Elishva đang ngồi như thường lệ trong phòng khách với con mèo rụng lông. Qua cặp mắt kính dày cộp bà ngắm bức tranh vị thánh, ánh đèn dầu vàng vọt nhảy nhót trên những vết gọn của bức tranh, trong khi dỏng tai nghe ngóng tiếng khóc than rên rỉ đau đớn phát ra từ ngôi nhà bên cạnh. Âm thanh ấy đã kéo dài suốt mười lăm phút.
Lẽ ra bà đã tới lễ tưởng niệm Thánh Samouni và bảy đứa con của Người vào ngày lễ thánh của họ, nhưng bà thích ở nhà hơn. Sau khi Faraj tát người thanh niên tội nghiệp, Mẹ Salim sang gặp bà, bảo rằng Faraj là ác quỷ và dám làm bất cứ việc gì. Y có thể làm giả giấy tờ sở hữu ngôi nhà của bà và ném bà ra ngoài đường. Với cả, đã ai nhìn thấy tờ giấy ấy bao giờ - có khi Elishva còn không có cũng nên.
Tại sao Mẹ Salim lại nói với bà chuyện này? Có phải mụ đã quay lưng lại với bà? Thế nhưng mụ lại đưa ra một đề nghị mời gọi: Elishva có thể chuyển tới một phòng trong nhà Mẹ Salim, và rồi con của Mẹ Salim sẽ cải tạo nhà Elishva thành nhà trọ và cho thuê phòng, tiền thuê sẽ đưa cho Elishva. Faraj và những kẻ có mưu đồ với bà lão sẽ cảm thấy bà được bảo vệ.
Nhưng đó có thể là cách để Mẹ Salim chiếm giữ ngôi nhà, bà nghĩ. Không chừng lòng tham đang trỗi dậy bên trong mụ già béo ú này và mụ chỉ là một con sói nữa trong lốt cừu, hoặc có khi mụ đang làm việc cho Faraj cũng nên.
Bà không đáp lại đề nghị của Mẹ Salim. Mẹ Salim thì cho rằng bà lão tinh thần yếu ớt này cần thời gian suy nghĩ. Nhưng bà không nghĩ về đề nghị của Mẹ Salim. Người thanh niên gầy guộc muốn thay mặt chính phủ mua nhà bà kia? Cậu ta không hiểu rằng không đời nào bà lại bán nhà. Bà sẽ không cảm thấy tự hào khi sống trong ngôi nhà từng thuộc về bà mà nay thuộc về chính phủ, và số tiền bà kiếm được từ việc bán nhà thì lại nhiều hơn bà cần.
Bà nhắm mắt lại một lát, đầu có cảm giác nặng trĩu. Nabu gà gật trong lòng bà, còn bà suýt chút nữa đã thiếp đi trên xô pha thì nghe thấy tiếng động ngoài sân cùng tiếng bước chân nặng nề. Bà quay ra cửa: đứng đó chính là bóng ma của con trai bà, Daniel.
2
Hadi cảm thấy mình sắp chết. Nhưng một đôi tay mạnh mẽ đã dìu gã dậy khỏi những viên đá vỡ nhuốm đầy máu dính nhớp. Gã mở mắt ra nhưng không thể nhìn thấy gì - chỉ toàn một màu đen. Đôi tay nhẹ nhàng đặt gã xuống tấm nệm ở giữa sân. Một chiếc khăn ẩm lau khắp người gã, rồi đôi tay đen sẫm giúp gã mặc quần áo.
“Đừng lo, ông sẽ không chết đâu, nhưng ông đáng bị đánh đấy,” người lạ nói trước khi bỏ đi. Vài phút sau, Hadi nghe thấy tiếng lao xao. Gã cảm thấy tứ chi rã rời và sắp sửa thiếp đi thì ánh đèn pin rọi vào mặt.
“Các người muốn gì ở tôi? Các người muốn gì ở tôi?” gã hét lên, đoán chừng đám người hỏi cung đã quay lại, có lẽ lần này là để kết liễu gã.
