Những báo cáo sơ bộ mà đội chiêm tinh gia ở văn phòng chuẩn tướng Majid chuẩn bị từ tối hôm trước nói về những hình thù ma quái tập trung trên cầu Imams bắc qua sông Tigris giữa quận Kadhimiya và Adamiya. Chuẩn tướng nghi ngờ rằng nhóm thầy bói và chiêm tinh gia đã nhầm lẫn những hình thù ma quái này với những người trong hai ngày qua đã khởi hành từ nhiều nơi trên Baghdad hướng tới Kadhimiya để dự lễ kỷ niệm ngày mất của lãnh tụ Hồi giáo Musa al-Kadhim.
Báo cáo cuối cùng từ chiêm tinh gia bậc thầy đến vào buổi trưa, trong một phong bì màu hồng, nó đưa ra con số ước lượng cho những hình thù ma quái này: cỡ một nghìn. Khi chuẩn tướng đọc báo cáo, màn hình ti vi cỡ lớn trong đại văn phòng của ông chợt hiện tin nóng về vụ hàng chục người thiệt mạng trên cầu Imams. Lời đồn về một kẻ đánh bom liều chết trong số những người hành hương đã gây ra hoảng loạn, khiến một số người hành hương bị giẫm đạp tới chết trong khi số khác gieo mình xuống sông và chết chìm.
Chuẩn tướng tức giận vì đã không thể làm gì để ngăn thảm họa xảy ra. Rồi ông nhớ đến một chuyện làm ông thậm chí còn giận dữ hơn: ông luôn cung cấp thông tin có giá trị, thế nhưng chính quyền lại không tận dụng được nó. Ông đã gửi báo cáo về nhiều tên tội phạm, sau khi thận trọng xác nhận vị trí của chúng, nhưng không một kẻ nào bị bắt, hoặc giả nếu chúng có bị bắt, thì một quan chức nào đó ở Vệ binh Quốc gia hoặc Bộ Nội vụ sẽ xuất hiện trên ti vi hoặc trước thuộc cấp của ông và nhận hết công trạng về thành công của chiến dịch an ninh, mà không mảy may nhắc đến Cục Theo dấu và Truy nã luôn chẻ sợi tóc làm tư hay công việc đầy mẫn cán của một đội được dẫn đầu bởi một người tận tụy và cẩn mật gọi là chuẩn tướng Sorour Majid.
Ông chủ yếu qua đêm ở văn phòng. Ông có một căn phòng nhỏ như một gian phụ của văn phòng lớn, chỉ có giường và tủ quần áo. Mọi thứ ông cần đều ở đó - trừ thân xác phụ nữ, nhưng ông không hay nghĩ về điều đó lắm. Ông còn mải nghĩ về thành công và về việc tiếp tục cái vai trò “không thể thay thế” và “không thể thiếu được”. Ông đang đợi để tiến hành thành công một cuộc lật đổ ngoạn mục với dấu ấn cá nhân để có thể được thăng tiến lên vị trí cao hơn. Một cuộc lật đổ theo nghĩa bắt được một tên tội phạm vốn là nỗi đe dọa với tất cả người dân. Đó là những gì ông đã nung nấu suốt hai tháng nay. Đội chiêm tinh gia cùng các nhà phân tích mà ông đứng đầu đã tìm cách xâu chuỗi tất cả thông tin hiện có về những vụ giết người kỳ lạ ở Baghdad, và mọi dấu hiệu đó dẫn tới một thủ phạm duy nhất. Trong mỗi vụ án đều có một nạn nhân, và nạn nhân thường bị bóp cổ. Mô tả của nhân chứng hầu hết đều thống nhất về diện mạo thủ phạm.
Chuẩn tướng đã đi tới kết luận rằng một kẻ duy nhất đứng sau tất cả những tội ác này. Thông thường mỗi ngày có một hai vụ như thế xảy ra, và nhiều ngày nhiều tháng trôi qua, con số này trở nên chồng chất. Một ngày trước khi những hình thù ma quái xuất hiện trên cầu Imams, chiêm tinh gia bậc thầy đã mang tới cho chuẩn tướng tin tốt lành: ông ta đã tìm ra thủ phạm. Ông ta đã bắt djinn cùng các linh thú làm nô lệ, tận dụng các bí mật chiêm tinh Babylon và khoa học của tôn giáo Saba và Manda để tìm ra khí chất của cái tên bao quanh thân thể thủ phạm.
