệm khổng lồ.”

“Giả sử nó không phải là một tòa nhà thì sao?”

Nhà khoa học kia có vẻ bối rối. “Không thì nó còn là gì được nữa?”

“Một con tàu,” tôi nói.

Barton bật cười và vui vẻ nói. “Đùa hay đấy, Patty. Sao anh không tập trung vào chuyện khai quật và để việc khoa học cho các ông đây lo?” Ông ta gật đầu với các nhà khoa học, vẻ khen ngợi. “Ta đảm bảo họ giỏi việc đó hơn anh đấy. Giờ thì, Rutger đã nói là anh đang lo về chuyện nước và khí có thể tràn lên trên cầu thang. Kế hoạch của anh là gì?”

Tôi vẫn khăng khăng. “Các bức tường, bên trong công trình đó. Chúng giống như vách ngăn trên tàu thủy.”

Nhà khoa học chủ tọa ngần ngừ, rồi nói, “Đúng thế. Nhưng chúng quá dày, phải đến gần mét rưỡi. Không con tàu nào cần vách dày như thế cả, nó sẽ không thể nổi được. Ngoài ra, nó còn quá lớn để có thể là một con tàu. Đó là một thành phố; chúng tôi khá chắc chắn như vậy. Rồi còn có cả những bậc thang nữa. Bậc thang trên tàu thủy thì thật là lạ.”

Barton giơ tay lên. “Chúng ta sẽ giải đáp những bí mật ấy khi chúng ta đã vào được bên trong. Anh dự kiến là mất bao lâu, Pierce?”

“Tôi không thể dự kiến được.”

“Vì sao không?”

Trong thoáng chốc, tâm trí tôi trở lại cái đêm ở Tây Virginia, rồi tôi lại trở về căn phòng này, nhìn thẳng vào Hội đồng Immari và các nhà khoa học. “Bởi vì tôi không muốn tiếp tục khai quật nữa. Tìm người khác đi,” tôi nói.

“Nghe này, con trai, đây không phải là một câu lạc bộ vớ vẩn anh có thể tham gia rồi bỏ khi phí hội viên trở nên quá nặng nề. Anh sẽ làm cho xong việc này và giữ đúng lời hứa,” Huân tước Barton nói.

“Tôi nói tôi sẽ đưa các ngài vào trong và tôi đã làm vậy. Đây không còn là cuộc chiến của tôi nữa. Giờ tôi đã có gia đình rồi.”

Barton đứng dậy định quát, nhưng Kane túm lấy tay ông ta và đến giờ mới lên tiếng. “Cuộc chiến. Dùng từ thú vị đấy. Cho tôi biết, anh Pierce, anh nghĩ trong cái ống cuối cùng đó có gì?”

“Tôi không biết và cũng không quan tâm.”

“Anh nên quan tâm,” Kane nói. “Nó không phải là người, và không khớp với bất kỳ hóa thạch xương nào chúng ta đã tìm thấy.” Ông ta chờ đợi phản ứng của tôi. “Để tôi rút ra kết luận cho anh nghe, vì anh có vẻ không thể hoặc không muốn làm vậy. Ai đó đã xây dựng công trình này - một công trình kỹ thuật tiên tiến nhất trên hành tinh này. Và họ đã xây nó cách đây hàng ngàn năm, có lẽ là hàng trăm ngàn năm trước. Sinh vật đông lạnh nửa người nửa vượn đó đã ở trong đó suốt bao nhiêu ngàn năm thì chẳng ai biết được. Nó đang chờ đợi.”

“Chờ đợi cái gì?”

“Chúng tôi không biết, nhưng tôi có thể đảm bảo với anh rằng khi nó và những người xây dựng nên công trình đó tỉnh dậy, loài người trên hành tinh này coi như là xong đời. Anh nói đây không phải là cuộc chiến của anh, nhưng đúng đấy. Anh không thể chạy trốn khỏi cuộc chiến này, không thể tránh khỏi nó hay bỏ đi nơi khác, bởi vì kẻ thù này sẽ đuổi theo chúng ta tới tận mọi ngóc ngách của thế giới và tiêu diệt chúng ta.”

“Ông cho rằng họ thù địch. Bởi vì ông thù địch, bởi vì trong ý nghĩ của ông lúc nào cũng chỉ có tiêu diệt, chiến tranh và quyền lực nên ông nghĩ họ cũng như vậy.”

“Điều duy nhất chúng ta biết chắc là: thứ đó là một giống người gì đó. Các suy đoán của tôi đều hợp lý. Và thực tiễn. Giết họ thì chúng ta sẽ sinh tồn. Làm bạn với họ thì không.”

Tôi cân nhắc điều ông ta vừa nói, và tôi lấy làm hổ thẹn khi phải thừa nhận rằng tôi thấy cũng có lý.

