Hôm sau khi trời vừa rạng sáng, Sultan lái xe đưa mẹ và hai em gái chưa chồng của Saidi từ Baghdad đi Amman. Nhưng chiếc xe không bao giờ đến được Amman. Cánh tài xế trên cùng cung đường nói rằng những băng đảng có vũ trang cướp các xe ô tô, tùy thuộc vào tôn giáo của hành khách, thảm sát một số người ở những vườn quả gần đó. Saidi cố gọi cho Sultan mấy lần, nhưng không ai nghe máy.
Một ngày trước có người đã rời Baghdad, trường hợp này thì không có ý định quay lại. Đó là Bố Anmar, chủ khách sạn Orouba. Ông khởi động chiếc xe tải GMC mới mua từ giao dịch với Faraj, chỉnh lại khăn trùm và dải băng buộc đầu rồi nhìn mặt mình trong gương chiếu hậu: ông thấy vô cùng mãn nguyện. Ông đã chuyển số tiền còn lại cho mấy đứa cháu trai ở quê, thị trấn Qalat Sukkar ở miền Nam, nơi ông đang hướng tới, bỏ lại Baghdad, một thành phố ông chẳng còn nhận ra. Sau hai mươi ba năm, thành phố này đã bỏ rơi ông, trở thành một nơi đầy rẫy cảnh giết người và bạo lực vô cớ.
Mười phút sau khi Bố Anmar rời đi, Faraj dỡ bỏ biển hiệu của khách sạn Orouba. Y ném nó xuống đất và giẫm lên, rồi sai một tay thợ trẻ mang tấm biển đến chỗ người viết biển hiệu, bảo ông ta thay cái tên Orouba, hay bất kỳ cái tên “Ả Rập” nào khác, bằng tên khách sạn Đại Tiên Tri. Y tự tin rằng mình có thể thành công ở nơi Bố Anmar đã thất bại.
Đây là mùa thuận lợi cho kinh doanh, theo như Faraj biết. Y đã thực hiện được hai giao dịch lớn trong tháng này và cảm thấy mình đang tiến gần hơn đến những giao dịch khác. Tình cảnh khốc liệt của đất nước này mang lại cơ hội chỉ cho những kẻ có gan và dám liều, mà Faraj thì không thiếu máu liều. Các băng đảng đang hoành hành trên đường phố Baghdad, người dân thì bỏ lại nhà cửa, hàng quán vì sợ bị bắt cóc hay bị giết. Faraj nắm lấy ngay những cơ hội này. Qua một đêm y đã trở thành một tay chủ đất máu mặt với số nhân viên không ngừng tăng. Có người buộc tội y cầm đầu một băng đảng tội phạm, nhưng ngoại trừ mấy cái tát và cú đá mà y giáng xuống bừa phứa cho những kẻ không may ngáng đường y, thì y chưa giết hay cướp của bất kỳ ai, ít nhất là không công khai.
Bốn thanh niên làm việc cho Faraj đi tới khách sạn, mở rộng cánh cửa, chuẩn bị kết thúc những gì mà Bố Anmar đã bắt đầu - dọn sạch mọi thứ cũ kỹ bên trong khách sạn.
Một tay cầm chiếc bát sứ, tay kia cầm chuỗi tràng hạt đen, Faraj quan sát đám thợ với vẻ thỏa mãn. Y đang định tới tiệm bánh mua ít bánh mì và kem đông cho bữa sáng gia đình thì một tiếng nổ lớn vang lên làm tai y ù đặc và cái bát sứ liền tuột khỏi tay. Đó là vụ nổ lớn nhất từng xảy ra ở Batavveen.
2
Faraj không chết trong vụ nổ đó. Y chưa đến lúc. Y còn phải học nhiều. Bởi một lý do, y đã chấp nhận rằng Elishva thực sự có quyền năng bí mật.
Một tuần trước vụ nổ, Faraj đã có thêm một giao dịch thành công. Với Elishva. Rút cuộc bà đã nhượng bộ và đồng ý bán ngôi nhà cũ - vì Daniel cuối cùng đã trở về. Đó là lễ kỷ niệm hai chín năm nhậm chức của Đức Thượng phụ Mar Dinkha IV với vai trò giáo trưởng Giáo hội phương Đông Assyria. Elishva đã tới dự lễ kỷ niệm này ở Nhà thờ Thánh Qardagh ở quận Camp al-Gilani. Bà cảm thấy tinh thần mãn nguyện và tự hào về bản thân vì đã đi qua quảng trường Tayaran, qua chợ rau quả dựng tạm và bãi đỗ xe chật cứng ở cuối phố Sheikh Omar, rồi quay trở về vẫn con đường ấy mà không cảm thấy chút mệt mỏi hay cơn đau chân thường trực nào. Bà đang tính phun nước sân sau rồi quét tước một chút vì giờ bà đã có chút sức lực. Rồi bà nghe thấy tiếng gõ nhẹ nơi cửa trước.