“Đó là… đó là Kẻ Không Tên,” chiêm tinh gia bậc thầy nói, giơ hai cánh tay lên trời - điệu bộ rất hợp với vẻ ngoài phô trương của ông ta: bộ râu trắng dài nhọn, mũ cao hình chóp và áo choàng tung tẩy.
“Thế tức là sao, cái Kẻ Không Tên ấy? Rốt cuộc tên hắn là gì?”
“Kẻ Không Tên,” chiêm tinh gia bậc thầy đáp, lùi vài bước rồi quay đi rời khỏi văn phòng của chuẩn tướng. Chuẩn tướng không ngăn ông ta lại hay yêu cầu ông ta cung cấp thêm thông tin, vì ông đã quá quen với những hành vi kỳ lạ trong cục này rồi, và ông phải đối xử với những chiêm tinh gia ấy thật nhẹ nhàng, bởi họ là nguồn tin chính của ông. Chuẩn tướng trầm ngâm nghĩ ngại: Ngày mai Kẻ Không Tên có thể trở thành Kẻ Không Danh Tính, rồi Kẻ Không Thân Xác, rồi Kẻ Không Thể Bị Bắt Và Bỏ Tù.
Nhưng hôm nay ông có thể mặc xác tên tội phạm vô danh này, vì thảm họa trên cầu đã thành ra một vụ nghiêm trọng, và ông phải chuẩn bị một báo cáo về công tác giám sát của cục trong vụ cầu Imams, đề phòng người Mỹ hay chính phủ Iraq yêu cầu, vì thế ông tập hợp các nhân viên trong đội lại. Một nhân viên cấp thấp đề cập đến một thông tin quan trọng mới thu thập được hai tiếng trước cuộc họp: những hình thù lởn vởn trên cầu là những hồn ma sống trong cơ thể người. Chúng ngủ và trú trong những cơ thể ấy mà không để người ngoài biết được, hoặc chúng thức dậy và thoát ra ngoài một chút mà đi loanh quanh bên ngoài cơ thể họ nhưng chỉ khi những người đó sợ hãi mà thôi. Theo các chiêm tinh gia, những hồn ma ấy được gọi là tawabie al-khouf, “linh thú của nỗi sợ”.
Đội trợ lý đã soạn báo cáo xong và bỏ vào một phong bì màu hồng trên bàn chuẩn tướng Majid. Chuẩn tướng không chắc chính phủ hay người Mỹ có yêu cầu báo cáo không, nhưng ông đang làm công việc của mình và luôn sẵn sàng cho mọi thứ. Các chiêm tinh gia đã quay về nơi ở trong cục, còn một số nhân viên đã ra về vào cuối ngày làm việc. Chuẩn tướng tắt ti vi, vào căn phòng phụ nơi ông vẫn ngủ, bật điều hòa lên, rồi ngả lưng xuống giường. Nhắm mắt lại, ông có thể nghe mỗi tiếng ro ro của điều hòa nhiệt độ. Thốt nhiên, ông có cảm giác kỳ lạ rằng suy nghĩ của mình đang rời khỏi đầu và cuộn tròn lại gần trần nhà, và nó chứa cả một hình thù ma quái chính là “linh thú của nỗi sợ” của bản thân ông. Một linh thú không có tên. Tên nó, thực ra là Kẻ Không Tên. Nó cứ quay tròn: ông thực sự lo lắng rằng một buổi sáng thức dậy thấy lệnh sa thải được thủ tướng ký, lo rằng người Mỹ sẽ bỏ mặc cục của ông cho các đảng phái chính trị cầm quyền tùy nghi định đoạt. Còn có một nỗi sợ sâu sắc và cá nhân hơn: nếu ông đã chiêu mộ djinn, các hồn ma, linh hồn, chiêm tinh gia và thầy bói chống lại vô số kẻ thù, ông không dám chắc liệu kẻ thù có huy động chúng để chống lại ông theo cùng cách đó không. Có lẽ giờ kẻ thù của ông đang nỗ lực hết sức để tạo ra và nuôi dưỡng những nỗi sợ đó tận sâu trong lòng ông.
Không nghĩ ngợi gì, ông vươn tay ra túm cổ “linh thú của nỗi sợ”, thế nhưng khi mở mắt, ông chẳng thấy gì giữa mình và cái trần nhà.
2
Mahmoud tiết lộ rằng anh đã đem lòng yêu người tình của sếp mình và muốn ngủ với cô. Nhưng Hadi nói chẳng có gì phải xấu hổ về điều đó cả.
“Tôi đã nói với cậu bí mật kinh khủng của tôi. Tôi kể cậu nghe về Vô Danh và những gì hắn đã làm. Nếu cảnh sát đánh hơi ra thì tôi xong đời mất. Tôi muốn cậu kể tôi nghe một bí mật thực sự để đổi lại kìa.”