“Họ đã làm gì ông vậy?” một người trong số họ hỏi. Họ bắt đầu lật người gã lại xem xét vết thương.
Bố Salim đã để ý thấy đám người khi họ vào nhà Hadi từ đầu nhưng không rõ chuyện gì xảy ra bên trong. Lão theo dõi từ ban công cho đến khi thấy đám người hỏi cung ra ngoài tay xách nách mang, rồi chui vào xe tải lái đi mất hút. Một người trong số họ thò cây đèn bàn có cái chụp bằng kính màu ra khỏi cửa sổ xe mà vung vẩy và ném vào tường. Bố Salim quyết định hành động, gọi mấy đứa con và hò mấy thanh niên sống gần đó. Họ xông vào nhà Hadi, và khi Hadi thoát khỏi cơn mê sảng, cậu con út nhà Bố Salim chạy về nhà lấy bông băng, thuốc sát trùng, gạc y tế và thuốc, do cậu ta có một quầy hàng bán mấy món đó ở chợ Shoqa và nắm khá rõ kỹ thuật sơ cứu. Cậu ta bảo Hadi rằng vết thương trên đùi gã cần khâu lại, mà cậu ta lại không giỏi việc đó lắm, nhưng cậu ta có thể băng bó lại chờ đến sáng, rồi ngày hôm sau gã nên đi khám hoặc tới trạm phát thuốc để người ta khâu cho, và gã không nên di chuyển nhiều trong đêm để tình hình không tệ đi. Họ chăm sóc gã một cách tận tụy và đầy cảm thông, đồng thời cố tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra, nhưng khi họ ép hỏi Hadi, gã bắt đầu chửi thề: gã không hơi sức đâu để trải qua hai cuộc hỏi cung trong một buổi tối.
Một làn gió yếu ớt từ trên không lùa vào cái ngách hun hút nơi Hadi sống giữa những ngôi nhà hai tầng tường cao. Thuốc Bố Salim đưa cho đã phát huy tác dụng, và gã thấy hối hận vì đã nặng lời, nhưng họ cứ không ngừng hỏi: Đám người hỏi cung có quay lại không? Tại sao họ đột ngột dừng tay trước khi có câu trả lời mình muốn? Tại sao họ lại cắt xẻo gã như thế? Ai đã chỉ điểm gã cho họ? Có phải tay nhà báo không? Hay một khách hàng ở quán cà phê của Aziz?
Gã vẫn chưa biết số tiền tiết kiệm từ việc nai lưng ra làm suốt tuần qua đã bốc hơi, hay bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh đã bị đập vỡ đầu, hay những chiếc đĩa quý báu cùng mớ tài sản đáng giá nhất của gã đã bị lấy mất. Tất cả sẽ trở nên rõ ràng hơn vào chiều hôm sau. Trong một thoáng gã cảm thấy những gì mình trải qua có tác động như một cái tát trời giáng, có lẽ là từ một bàn tay nơi thiên đường, để mở mắt cho gã thấy những tội lỗi của gã và cái vực thẳm mà gã đang trượt xuống.
Gã sẽ bắt đầu lại. Gã sẽ cầm cự cho đến khi vết thương lành hẳn rồi tới nhà tắm hơi Sabunji ở Sheikh Omar. Gã sẽ đầm mình trong làn hơi nóng như một bức tượng suốt ba tiếng đồng hồ, rồi cạo râu tóc, mua quần áo mới tươm tất, rời khỏi đống đổ nát Do Thái này và thuê một căn phòng rộng rãi thoáng đãng trong khu nhà trọ mới của Faraj, rồi tính đến việc thuê một cửa hàng để mua bán và sửa đồ cũ, vì gã vốn giỏi món đó. Gã sẽ tìm một người vợ có thể chịu đựng gã và quản việc gã uống rượu chỉ một lần một tuần. Gã sẽ làm tất cả những việc đó và tiếp tục làm nếu gã có thể ngủ yên đêm nay và nếu gã có thể thức dậy bình an vô sự vào sáng hôm sau.