Những cư dân của đường 7, nhất là Mẹ Salim, ông chồng lầm lì cùng các con của mụ, và mấy thằng trai trẻ tọc mạch sống gần đó, đã theo dõi Elishva những tháng gần đây, cố bắt gặp con trai bà. Elishva tâm sự rằng con trai bà đã về và hai mẹ con định làm gì, nhưng chẳng ai thấy có gì đáng tin cả. Cuối cùng họ đi đến kết luận rằng mấy tên trộm biết Elishva lẩm cẩm đang lợi dụng bà để nẫng đi vài món tài sản có giá trị của bà. Nhưng rồi con trai bà thực sự đã xuất hiện. Cậu có mái tóc đen chẻ ngôi giữa và dài xuống hai bên mai, như trong những bức tranh truyền thống về Chúa Jesus. Cậu có nước da trắng tái và vóc dáng mảnh khảnh, với cơ thể của một người hai mươi tuổi. Cậu vận áo sơ mi trắng cổ cao, quần jean rách, giày thể thao trắng, đeo một chiếc túi da đỏ kiểu mà đám thanh niên đến tuổi nhập ngũ hồi đầu thập niên 80 hay đeo. Trông cậu buồn và lãng mạn, như một người tình âu sầu. Cậu bước những bước chậm rãi, rụt rè, vừa đi vừa quan sát xung quanh, tựa một người lạ hay ai đó đi xa đã lâu giờ mới quay về. Cậu dường như đang tìm kiếm những dấu vết của ký ức xa xôi về nơi mình từng sống. Đằng sau cậu là người trợ tế già, Nader Shamouni, nhẩn nha cho người lạ cơ hội nhìn ngắm xung quanh và tìm kiếm mối liên quan với nó mà không can thiệp gì.
Vậy là bà lão thực sự đã nói thật? Con trai bà thực sự đã sống sót khỏi cuộc tàn sát những năm 80? Suốt ba năm qua, người dân địa phương đã nghe vô khối câu chuyện không còn đáng tin nữa. Những người chết hiện lên từ ngục tối của cơ quan an ninh và người không tồn tại từ đâu xuất hiện bên ngoài cửa ngôi nhà xoàng xĩnh của người thân. Có những kẻ trở về từ chuyến đi dài với tên họ và lai lịch mới, những phụ nữ trải qua tuổi thơ sau song sắt nhà tù và học được những luật lệ và quy tắc đối phó với đám cai tù, trước bất cứ điều gì khác trên đời. Có những kẻ nhiều lần thoát chết trong thời độc tài chỉ để thấy bản thân mặt đối mặt với cái chết vô nghĩa trong thời “dân chủ” - khi một chiếc xe máy đâm vào họ giữa đường chẳng hạn. Các tín đồ mất niềm tin khi những người cùng chung niềm tin và cuộc tranh đấu với họ lại phản bội họ cùng các nguyên tắc. Những người phi tôn giáo thì trở thành tín đồ khi thấy “giá trị” và lợi ích của đức tin. Những chuyện kỳ lạ được biết đến suốt ba năm qua quá nhiều không thể nào đếm nổi. Vậy nên chuyện Daniel Tadros Moshe, tay guitar lỏng khỏng, trở về ngôi nhà cũ của mẹ cũng chẳng khó tin đến thế.
Khi hai người đàn ông đến trước cánh cửa gỗ cũ nhà Elishva, người gầy guộc gõ cửa, mỗi lần gõ lại nhìn quanh, ý thức được rằng đám người lạ tọc mạch có thể đang chòng chọc quan sát mình. Cửa mở ra, và Elishva xuất hiện - nhỏ xíu, với chiếc khăn đen trên đầu và cặp kính dày cộp trên mũi. Bà ngước lên, rồi nhích những bước chân mệt mỏi cho đến khi ra ngoài đường đứng trước mặt người thanh niên, quan sát cậu trong ánh ngày rạng rỡ. Đích thị là nó - vẫn chính là thằng bé với nụ cười nhẹ rầu rĩ trong bức ảnh cũ nơi phòng khách. Trông nó vẫn thế, vẫn bộ quần áo và khuôn mặt đó, vẫn nụ cười đó tỏa rạng khắp khuôn mặt khi đôi mắt đen của nó chạm mắt bà lão. Vậy là Thánh George Tử đạo rốt cuộc đã thực hiện lời hứa của mình, mang con trai Elishva về với bà y như buổi sáng nó ngập ngừng và buồn bã rời nhà, đôi ủng nặng nề gõ trên vỉa hè cho đến khi nó khuất dạng ở chỗ rẽ nơi đường chính.