Mahmoud không nói gì một hồi lâu. Anh ngó quanh ngôi nhà đổ nát nơi Hadi sống. Anh nghĩ về những kỷ niệm xưa cũ. Thế rồi anh quyết định.
“Tôi sẽ kể ông nghe một chuyện. Tôi nghĩ gia đình mình không phải là dân Ả Rập chính gốc. Chúng tôi không phải là người Ả Rập hay Hồi giáo,” anh nói.
“Thế cậu là gì?”
“Tôi nghĩ cụ hoặc kỵ tôi là người Saba[1] cải sang đạo Hồi vì người phụ nữ mình yêu. Bố tôi ghi lại tất cả chuyện này trong nhật ký, nhưng mẹ và các anh trai tôi đã đốt hết sau khi ông ấy qua đời rồi.”
“Thế vấn đề là gì?”
“Đó là vấn đề lớn đấy. Chúng tôi không phải dân Ả Rập đích thực.”
“Tôi từng nói trong quán cà phê rằng cụ tôi là một sĩ quan Ottoman, nhưng giờ tôi không biết liệu đấy có phải nói dối không nữa.”
“Thế câu chuyện ông mới kể tôi nghe không phải cũng là chuyện dóc tổ luôn sao?”
“Không. Cậu nghĩ thế làm tôi buồn đấy.”
“Thế thì cho tôi bằng chứng chứng minh chuyện của ông là thật đi. Tôi sẽ tin ông nếu ông đưa bằng chứng ra đây.”
“Chính xác thì cậu muốn gì?”
“Cho tôi gặp tên Vô Danh đó.”
“Không, không thể được. Hắn có thể giết cậu đó.”
“Cho tôi tham gia vào câu chuyện đi, để tôi được nhìn thấy hắn ta.”
“Tôi không biết khi nào hắn xuất hiện. Có khi hắn sẽ chẳng bao giờ đến nữa.”
“Thế thì sao? Ông đang lảng tránh chủ đề đấy.”
“Không hề. Nói tôi biết cậu muốn gì đi, rồi tôi sẽ làm theo.”
“Chụp ảnh hắn ta cho tôi. Tôi sẽ đưa ông máy ảnh.”
“Không thể nào. Hắn sẽ giết tôi mất.”
Mahmoud đứng lên khỏi chiếc ghế gỗ trong sân ngôi nhà đổ nát của Hadi. Mahmoud không ngờ cuộc nói chuyện lại đi xa đến thế. Tối hôm trước, trong sảnh khách sạn Orouba, anh ở trong tâm trạng khác hẳn. Khi Hadi rời khách sạn, Mahmoud đưa gã mười nghìn dinar cho gã ăn tối và mua một chai arak, hẹn hôm sau sẽ trao đổi lời tự thú về những bí mật nguy hiểm. Mahmoud đã sắp xếp một cách vô tư lự, rồi còn ở lại mười lăm phút nói chuyện với Bố Anmar trong sảnh.
Hôm sau, sau khi hàng chục người thiệt mạng trên cầu Imams, Mahmoud đã quên sạch mọi chuyện. Saidi đã để anh chịu trách nhiệm cho đề tài tiếp theo của tạp chí và khởi hành đi Erbil sáng hôm ấy với một đoàn các chính trị gia và nhà kinh tế học để xử lý gì đó liên quan đến dầu. Saidi nói rằng ông phải dựa vào anh và ông đặt niềm tin lớn ở anh, rằng mọi thứ sẽ ổn cả thôi và anh có toàn quyền quyết định.
Đường phố hầu hết bị cấm để thắt chặt an ninh cho các nghi lễ tôn giáo ở Kadhimiya, vì thế Mahmoud đi bộ đến tòa soạn. Lúc đó chưa ai đến, trừ người tạp vụ già. Anh thấy chiếc điện thoại di động thứ hai của Saidi đang được cắm sạc. Anh bật lên thì thấy mười bốn cuộc gọi nhỡ, một nửa trong số đó đến từ số 666.
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu giờ Mahmoud gọi đến số đó nhỉ? Anh có thể nói với cô rằng anh đã nhận cuộc gọi trước đó của cô và phát hiện ra bản chất mối quan hệ giữa cô với Saidi, rồi khuyên cô vài câu: “Quên Saidi đi, vì ông ấy không để tâm đâu. Ông ấy chỉ chơi cho vui thôi. Cô có thể thử vận may với những người đàn ông khác nếu thích. Thử vận may với tôi đi, nàng quỷ của tôi ơi.”