Kane dường như đã nhận ra vẻ do dự của tôi. “Anh biết là đúng thế mà, Pierce. Họ thông minh hơn chúng ta, thông minh hơn nhiều. Nếu họ để chúng ta sống sót, cho dù chỉ là vài người đi chăng nữa, thì chúng ta cũng sẽ chỉ là lũ thú cưng đối với họ. Có lẽ họ sẽ phối giống cho chúng ta trở thành ngoan ngoãn và thân thiện, cho chúng ta ăn bên đống lửa trại mà ai cũng biết đấy, lọc bỏ những người hung hãn, cũng như chúng ta đã thuần hóa chó sói thành chó nhà cách đây hàng ngàn năm. Họ sẽ rèn cho chúng ta vào quy củ đến độ chúng ta không tưởng tượng nổi việc phản kháng lại, chúng ta sẽ không tự đi săn, không tự kiếm ăn được. Có lẽ chuyện này đang xảy ra rồi mà chúng ta còn chưa biết. Hoặc có lẽ họ sẽ nghĩ chúng ta không dễ thương đến thế. Chúng ta sẽ trở thành nô lệ của họ. Tôi tin là anh quen thuộc với khái niệm này. Một nhóm người tàn bạo nhưng thông minh với công nghệ tiên tiến nô dịch hóa một nhóm ít tiên tiến hơn. Nhưng lần này, cảnh nô dịch ấy sẽ kéo dài vĩnh viễn; chúng ta sẽ không bao giờ phát triển hay tiến hóa xa hơn được. Thử nghĩ xem. Nhưng chúng ta có thể ngăn chặn kết cục ấy. Nghe có vẻ tàn nhẫn khi giết họ trong giấc ngủ như thế, nhưng thử nghĩ xem, nếu không thì chuyện gì sẽ xảy ra. Chúng ta sẽ được ca ngợi là những anh hùng khi lịch sử biết được sự thật. Chúng ta đã trả tự do cho toàn nhân loại, là những người giải phóng...”

“Không. Dù chuyện gì xảy ra sau đây đi chăng nữa, tôi cũng sẽ không tham gia.” Tôi không thể gạt được hình ảnh khuôn mặt Helena ra khỏi tâm trí, không thể gạt được cái ý nghĩ ôm đứa con của chúng tôi trên tay, được sống cùng nhau tới già bên một cái hồ nào đó, dạy lũ cháu câu cá vào mùa hè. Tôi không thể thay đổi được kế hoạch của hội Immari. Họ sẽ tìm ra một thợ mỏ khác. Có lẽ họ sẽ bị chậm vài tháng, nhưng thứ nằm dưới đó sẽ đợi họ.

Tôi đứng dậy rồi nhìn thẳng vào Kane và Barton một hồi lâu. “Xin các vị thứ lỗi. Vợ tôi đang có mang, và tôi phải đưa cô ấy về nhà.” Tôi chú mục vào Barton. “Chúng tôi sắp chào đón đứa con đầu lòng. Chúc các vị may mắn với dự án này. Như các vị đã biết đấy, tôi là một người lính. Và lính tráng luôn biết giữ bí mật. Cũng giỏi như khi họ chiến đấu vậy. Nhưng tôi mong những ngày chiến đấu của mình đã nằm lại phía sau.”

David ngồi dậy. “Tôi biết chúng đang làm gì.”

“Ai cơ?”

“Bọn Immari. Giao thức Toba. Giờ thì tôi hiểu rồi. Chúng đang xây dựng một đội quân. Tôi dám cá đấy. Chúng nghĩ loài người đang phải đối mặt với một kẻ thù tiên tiến. Giao thức Toba, giảm dân số, tạo ra nút thắt di truyền và một Bước Đại Nhảy Vọt thứ hai - tất cả là để tạo ra một giống lính siêu việt, những con người tiên tiến hơn để chống lại thứ ở Gibraltar.”

“Cũng có thể. Còn một điều nữa. Ở Trung Quốc có một thiết bị gì đó. Tôi nghĩ nó có liên quan gì đó đến việc này,” Kate nói.

Cô kể cho David nghe về chuyện cô đã trải qua ở Trung Quốc, về cái vật hình chuông đã tàn sát tất cả mọi đối tượng trước khi tan chảy và nổ tung.

Khi cô kể xong, David gật đầu. “Tôi nghĩ tôi biết nó là cái gì rồi.”

“Thật ư?”

“Ừ. Có lẽ. Cô đọc tiếp đi.”

[1] Lazarus xứ Bethany là một nhân vật trong Kinh Thánh, được Chúa Jesus hồi sinh sau khi chết.

[2] Từ miệt thị chỉ những người miền Bắc chuyển xuống miền Nam để kiếm lời trong thời kỳ tái thiết sau Nội chiến Mỹ (1863-1877), xuất phát từ những chiếc túi rẻ tiền may bằng thảm (carpet bag) mà họ thường xách theo.

Dịch giả Lê Minh Đức
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.