Elishva nhìn quanh thì thấy Mẹ Salim đang đứng trên ngưỡng cửa nhà mụ. Bà thấy cả những người khác nữa - đàn bà trẻ con và đám thanh niên ở đầu kia con đường, về phía đường chính của Bataween, và trên ô cửa sổ tầng cao của những ban công mashrabiya. Bà muốn chắc chắn rằng tất thảy đều đang chứng kiến phép mầu xảy đến với bà. Đây là con trai thân thương của bà, trở về ôm bà.
Cậu ngập ngừng cúi xuống, và bà vòng tay quanh người cậu, kéo con trai về phía mình với thứ sức mạnh bà chưa từng sở hữu.
“Đây là Daniel, Elishva à,” Nader Shamouni nói, dù điều này đã rõ như ban ngày với bà lão. Bà ôm cậu trong vòng tay chừng hai phút hoặc hơn. Rồi bà nhận thấy Mẹ Salim cùng những hàng xóm khác tiến đến, vây quanh bà càng lúc càng đông. Mẹ Salim thực sự đã chạm vào tay Daniel để chắc chắn rằng cậu không phải bóng ma. Daniel chuồi ra khỏi vòng tay bà lão, mỉm cười nhìn bà, rồi nói chuyện với bà. Cậu phải đảm bảo rằng bà vẫn đang tỉnh táo và biết những gì xảy ra xung quanh.
“Bà có khỏe không ạ?” cậu hỏi bằng tiếng Assyria, mỉm cười tươi hơn nữa. Bà chăm chú nhìn khuôn mặt cậu và lướt đôi bàn tay gân guốc dọc hai tay cậu, rồi nhẹ nhàng kéo cậu vào trong nhà, đáp, “Ta khỏe. Ta khỏe.”
Trong nhà, nơi phòng khách, Nader Shamouni nói rành rọt, cô đặt dấu chấm hết cho ảo tưởng của bà lão. Ông nói mình không có nhiều thời gian, rằng ông phải quay về với gia đình ở Ankawa, rằng cha Josiah đang đợi câu trả lời của ông, thế nên bà phải quyết định nhanh lên. Các con gái bà, Matilda và Hilda, giờ đang ở Ankawa, đã cùng con cái lặn lội từ Australia về chỉ với một mục đích duy nhất - đưa bà lão tới Australia cùng họ.
“Đây là Daniel, cháu ngoại bà, Elishva à,” người trợ tế nói. “Con trai cả của Hilda. Cô ấy từng gửi ảnh thằng bé qua thư cho bà xem. Bà không nhận ra cháu mình sao?”
Những cuộc điện thoại giữa Matilda và cha Josiah đã giúp vẽ ra một kế sách: rằng Daniel cháu ngoại bà và Daniel con trai quá cố của bà, giống nhau như đúc, đủ giống để khiến bà lão bối rối. Matilda, Hilda và con trai mình là Daniel đã bay về Iraq và ở tại nhà của Nader Shamouni ở Ankawa. Hôm sau người trợ tế và Daniel tới Baghdad. Người thanh niên, nói tiếng Assyria và tiếng Anh nhưng lại không trôi chảy tiếng Ả Rập, cảm thấy lo lắng về nhiệm vụ này. Cậu bị thôi thúc bởi ý thức trách nhiệm với gia đình hơn là bất cứ nỗi niềm hoài cổ riêng tư hay cảm xúc sâu sắc nào với bà ngoại, người mà cậu chỉ còn nhớ mang máng do cậu đã rời đi cùng gia đình khi còn quá nhỏ.