Anh đấu tranh với bản thân rằng liệu có nên gọi cho cô, chỉ để nghe giọng cô, nhất là khi khoảng mười ngày rồi anh chưa được gặp cô. Cuối cùng anh cũng thuyết phục bản thân đợi cho đến khi cô gọi lại - hôm đó cô đã gọi bảy cuộc rồi còn gì. Anh sẽ nghe máy và tiết lộ danh tính của mình với cô.
Anh thấy mình chẳng thể động tay vào việc gì. Người tạp vụ muốn pha trà hoặc cà phê cho anh, nhưng anh đã nói rõ mình không muốn uống gì cả. Anh bảo người tạp vụ khóa cửa lại để cả hai đều có thể ra về. Anh lấy đồ từ chỗ bàn Saidi và nhìn vào điện thoại của ông. Anh có một mong muốn cháy bỏng là được làm một việc gì đó ngu ngốc. Việc gì đó ngu ngốc nhưng giản đơn. Anh muốn được nghe giọng của Nawal al-Wazir, không hơn. Anh sẽ không nói với ai cả. Sẽ chẳng ai biết gì hết.
Anh nhấc điện thoại, tìm danh sách những cuộc gọi gần đây, và chọn số 666. Anh nghe chuông reo ở đầu bên kia, và máu bắt đầu chảy rần rật trong tĩnh mạch anh còn tim anh thì đập càng lúc càng nhanh và mạnh hơn. Chuông tiếp tục reo thêm vài giây nữa, rồi cô nhấc máy. “A lô, a lô?”
Đó là giọng cô, với nhịp điệu quyến rũ khiến lòng anh quặn thắt biết chừng nào. Nhưng anh không đáp. Anh không thể điều khiển cổ họng mình hay môi hoặc thậm chí chớp mắt. Anh như tê liệt, như hóa đá.
“A lô?” Nawal nói. “Baher,” cô thêm vào. “Ai vào phòng anh dùng điện thoại đấy?”
“Anh không biết,” giọng Saidi vọng vào. “Đưa điện thoại cho anh. A lô, a lô? Là ông à, Bố Jouni?”
Mahmoud ngắt máy, tắt điện thoại, rồi ném nó lên bàn tổng biên tập như thể nó vừa khiến anh bị điện giật.
Ra là cô đang ở bên ông ấy. Một hội nghị chính trị và kinh tế, hừm! Nhưng cô là đạo diễn phim mà? Có thể cô đi để quay vài cảnh cho bộ phim sắp tới, việc mà họ thường xuyên nhắc đến. Có lẽ đó là bộ phim về mối quan hệ giữa tiền bạc và chính trị và dầu, về việc trốn khỏi Baghdad để thoát khỏi những nghi lễ tôn giáo khiến cuộc sống trở nên tù đọng. Có lẽ cô định cho thêm một vài cảnh giường chiếu chân thực trong bộ phim xuất sắc của mình.
Mahmoud quay sang nhìn người tạp vụ già, Bố Jouni, đang nhìn anh, hoặc đợi anh làm xong việc để họ có thể đi và khóa cửa từ bên ngoài.
Anh không nói gì hồi lâu và quay bước về. Anh tạt vào quán ăn trên đường. Anh định gọi cho gã bạn Farid Shawwaf và nói về Nawal al-Wazir, nhưng rồi anh nghĩ nếu làm thế, gã sẽ cười ha hả vào mặt anh cho xem. Vì thế anh gọi cho gã bạn khác là Hazem Abboud, nhiếp ảnh gia. Nhưng Hazem sẽ giễu cợt anh không ngót về chuyện Nawal, như gã đã làm hồi họ tới nhà thổ cùng nhau.
“Đó là tất cả những gì phải làm với thằng nhỏ của cậu,” Hazem sẽ nói thế, cố làm anh sốc và gạt toẹt đi khía cạnh cảm xúc trong sự gắn bó của anh với Nawal. “Tìm đối tác nào mới mà lâu bền cho nó đi.”
Mahmoud tới quán cà phê của Aziz tìm Hadi, kẻ đã nhắc anh nhớ về thỏa thuận giữa họ tối hôm trước. Mahmoud gọi trà và, không còn cái mong muốn quên đi mọi thứ nữa, anh đầu hàng trước câu chuyện điên rồ của Hadi. Hadi nói thì thầm, thi thoảng lại ngừng lại nhìn quanh. Gã hành xử không giống bình thường như khi đóng vai người kể chuyện già chút nào. Mà gã nói như thể đang tiết lộ bí mật. Thế rồi, khi đến cao trào, gã bảo Mahmoud về nhà cùng hắn để họ có thể nói chuyện cởi mở hơn.