3
Vô Danh không nghĩ trận đánh tơi tả và những vết dao cắt là đủ để lấy mạng Hadi, nhưng đó nom như một kiểu trừng phạt mà gã đáng nhận cho biết bao tội lỗi và sai lầm đã gây ra. Đó là những gì Vô Danh nghĩ khi leo xuống sân để đỡ người tạo tác ra mình lên giường và giúp gã mặc quần áo. Khi nghe tiếng những người hàng xóm đang tới gần, hắn nhanh chân trèo lên những hòn đá về phía nhà Elishva.
Hắn thấy Elishva đang ngồi trong phòng khách, nhìn vô hồn vào bức tranh Thánh George Tử đạo. Bà thấy hắn nơi ngưỡng cửa, và không một thớ cơ nào trên mặt bà giật giật. Bà nhìn hắn như thể hắn đã sống ở đó một thời gian và mới chỉ từ nhà vệ sinh quay ra.
Hắn cảm thấy cô đơn. Hàng tuần rồi hắn không nói chuyện với ai. Hắn chỉ còn lại hai người quen: tay buôn đồ cũ và bà lão điên. Hắn đã có thể hạ mấy tay sĩ quan áo hồng cùng ba trợ lý mà không cần chớp mắt, nhưng thế chỉ tổ khiến tay buôn đồ cũ phải chuốc thêm tội giết người. Để giúp Hadi quay lại cuộc sống bình thường, tốt hơn hết hắn không nên ló mặt gặp lại gã nữa.
Giờ Vô Danh không biết phải làm gì. Hắn biết nhiệm vụ của mình là phải giết chóc, giết người mới mỗi ngày, nhưng gã không còn biết rõ ai nên bị giết và tại sao. Thịt của những người vô tội mà từ đó hắn được tạo nên lúc ban đầu đã được thay thế bởi lớp thịt mới từ các nạn nhân của chính hắn và những tên tội phạm. Hắn nghĩ nếu hắn mất quá nhiều thời gian trả thù cho những nạn nhân mà hắn nhân danh, thì các bộ phận cơ thể mà hắn lấy của họ sẽ phân hủy tại chỗ. Đó sẽ là cái kết cho hắn, và hắn sẽ biến mất khỏi thế giới này.
Nhưng hắn lại không chắc đó có phải lựa chọn đúng đắn không. Hắn phải giữ cho mình sống đến khi tìm ra những bước đi kế tiếp. Và bởi hắn là một tên sát nhân dị biệt không chết theo những cách thông thường, hắn nghĩ mình nên tận dụng tài năng đặc biệt này để giúp người vô tội - giúp sự thật và công lý. Cho đến khi gã chắc chắn về những bước đi kế tiếp, hắn sẽ tập trung vào việc đảm bảo sự sống còn của mình. Hắn sẽ tận dụng những phụ tùng hắn cần từ cơ thể của những kẻ đáng chết. Đó không phải lựa chọn lý tưởng, nhưng là lựa chọn tốt nhất có thể lúc này.
Vô Danh giãi bày mấy nỗi lo với bà lão. Bà vừa nghe vừa xoa lưng con mèo già đang say ngủ. Có vẻ bà không thể hiểu một chủ đề rối rắm như vậy, nhưng bà là người biết lắng nghe, và đó là những gì Vô Danh cần lúc này.
Hắn kể cho bà nghe chuyện thi thoảng chạm mặt mấy tín đồ trên đường tháo chạy sau khi sống sót khỏi cuộc nội chiến nho nhỏ mà họ đã tham gia trong các doanh trại được dựng trong tòa nhà còn trơ mỗi khung ở Dora. Cách họ đối xử với hắn phụ thuộc vào cung cách của ba kẻ khùng mà họ từng theo, và xem ra họ không mất nhiều niềm tin vào hắn lắm.
Một đêm hắn gặp Công dân 341 đi dọc con phố ở quận Waziriya. Y cúi chào Vô Danh và hôn tay hắn. Y nói y không biết chuyện xảy ra với những số khác - ai bị giết và ai sống sót khỏi bữa tiệc đạn kinh hoàng đêm hôm đó. Y cũng nói thêm rằng tuy vẫn còn tin tưởng và có khao khát sâu thẳm về việc tái tổ chức, nhưng y không biết Công dân 342, hay Công dân 340 là ai, hay họ sẽ tái lập việc đếm ở đâu nếu thu nạp thêm những người ủng hộ và tín đồ mới, hay những số nào không còn và thực sự hiện giờ còn bao nhiêu công dân.