Toàn bộ kế hoạch phụ thuộc vào một yếu tố duy nhất: bà lão xúc động bởi sự xuất hiện của cháu trai và đồng ý với đề nghị của cậu. Daniel nói với bà ngoại rằng bà phải đi với cậu. Bà phải bán nhà và vứt bỏ hết đồ đạc. Bà phải sống cùng cậu. Cậu nói câu cuối cùng với giọng chân thành. Khi nói chuyện với bà, cậu cảm thấy sức ảnh hưởng của nơi này dần dần thấm vào cậu. Một nỗi buồn bí ẩn tràn ngập cõi lòng khi cậu ngước lên nhìn những bức ảnh đen trắng treo trên tường. Cậu có cảm giác mình đã nhận ra ngôi nhà và mơ hồ nhớ lại những lần cậu và mẹ về thăm ông bà ngoại hơn một thập kỷ trước.
Nader để họ cùng nhau ôn lại những kỷ niệm đó và tới quận Garage al-Amana làm mấy việc vặt. Elishva và cháu trai nói chuyện tới tận đêm. Họ càng nói, thì Daniel càng có ấn tượng rằng cậu và bà lão mỏng manh này thực sự có những kỷ niệm chung, và bà ngoại càng tin vào ảo giác rằng cháu trai và con trai quá cố của mình là cùng một người. Khi Elishva đứng trong bếp nấu bữa tối bên ánh đèn dầu, và bắt gặp khuôn mặt nhăn nheo, nhợt nhạt của mình trên kính cửa sổ, bà biết rằng mình đã đi một chặng dài trên đường đời và không còn cậu con trai ở độ tuổi hai mươi sợ ra trận nữa. Nhưng bà được sống lại những cảm xúc mà suốt bao lâu nay chưa trải qua - hít hà và chạm vào cánh tay con trai, vuốt ve tóc nó và để nó vùi đầu vào lòng mình. Đó là những điều quý giá có ý nghĩa trong đời bà, chứ không chỉ là những ảo tưởng trong tâm trí, và bà sẵn lòng làm bất cứ gì để gìn giữ chúng.
Bà rửa chiếc bồn sứ lớn, dù nó đã sạch bong, và đặt một cái khay nhôm lên để đựng trứng ốp lết cà chua từ chảo rán. Bà thấy con mèo của mình, Nabu, từ căn bếp nhỏ ló mặt ra, bị thu hút bởi mùi thức ăn, và đúng vào khoảnh khắc đó bà quyết định chấp nhận đề nghị của con trai và cũng là cháu trai bà. Bà sẽ làm bất cứ gì để chắc chắn rằng mình có thể tiếp tục vuốt ve da tóc nó và hít hà thứ mùi thơ trẻ của nó, điều mà bà chưa từng quên.
3
Daniel mở điện thoại di động gọi cho mẹ mình ở Ankawa. Cậu nói với mẹ bằng thứ tiếng Anh rõ rành, “Giờ đến lúc hành động rồi mẹ, đừng nói sự thật. Mẹ nói chuyện với bà nhé, nhưng nhớ chiều theo ý bà. Đồng ý với mọi điều bà nói.”
Cậu đưa điện thoại cho bà lão, và hai người phụ nữ nói chuyện hòa nhã với nhau trong mười lăm phút. Elishva đang cảm thấy hạnh phúc và nhìn cuộc đời bằng ánh mắt khác. Bà bảo Daniel quỳ trước bức tranh Thánh George và cảm tạ Người đã thực hiện lời hứa với bà. Khi bà im lặng chắp tay trước bức tranh, bà chờ đợi vị thánh nói vài lời để con trai bà tin rằng phép mầu thực sự đã xảy ra, nhưng vị thánh chẳng hé môi.
Ánh đèn dầu lu dần. Elishva cố đứng lên đổ thêm dầu. Daniel đi giúp nhưng phát hiện ra thùng dầu rỗng không. Dầu đã cạn sạch mà bà lão chẳng hay biết. Elishva coi đây là một dấu hiệu nữa để bà tin rằng thời gian của bà ở Baghdad đang dần hết.
Bán nhà cùng đống đồ đạc cũ quả không dễ dàng.
Elishva nghĩ đến đám thanh niên từng ghé thăm bà vài lần và bảo bà bán nhà để tránh nguy cơ bị phá nhà và cải tạo nó thành một trung tâm văn hóa hay gì đó, nhưng lâu lắm rồi chẳng thấy mặt họ đâu. Vậy chỉ còn lại mỗi Faraj tay cò nhà đất.
Faraj nhận được tin lạ rằng con trai của Elishva đã tái xuất. Có lẽ thằng con nay là tù nhân chiến tranh ở Iran mới quay về. Có lẽ hắn đã mất trí nhớ, như trong phim nước ngoài ấy. Nhưng đám người làm thuê trấn an y rằng con trai bà lão trông vẫn còn trẻ, trong khi lẽ ra hắn cỡ bốn mươi rồi.