Khi gã kể xong những chi tiết mới trong câu chuyện về Vô Danh, Mahmoud choáng váng. Mahmoud mất nửa phút tua lại trong đầu những gì Hadi vừa nói. Đó thực sự là một câu chuyện thất đảm kinh hồn mà lão già điên khùng này không thể nào tự bịa ra được. Nó bao gồm những chi tiết quá phức tạp với cái đầu giản đơn của tay buôn đồ cũ này. Hadi đánh thức Mahmoud khỏi cơn mơ màng. “Giờ thì đến cậu,” gã nói. “Kể tôi nghe bí mật nguy hiểm của cậu đi.”
3
Mahmoud quả đã kể cho gã nghe một bí mật thực sự. Anh chưa bao giờ nói với ai, kể cả gã bạn thân Hazem Abboud, về nỗi hoài nghi nguồn gốc gia đình mình. Anh chưa bao giờ có dịp nhắc đến nó, hoặc giả anh chỉ đơn giản là không có đủ can đảm mà thôi. Dù sao chăng nữa, đó là bí mật thực sự mà anh đã chôn trong lòng, và anh không thể nhớ lần cuối cùng có ai trong gia đình anh ở Amara từng nói về chuyện đó. Vì thế anh đã thành thật với Hadi, dẫu Hadi có vẻ chẳng đánh giá cao tầm quan trọng trong lời thú nhận của anh cho lắm. Từ đó cho đến hết ngày, Mahmoud cứ nghĩ mãi về những gì Hadi đã nói. Anh hứa với mình rằng sẽ thu lại trong máy ghi âm kỹ thuật số, trong phòng khách sạn, để anh không quên chi tiết nào. Anh tin rằng cảm xúc có thể thay đổi ký ức, rằng khi ta mất đi thứ cảm xúc liên quan tới một sự kiện cụ thể, ta cũng mất đi một phần quan trọng của sự kiện đó. Vì thế anh phải ghi lại những điều anh cho là quan trọng hoặc lưu lại trong cái máy ghi âm nhỏ khi những cảm xúc đi kèm vẫn còn mạnh mẽ.
Anh lưu lại hầu hết mọi thứ trong chiếc máy ghi âm Panasonic mới, mua từ một cửa hàng ở Bab al-Sharqi sáu tháng trước. Chiếc máy ghi âm là một tiến bộ vượt bậc với anh so với đống vở đi học mà bố anh, Riyadh al-Sawadi, từng dùng để viết nhật ký. Cuối cùng, vào cái đêm từ giã cõi đời, bố anh đã hoàn thành hai bảy cuốn vở với mỗi cuốn một trăm trang. Trong mấy dịp hiếm hoi, Mahmoud xem được một vài trang. Nhưng rồi mẹ anh đã làm một việc không tưởng: bà cho hết vào sâu trong lò, đổ dầu lên rồi đốt. Sau đó bà làm hai bảy ổ bánh mì dẹt, nướng liu riu trên đống tro tàn thú tội của ông. Bố anh đã viết ra mọi thứ. Ông ghi lại sự thật trần trụi bằng mực đen, với nét chữ uyển chuyển mà ta có thể tìm thấy trong một cuốn thư pháp. Có những đoạn viết về những lần bố anh thủ dâm khi đã lấy vợ, về những phụ nữ mà ông muốn ngủ cùng, trong đó có cả mấy bà già sống cùng khu. Những gì ông viết trong nhật ký chẳng có gì đồng nhất với cách người ta nhìn nhận ông ở quận Jidayda, Amara. Ông được tôn kính và trọng vọng hết mực, nhưng có lẽ đó không phải hình ảnh mà bố Mahmoud thực sự mong muốn. Đó là hình ảnh người ta áp đặt cho ông mà cuối cùng ông cũng xoay xở được để sống cùng, nhưng chỉ bằng cách thể hiện cái tôi chân thật trong những lời thú nhận thầm kín.