Một đêm khác hắn gặp vấn đề thối rữa nghiêm trọng và tình cờ chạm mặt một tín đồ mà hắn tin rằng chính là vị cứu tinh. Người đàn ông đưa hắn về căn nhà ở quận Fadhil, tránh những người hàng xóm cùng những cặp mắt săn mồi. Khi họ ở trong sân, tín đồ này vào bếp rồi quay trở ra với một con dao lớn. Anh ta bảo Vô Danh có thể giết mình rồi lấy các bộ phận cơ thể hắn cần. Lời đề nghị khiến Vô Danh ngỡ ngàng. Sau vài phút suy nghĩ, hắn quyết định đây là một ý hay, nhất là khi những lựa chọn khác sẽ gây thêm ồn ào và hắn có thể phải giết nhiều người trước khi thay thế được các bộ phận thối rữa bằng những cái tươi mới.
Hắn cắt động mạch ở cổ tay người đàn ông, để anh ta chết từ từ và chìm dần vào hôn mê trước khi đi chầu ông bà ông vải. Hắn không muốn đâm vào bụng hay cắt cổ họng anh ta vì có vẻ quá bạo lực, và tín đồ này, hay bất kỳ ai khác trong cùng hoàn cảnh, sẽ không thể kiểm soát bản thân và bản năng thú vật trong mình. Anh ta có thể hét lên hoặc đưa ra quyết định bốc đồng chống lại cái chết đang chảy trong cơ thể mình.
Elishva chăm chú lắng nghe thứ mà bà nghĩ là bóng ma của con trai mình vốn mất tích cách đây hai thập kỷ, không bộc lộ bất cứ dấu hiệu nào cho thấy bà hiểu những gì hắn đang nói.
Bà lão đã thức quá khuya, và bà có cảm giác vị khách của mình sẽ tiếp tục nói cho đến sáng. Nếu có chút gì của con trai bà trong mình, hắn phải hiểu rằng bà đang chống chọi lại thần chết, và bà sẽ không xúi bẩy ai tìm tới bất kỳ con đường chết nào.
“Sao không thư giãn đi, con trai của mẹ,” bà nói, muốn chấm dứt bài nói chuyện dông dài của hắn. “Mẹ dọn giường cho con ngoài sân nhé?” Hắn cảm thấy bà đang nhắc nhở hắn về vai trò bà đang đóng trong việc tạo tác danh tính hắn. Hắn cũng cảm thấy giá ở hoàn cảnh khác thì hắn thực sự muốn chấp nhận lời đề nghị của bà, nằm xuống tấm nệm bông thấp và nhìn mảng trời vuông, đếm những vì sao đến khi chìm vào giấc ngủ. Nhưng đấy là cuộc đời không thuộc về hắn.
Bà bỏ kính ra, dụi mắt, hít sâu rồi thở ra thật dài. Khi bà mở mắt ra, vị khách nhiều lời đã biến đi đâu mất. Bà nhìn bức tranh vị thánh treo trước mặt, cây thương giơ cao còn con rồng khom mình bên dưới Người. Bà tự hỏi tại sao nhiều năm trước Người lại không giết con rồng. Tại sao Người lại đóng đinh trong tư thế đó, sẵn sàng tấn công, bà tự hỏi? Mọi thứ vẫn chỉ hoàn thành một nửa, chính xác như lúc này: bà không thực sự là một thực thể sống, nhưng cũng chẳng phải người đã chết.
“Người đang hành hạ con,” bà nói, bế con mèo đang say ngủ lên đặt sang bên cạnh bà trên xô pha. Con mèo mở mắt, ngáp dài, rồi vươn vai duỗi mình.