“Có khi người ta đã cho hắn vào tủ đông suốt hai mươi năm, đến giờ thì rã đông và đưa hắn về với mẹ cũng nên,” Hammoudy, con trai út của Faraj nói. Bố nó bất ngờ giáng một cái tát vào má nó, khiến tất cả đều im bặt.
Như thường lệ, Faraj có xu hướng dè trước điều tồi tệ nhất và lên tinh thần đối mặt với nó. Thế rồi, hai mươi tư tiếng đồng hồ sau Daniel tới, người thanh niên xuất hiện ở văn phòng của Faraj cùng Nader Shamouni, đề nghị bán căn nhà của Elishva.
4
Faraj yêu cầu đến xem nhà để kiểm tra cấu trúc trước khi gật đầu với cái giá cuối cùng. Trong lúc đó, Elishva đã gọi Hadi từ nhà bên sang và bảo gã là bà muốn bán tất cả đồ đạc. Hadi ngỡ ngàng đến cứng họng suốt ba mươi giây. Gã đợi bà lão nói nốt những gì đang nói, nhưng bà chỉ tóm gọn mọi thứ trong đúng một câu. Gã đoan chắc bà lão Assyria này ghét gã như mẻ, cớ sao lại thay đổi bất ngờ đến thế?
Gã xem xét nội thất ngôi nhà cùng bà. Có cả đống đồ đạc và đồ trang trí - giường làm từ sắt và đồng, những món trang trí hoa mỹ và những chiếc bàn gỗ độc đáo. Thảy đều là đồ cổ, ngoại trừ cái bếp và mấy vật dụng khác. Làm một phép tính nhanh, Hadi thấy mình không có đủ tiền mua tất cả những món này, nhưng gã có thể mượn bạn bải đây là cơ hội có một không hai.
Hadi muốn bà lão ra giá tổng cho tất cả chỗ đồ đạc này, trong khi bà lại muốn mặc cả từng món một. Sau một tiếng trao đổi, gã thuyết phục được bà chấp nhận đề nghị của gã, rồi gã rời ngôi nhà để đi gom số tiền gã cần từ chỗ bạn bè.
Điều kiện duy nhất của bà lão là gã không được mang đồ đạc đi khi bà còn ở đây. Bà không muốn thấy ngôi nhà biến mất trước mắt mình mà muốn nhớ đến nó như vốn thế, ngăn nắp sạch sẽ và có mùi của những người từng sống trong đó và ra đi tại đó.
Đêm trước khi đi, bà lão thức đến khuya trong phòng khách. Bà ngồi trên xô pha đối diện bức tranh Thánh George mà nói chuyện với Người thật lâu, ánh sáng tỏa ra từ chân nến thủy tinh trang trí trong các góc phòng tạo ra không gian của một lễ ban phước. Vị thánh không nói gì. Người đã mang đến phép mầu và đến đây vai trò của Người đã hết - đó là điều bà lão cuối cùng cũng hiểu ra. Một chuyện xảy đến với bà. Bà đã gói ghém mọi thứ mang theo ký ức gia đình, kể cả quần áo trẻ con của các con bà. Thứ duy nhất để lại là bức tranh bà trân trọng nhất vẽ vị thánh mà bà cũng trân trọng nhất, nhưng bà cảm thấy không thể mang nó theo với cái khung gỗ nặng nề như vậy.
Bà nhấc mình, trước con mắt theo dõi của con mèo Nabu, đứng lên xô pha dựa vào bức tường chỗ treo tranh, nhấc tranh lên để thả rơi sợi dây dày từ trên móc xuống, rồi dỡ hẳn tranh ra, để lại một khoảng vuông nhợt nhạt và mấy sợi tơ nhện trên tường. Bà đặt bức tranh úp xuống sàn và gạt mấy cái chốt nhỏ cố định mặt sau của khung tranh. Khi bà lấy bức tranh ra, nó mỏng và dễ dàng rủ xuống trong tay bà. Nó đã mất ít nhiều vẻ huy hoàng ban đầu, nhưng giờ bà có thể gần hơn khuôn mặt của vị thánh - hàng lông mày mảnh và môi dưới đỏ rạng rỡ. Bà tính cuộn bức tranh lại thành hình trụ và cho nó vào chỗ tài sản quý giá khác của mình, nhưng rồi bà nảy ra một ý khác. Bà về phòng ngủ lấy một cây kéo may cỡ lớn, rồi trở ra quỳ xuống cạnh bức tranh. Bà đẩy Nabu ra khi nó cố nhảy lên lòng bà, và bắt đầu cắt bức tranh, tạo ra một đường thẳng dài cho đến khi đầu hai lưỡi kéo chạm sát đầu vị thánh. Rồi bà cắt theo đường tròn, vẽ nên một vầng hào quang quanh khuôn mặt đẹp của Người. Khi vòng tròn hoàn tất, bà cắt khuôn mặt ra. Đây là phần mà bà yêu thích. Với cái lỗ mà khuôn mặt biến mất để lại, giờ bức tranh nom thật thù địch với bà. Bà bỏ nó lại đó và, với Nabu theo chân, mang hình khuôn mặt về phòng ngủ.