Khi các anh trai của Mahmoud xem nhật ký, họ sững sờ và xấu hổ. Mahmoud nghe họ nói những điều về nguồn gốc, cải giáo, vân vân. Anh không chắc liệu những gì mình nghe có đúng không, và chủ đề đó đã bị đóng lại hoàn toàn khi đống tro tàn của hai bảy quyển vở nguội đi trong lò của mẹ. Nhưng thi thoảng Mahmoud vẫn nhớ một vài chi tiết bố anh đã viết và cố ráp nối những mẩu thông tin bị chôn chặt vĩnh viễn ấy lại với nhau, hòng hiểu được mọi thứ, dẫu cho chẳng còn bất cứ cách nào để kiểm chứng thông tin. Một trong những điều đó là cái họ Sawadi, vốn được bố của Mahmoud, một giáo viên tiếng Ả Rập đặt ra, hoàn toàn lờ đi cái họ quen thuộc chỉ ra mối liên hệ bộ tộc. Nhiều người bắt đầu xem ngôi nhà gia đình họ là nhà của gia tộc Sawadi. Nhưng cái chết của bố Mahmoud đồng nghĩa với việc cái họ được tạo ra cũng chết theo, vì các anh trai của Mahmoud đã đổi sang họ bộ tộc mà họ lấy làm tự hào. Nhưng Mahmoud, giận dữ vì cái cách họ cố xóa bỏ câu chuyện đời bố một cách quá nhẫn tâm, vẫn giữ lại họ Sawadi và xây dụng nó thành một cái tên nổi tiếng trên các tờ báo và tạp chí.
4
Mahmoud đứng lên khỏi chiếc ghế gỗ Hadi mang ra cho anh ngồi trong sân ngôi nhà đổ nát và ngước lên nhìn bầu trời đang tối dần khi hoàng hôn buông xuống. Anh thở dài và nói với Hadi rằng anh sẽ không tin câu chuyện của gã chừng nào gã còn chưa đưa ra bằng chứng cụ thể cho thấy kẻ Vô Danh mà gã nói tới thực sự tồn tại.
Mahmoud cho tay vào túi, lấy chiếc máy ghi âm Panasonic ra đưa cho Hadi, bảo gã phỏng vấn sinh vật đó. Rằng gã hãy bật máy và hỏi tên kia định làm gì, hắn tính đi đâu và hắn sống ở đâu.
Mahmoud mời Hadi xem thử chiếc máy ghi âm. Anh giải thích cách bật tắt thế nào. Hadi mất năm phút ghi âm rồi bật lại nghe giọng mình, kiểm tra xem gã có hiểu lời hướng dẫn hay không.
“Để ý pin nhé. Pin hết nhanh lắm đấy,” Mahmoud nói trước khi ra về, không chắc rằng chính xác mình vừa mới làm gì - tay buôn đồ cũ này dám bán chiếc máy ghi âm ngay hôm sau lắm. Có lẽ đó là tác động sau một ngày mệt mỏi, hoặc tác động mà câu chuyện kỳ lạ của Hadi mang lại cùng lời hứa hẹn sẽ được nghe thêm nhiều chi tiết nữa. Nếu Hadi đưa ra được bằng cớ thực sự chứng tỏ một sinh vật bí ẩn như vậy tồn tại thì sao? Anh có thực sự tin vào điều đó không?
Mahmoud vừa đi về phía khách sạn Orouba vừa nghĩ về Saidi cùng con quỷ cái Nawal của ông ta, bạn bè anh, và bố anh, người đã qua đời mười năm.
Khi về đến khách sạn, anh thấy ai đó đặt một cái máy phát điện nhỏ xuống vỉa hè. Bố Anmar đã mua nó, đủ để cấp điện cho đám quạt đèn trong bốn phòng có người thuê, cũng như khu lễ tân và căn phòng riêng nơi Bố Anmar đang sống.
Mahmoud lên phòng và ngả lưng trên giường đúng một tiếng đồng hồ. Chân anh mỏi nhừ vì đi bộ. Anh nhắm mắt trong luồng gió phả ra từ chiếc quạt trần. Trôi ra từ ký ức anh là hình hài rõ nét của ông bố, vận bộ dishdasha ngồi trong phòng khách ở nhà. Ông đeo kính, trên đôi chân khoanh tròn là một tấm ván gỗ lớn. Trên tấm ván là một quyển vở để mở, và ông dành hàng tiếng đồng hồ lặng lẽ viết.
Khi Mahmoud mở mắt ra trong bóng tối dày đặc, anh không biết đã bao lâu trôi qua. Anh xuống cầu thang rồi tới một quán gần đó để ăn tối. Khi quay lại, anh thấy Luqman, ông già người Algeria sống trong khách sạn, đang ngồi ở sảnh cùng một vị khách lớn tuổi khác, cả Bố Anmar và Andrew, cậu thiếu niên vẫn giúp bà mẹ già Veronica làm công việc dọn dẹp hằng tuần. Tất cả bọn họ đang xem ti vi; chiếc máy phát điện nhỏ rù rì bên ngoài. Mahmoud chào họ rồi ngồi xuống xem cùng. Thật ngạc nhiên làm sao khi anh thấy gã bạn Farid Shawwaf xuất hiện trên màn hình, trong bộ com lê xám, sơ mi đen và cà vạt đỏ. Chưa bao giờMahmoud thấy cậu ta bảnh bao đến vậy.