“Người không giết con rồng, phải không vị chiến binh?” bà nói, rồi kiên nhẫn đợi lời đáp. Bà đứng lên, vẫn chăm chú nhìn khuôn mặt điển trai của vị thánh im lặng.
“Mọi thứ rồi sẽ đi đến hồi kết, Elishva. Sao phải vội chứ?” vị thánh đáp, môi không hề mấp máy. Không có gì trong bức tranh chuyển động, thế nhưng bà vẫn có thể nghe rõ giọng Người.
4
Hadi nằm thao thức, ngước lên vuông trời xanh thẳm và lũ chim lượn vút qua. Gã nhắm mắt lại một lát, rồi mở mắt ra thấy bóng một chiếc trực thăng Mỹ bay qua, gây ra tiếng ồn rền vang như sấm. Gã muốn dậy, nhưng nghĩ mình không đủ sức. Rồi toàn thân gã bỗng giật tung trước tiếng một vụ nổ lớn, mặt đất rung chuyển bên dưới gã.
Đó là một vụ đánh bom xe ở quận Sadriya, nằm ở trung tâm thủ đô cũ, cách Bataween vài dặm. Nhưng Hadi không biết chút tin tức gì về vụ nổ cho đến cuối ngày. Gã đang ngồi trên giường, người đau buốt, thì nghe thấy tiếng động ở cửa trước nhà. Đó là tay người Ai Cập Aziz cùng hai thanh niên trong khu. Aziz chửi thề khi huých vai đóng cánh cửa dở dở ương ương vào, rồi ngoác miệng cười với Hadi và đến chỗ hắn với một bát kem đông, ít bánh mì và trà đựng trong bình giữ nhiệt.
“Cảm ơn Chúa vì ông đã an toàn,” Aziz nói, vỗ vai gã bạn. Chưa đầy một tiếng sau, người thanh niên làm việc cùng Hadi xuất hiện. Cậu ta có hẹn đến xử lý chỗ đồ còn lại trong khách sạn cũ và ngạc nhiên khi thấy Hadi bị băng bó.
Sau bữa sáng, Aziz thúc Hadi đi kiểm tra ngôi nhà. Hadi sốc khi phát hiện ra khoản tiền tiết kiệm cùng mấy món đồ có giá trị đã biến mất. Ban đầu gã nghi ngờ những người đã băng bó vết thương cho gã, nhưng rồi nỗi nghi ngờ chuyển sang đám người hỏi cung. Nhìn thấy bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh bị phá hoại, Aziz tỏ vẻ buồn bã.
“Đó là mẹ của Chúa Jesus. Sao lại có kẻ làm vậy chứ?” anh ta hỏi, chạm vào những mẩu thạch cao vỡ vụn, rồi phủi tay như thể không muốn dính vào bất cứ trò phá hoại ngẫu nhiên nào.
Hadi cảm thấy buồn nôn khi nhớ đến tất cả chỗ tiền gã kiếm được từ việc bán đồ đạc của khách sạn Orouba giờ đã không cánh mà bay. Một tiếng sau gã tỉnh táo trở lại. Gã bảo trợ lý đi mua ít xi, đinh, giấy ráp, bột trét gỗ, và những thứ khác để bảo quản và giữ gìn đồ đạc cũ. Họ sẽ xử lý mấy cái tủ quần áo cũ tả tơi, rồi mang ra chợ bán càng sớm càng tốt.
Khi mọi người về hết, Hadi để ý đến bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh bằng thạch cao. Gã từng băn khoăn liệu có thể lấy nó ra nguyên vẹn mà bán cho nhà thờ không. Gã lôi những mảnh vỡ của bức tượng ra, rồi dòm vào cái lỗ mà bức tượng để lại trên tường, gạt lớp bụi làm lộ ra một miếng ván gỗ sẫm màu cao chừng sáu mươi phân, rộng ba mươi phân. Gã chùi lại lần nữa thì phát hiện ra một bản khắc trong dáng hình một cái cây. Thực ra, đó là một cây chúc đài lớn có chữ viết cả ở trên lẫn dưới mà Hadi nhanh chóng nhận ra là tiếng Do Thái. Hồi còn trẻ hơn, gã từng nhìn thấy những thứ tương tự trên tường mấy ngôi nhà ở Bataween, và ngay lập tức nghĩ rằng, cái này cũng là thứ có thể bán. Nghĩ đến đây, gã cảm thấy nỗi sợ hãi nhen lên, vì nhớ đến đám người hỏi cung. Gã nhớ lại những giải pháp đêm hôm trước và quyết định sẽ thay đổi mọi thứ.