Bố Anmar giơ bàn tay béo múp lên sai thằng bé đi mua bốn tách trà từ quán trà bên đường.
Ai nấy trong sảnh đều xem chương trình trò chuyện trên ti vi trong yên lặng và lo âu. Đó là một thảm họa lớn, thảm họa lớn nhất từ trước tới nay giáng xuống đất nước Iraq, như Bố Anmar nói. Khoảng một nghìn người đã thiệt mạng, do chết đuối hoặc bị giẫm đạp đến chết, mà không ai biết thủ phạm là ai. Phát ngôn viên của chính phủ xuất hiện với nụ cười quen thuộc để thông báo rằng một âm mưu đánh bom tự sát trên cầu Imams đã được ngăn chặn và tội phạm đã tẩu thoát.
“Nếu tên tội phạm làm hắn nổ tung, thì có lẽ hôm nay đã có hàng nghìn nạn nhân rồi,” phát ngôn viên nói. Một tiếng rắm lớn bum bủm vọng qua sảnh và ra cả ngoài. Nhưng mọi người mau chóng nhận ra đó chỉ là tiếng còi của một chiếc xe tải đi dọc con phố chính của Bataween, cảnh báo một đứa trẻ chạy qua trước mũi xe.
Người dẫn chương trình trò chuyện quay trở lại với các vị khách sau khi phát mẩu tin của phát ngôn viên chính phủ, và Farid Shawwaf, ăn vận bảnh bao, bất thần xuất hiện trình bày quan điểm của mình. “Như tôi nói trước đó, trách nhiệm trong sự cố lần này thuộc về chính phủ, họ đã cho lắp đặt rào chắn bê tông trên chính cây cầu. Lẽ ra phải tiến hành tra soát ở lối vào và lối ra của cầu để không bị quá đông như thế.”
Người dẫn chương trình giơ tay lên ngắt lời Farid, đoạn quay sang vị khách khác - một người đàn ông hói đầu với hàm râu trắng lưa thưa - và hỏi ông ta cùng một câu hỏi: ai là người chịu trách nhiệm?
“Chắc chắn là một số phần tử al-Qaeda và tàn dư của chế độ cũ,” người đàn ông nói. “Ngay cả khi chúng không tự tay thực hiện tội ác này, thì chúng cũng vẫn phải chịu trách nhiệm vì đã có các sự vụ nhân danh chúng trong quá khứ, vì thế chỉ nhắc đến tên chúng thôi cũng đủ là nhân tố gây bất ổn và khiến lòng người hoang mang rồi.”
Người dẫn chương trình xen vào: “Có ý kiến cho rằng người chịu trách nhiệm chính là người đã khỏi phát tin đồn có kẻ đánh bom tự sát trên cầu.”
“Không, tôi nghĩ không cần phải đổ tội lên đầu anh ta,” người lớn tuổi hơn đáp. “Không ai biết ai là kẻ khỏi phát tin đồn, nhưng ý niệm này khá phổ biến. Có lẽ người đó nghĩ là có một kẻ đánh bom tự sát và cảnh báo người khác với ý tốt thôi.”
Người dẫn chương trình quay sang Farid cho cậu ta cơ hội diễn giải thêm. “Thành thực mà nói, tôi nghĩ tất cả mọi người đều phải chịu trách nhiệm cách này hay cách khác. Tôi xin nói cụ thể hơn rằng tất cả các sự cố an ninh và thảm kịch mà chúng ta chứng kiến đều bắt nguồn từ một thứ - nỗi sợ. Người trên cầu chết vì họ sợ chết. Mỗi ngày chúng ta đều chết dần chết mòn vì cùng một nỗi sợ chết. Các tổ chức cung cấp nơi ẩn náu và hỗ trợ al-Qaeda làm vậy vì họ sợ một tổ chức khác, và tổ chức khác này đã tạo ra và huy động dân quân để bảo vệ chính mình khỏi al-Qaeda. Việc này tạo ra một cỗ máy tử thần vận hành ở hướng khác vì nó e sợ Kẻ Khác. Và chúng ta sẽ còn chứng kiến thêm rất nhiều cái chết nữa vì sợ hãi. Chính phủ và các lực lượng chiếm đóng phải triệt tiêu được sợ hãi. Họ phải chấm dứt nó nếu thực sự muốn cái vòng giết chóc luẩn quẩn này kết thúc.”