Hadi nghe thấy tiếng động ngoài cửa - chắc hẳn trợ lý của gã đi chợ về. Gã lôi tấm thảm gập gọn từ góc phòng ra phủ lên tường trước cái hốc đặt bức tượng và miếng ván gỗ, giấu kín chúng hoàn toàn.
Nader Shamouni, người trợ tế, gặp rắc rối trong việc tới nhà Elishva. Người Mỹ đã phong tỏa con đường ở quảng trường Tayaran do vụ bom xe xảy ra gần trạm xăng Gilani và một vụ nổ khác ở chợ Sadriya khiến hàng chục chủ cửa hàng và người mua thiệt mạng. Nader muốn ra khỏi xe, nhưng một cảnh sát cảnh báo ông không được đỗ xe ở đó. Ông tính gọi cho cha Josiah để báo rằng ông không thể hoàn thành nhiệm vụ, nhưng một suy nghĩ khôn ngoan hơn mách bảo ông rằng có lẽ đấy là chuyện thường ngày. Ông nên hoàn thành nhiệm vụ bằng mọi cách, nhất là khi sắp tới ông không phải thường xuyên gặp những vấn đề như thế này nữa: ông đã quyết định rời Baghdad cùng gia đình. Ông đã báo với cha Josiah từ lâu nhưng cứ nấn ná mãi chưa đi, nhận ra mình sẽ bỏ lại ngôi nhà, hàng xóm và cuộc đời ở Baghdad để chuyển tới Ankawa theo sự khẩn nài của các con gái và những người họ hàng đã sống ở đó vài năm. Khi chuyện rời đi vẫn còn chưa quyết, một buổi sáng Nader phát hiện ra lỗ khóa cửa trước bị đổ keo. Ông cố cạo keo ra nhưng cuối cùng đành phải thay khóa. Chưa đầy một tuần sau, ông lại phát hiện ổ khóa mới bị đổ cùng một chất keo dính ấy. Có kẻ đang quấy rối họ, có lẽ là mấy đứa trẻ con, ông nói với gia đình như vậy và quyết định không sửa khóa nữa mà chốt cửa từ bên trong.
Nhưng rồi ông lại phát hiện ổ khóa của cánh cửa dẫn từ bếp ra vườn cũng bị đổ chất keo dính này. Giận dữ và căng thẳng, ông triệu tập một cuộc họp gia đình khẩn cấp. Ban đầu ông nghi ngờ vợ và các con gái, nhưng nhanh chóng gạt bỏ suy nghĩ đó. Ắt hẳn kẻ nào đó đã trèo qua hàng rào và lẻn vào khi họ đang ngủ.
Nhiều sự cố tương tự đã xảy ra suốt ba năm qua, và xét tình hình an ninh xuống cấp ở Baghdad, thì chẳng thể tin tưởng có nhà chức trách nào giúp ông. Người cha của một gia đình trong giáo đoàn mới bị bắt cóc gần đây. Nhà họ phải chấp nhận trả một khoản tiền chuộc lớn thì mới thuyết phục được bọn bắt cóc thả ông ấy ra. Nader bèn gọi cho các em trai cùng họ hàng ở Ankawa và báo với họ về quyết định của mình.
“Đó chỉ là giải pháp tạm thời thôi. Nhà tôi sẽ đi đến khi nào tình hình ở thủ đô ổn định lại,” ông nói. Ông không thấy trước được rằng trên thực tế khả năng hết sức cao là ông sẽ không bao giờ có thể quay về.