5
Chuẩn tướng Majid đang xem chương trình trò chuyện trên ti vi và khá ấn tượng trước cách ăn vận của Farid Shawwaf - com lê xám với sơ mi đen và cà vạt đỏ. Có lẽ ông nên cử nhân viên đi mua cho mình một bộ tương tự, nhưng ông không chắc là sẽ có dịp diện những trang phục như thế, bởi lẽ hầu như cả tuần ông chết gí ở văn phòng như tù nhân vậy.
Ông chuyển qua tất cả các kênh truyền hình của Iraq và thấy tin về sự cố trên cầu Imams vẫn đang chiếm sóng. Có gì đó mách bảo ông rằng tất cả đã nhầm và thủ phạm thực sự vẫn đang nhởn nhơ ngoài kia. Hắn thậm chí có thể bị bắt ngay đêm nay.
Ông nhấp một ngụm trà. Có mấy tiếng gõ cửa khe khẽ, và hai thanh niên đậm người, tóc ngắn bước vào, cả hai đều vận sơ mi hồng và quần đũi đen. Họ chào ông rồi đứng nghiêm.
Chuẩn tướng nhấp một ngụm trà nữa, rồi quay sang họ nói với vẻ hết sức kiên định, bởi cuộc lật đổ ngoạn mục của ông có thể diễn ra đêm nay. Ông đã triệu tập những người này đến chỉ để mang lại cho mình cảm giác thỏa mãn là đang kiểm soát tình hình, và cuộc trò chuyện giữa họ chẳng hề có nội dung gì.
“Các anh sẵn sàng xuất phát chưa?” ông hỏi.
“Rồi, thưa ngài,” họ đồng thanh đáp.
“Đừng làm gì bất thường. Cứ hành động bình thường thôi. Bắt hắn rồi quay về càng nhanh càng tốt. Tôi muốn các anh cứng rắn lên. Đi đi, cầu Chúa ở bên các anh.”
“Vâng, thưa ngài.”
Hai thanh niên đậm người chào ông một tiếng dứt khoát, mạnh mẽ nữa rồi khẩn trương rời đi.
Chuẩn tướng quay lại với tách trà thì thấy trà đã nguội. Ông với lấy tập hồ sơ trên bàn xem lại lần nữa. Trong đó là phỏng đoán của đội ngũ chiêm tinh gia và thầy bói trong Cục Theo dấu và Truy nã. Nó được đặt lên bàn ông mười lăm phút trước, tức là ông cần gấp để chuẩn bị một đội đi bắt tội phạm - Kẻ Không Tên, như chiêm tinh gia bậc thầy kiệm lời đã gọi.
Ông sẽ dành cả đêm trong văn phòng, đợi đội đặc nhiệm quay về, với hy vọng nó sẽ đặt dấu chấm hết cho câu chuyện, dấu chấm hết cho cơn đau đầu, nỗi lo lắng, sự căng thẳng. Rồi ông sẽ có một vị trí thật cao, nhận được sự trọng vọng của cả người Mỹ lẫn các đảng cầm quyền, vốn vẫn nhìn ông với con mắt nghi ngờ. Ông có thể được cất nhắc hoặc có thể bước ra ánh sáng từ những bóng đen bí ẩn mà ông phải ẩn nấp suốt hai năm qua.
Tên tội phạm trông như thế nào nhỉ, chuẩn tướng băn khoăn. Đắm chìm trong suy nghĩ, ông đi lại quanh văn phòng rộng lớn. Gã đàn ông bị đạn xuyên qua mà không chết hay chảy máu, trông gã có thể xấu xí kinh khủng đến nhường nào? Làm sao có thể bắt hắn nếu hắn không sợ chết, không sợ đạn? Có thật là hắn có quyền năng đặc biệt không? Hắn có phun lửa vào thuộc hạ của ông và thiêu họ thành tro không? Hay hắn có đôi cánh ẩn để cất cánh bay thoát khỏi những kẻ truy đuổi? Gã có đột nhiên biến mất trước mắt họ như thể chưa từng tồn tại không?
Ông biết hai hoặc ba tiếng nữa mình sẽ có lời đáp cho những câu hỏi đó.
❀ ❀ ❀
[1] Một tộc người cổ đại nói một ngôn ngữ Nam Ả Rập cổ đại, sinh sống ờ khu vực miền Nam bán đảo Ả Rập.