Nader đỗ chiếc Volga nhỏ ở cuối đường rồi đi bộ về phía nhà Elishva. Ông sẽ không gặp lại bà nữa, ông cho là vậy, và điều này là đủ lý do để cuộc gặp cuối cùng giữa họ trở nên thân thiết hơn. Ông đã biết bà cùng người chồng quá cố và các con bà hàng chục năm trời và có thể thấy nỗi mệt mỏi ở bà lão này - bà có những nếp nhăn mới trên mặt và quanh đôi mắt phía sau cặp kính lớn bà đeo. Có lẽ ông nhận ra tất cả những điều này bởi ông đã không ngồi gần bà một thời gian dài: cả tháng nay bà không tới nhà thờ.
Các con gái của Elishva, Hilda và Matilda, liên tục gọi cho cha Josiah, và cha cứ phải trấn an họ suốt rằng mẹ của họ vẫn khỏe và an toàn, nhưng họ đời được nghe giọng bà - họ biết bà giận, và họ muốn làm lành với bà. Nader kể cho bà nghe tất cả những chuyện này và nói rằng linh mục bảo bà đến gặp vào Chủ nhật tuần tới sau Thánh lễ. Elishva chỉ tỏ vẻ cau có.
“Matilda sẽ tới Iraq vì bà đấy,” Nader nói tiếp. “Con bé nói nó sẽ tới gặp bà rồi đưa bà đi cùng với nó.”
“Nó sẽ không làm thế đâu. Nó không có gan.”
“Nó sẽ làm đấy. Nó cứ khóc khi nói chuyện với cha Josiah.”
“Tôi sẽ không đi đâu cả. Tôi sẽ không rời khỏi nhà mình đâu.”
“Nhưng nhà để làm gì hả Mẹ Daniel? Nhà để làm gì khi bà chỉ có một mình, như một kẻ ngồi trong lều giữa sa mạc hay sao?”
“Gia đình tôi ở đây và cả hàng xóm của tôi nữa. Cuộc sống của tôi là ở trong ngôi nhà này.”
“Tôi biết, nhưng bà không nhớ các con gái mình sao?”
“Chúng ổn cả. Tại sao chúng lại bắt tôi bỏ nhà cơ chứ?”
“Ừm, bà biết đấy, cuộc sống ở đây ngày càng khó khăn hơn mà. Nhà để làm gì nếu cuộc sống khó khăn cơ chứ? Nỗi sợ, cái chết, sự bất an, tội phạm trên đường phố, mọi người theo dõi khi bà đi qua. Kể cả khi bà ngủ, cũng chỉ toàn là ác mộng và giật mình sợ hãi. Cả đất nước này bắt đầu giống như đống đổ nát Do Thái bên cạnh rồi.”
” ‘Chớ sợ những kẻ giết được thân xác nhưng không giết được tâm hồn.’ “
“Phải,” Nader đáp, ông không sẵn sàng đáp lại câu trích dẫn từ Kinh Thánh đó. Rồi ông bất ngờ chia sẻ nỗi lo lắng riêng của mình.
“Chủ nhật này bà phải đến, vì tôi, Mẹ Daniel à. Nếu bà muốn, tôi sẽ đến đón bà. Thế có được không?”
Bà đồng ý.
Ba ngày trước Chủ nhật, Nader bận tối mắt tối mũi với việc chuẩn bị. Ông đăng ký ngôi nhà với một đại lý bất động sản và bán đi nhiều đồ đạc, phần còn lại để ở tầng trên. Ông bận đến nỗi không đến dự Thánh lễ vào Chủ nhật. Sáng Thứ hai, ông để lại chìa khóa nhà cho một người bạn, nhờ ông ta thu xếp đồ trong nhà kho sẽ được chuyển tới Erbil bằng xe tải, rồi khởi hành cùng gia đình trong chiếc Volga nhỏ, đi về phía Bắc.
Hoặc là ông đã quên hoặc là ông cố tình lờ bà lão đi. Nhìn bà, ông nghĩ, chưa chắc đã sống được thêm một năm nữa, và ông sẽ không bao giờ gặp lại bà nữa. Về phần mình, Elishva cũng không nghĩ sẽ gặp lại người trợ tế với bộ ria Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng cả hai người đều đã nhầm.