5
Để đánh dấu chuyến lên đường của Elishva, Mẹ Salim đã có một màn khóc lóc ỉ ôi giữa đường. Từ sáng sớm mụ đã bắt đầu, và nhiều người hàng xóm lần đầu tiên thấy hai cánh tay trắng phau của mụ lúc mụ buồn bã giơ tay lên khi xe chở Elishva cùng cháu trai men theo đường rời đi. Lúc mụ giơ tay, tay áo rộng của mụ tuột xuống, để lộ màu trắng lóa của đôi tay tròn lẳn mịn màng, nước da thường thấy ở một người đàn bà còn trẻ thay vì người ở độ tuổi mụ. Vài người băn khoăn thành tiếng rằng tại sao Mẹ Salim lại mặc áo tay rộng như vậy nếu mụ không hài lòng về bản thân và tay mụ sao mà trắng thế.
Trước khi đóng cửa trước lại, Elishva gọi Nabu, nhưng con mèo đã trốn lên cầu thang. Bà lớn tiếng gọi nó lần nữa, con mèo bèn nhìn về phía bà cất tiếng meo trầm bổng, như thể nói rằng nó không phải kẻ hèn nhát và sẽ không rời khỏi ngôi nhà, rồi biến mất ở chỗ rẽ cầu thang. Elishva ngước lên nhìn ngôi nhà rồi đưa chìa khóa cho một thanh niên làm việc cho Faraj.
Mẹ Salim dự đoán tai họa sẽ giáng xuống con đường này vì Elishva đã ra đi. Mụ thấy tay buôn đồ cũ Hadi cùng mấy kẻ trai tráng khuân đồ đạc từ nhà bà lão về nhà mình và nhớ lại hồi tháng Tư năm 2003, khi người dân hôi của nhà của các quan chức thuộc chế độ cũ. Mụ hét lên với Hadi và đám người giúp gã, nghĩ rằng họ đang khoắng nhà bà lão, và chửi thề liên mồm cho đến khi các bạn mụ lôi được mụ vào trong nhà và đóng cửa lại sau lưng.
Hadi khuân hết đồ của Elishva về nhà mình, bỏ lại đằng sau chỉ toàn rác rưởi, bao gồm cả bức chân dung Thánh George với khuôn mặt bị cắt ra. Khi Hadi thấy bức tranh, gã sợ rúm ró, đoán chừng đó là ma thuật hoặc một nghi lễ tôn giáo kỳ lạ nào đó.
Cánh cửa nhà Hadi vẫn mở toang, người người vào ra xem có gì mua được. Đến trưa Hadi đã bán được phân nửa chỗ đồ cho những người sống trong khu và cảm thấy mình sẽ được lãi kha khá. Gã ngước lên bức tường giữa nhà gã và nhà bà lão thì thấy con mèo bẩn thỉu lặng lẽ nhìn xuống gã, bất động như tượng. Trong một thoáng, gã có cảm giác con mèo đang nhìn gã bằng cặp mắt của bà lão. Gã cầm một viên gạch nhỏ lên ném vào con mèo nhưng trượt, mà nó cũng chẳng buồn nhúc nhích.
Đến cuối ngày, Hadi đã quá mệt. Khi gã cố chống mắt lên, một bóng ma sống động đang đi dọc những bức tường của hai ngôi nhà. Hắn nhảy lên bức tường đổ nát nhà Hadi rồi đáp xuống mái nhà Elishva. Hắn đi xuống cầu thang thì thấy Nabu ở trong sân sau. Con mèo cất tiếng gào mệt mỏi.
Sinh vật này, trên đường chạy trốn khỏi các cơ quan an ninh và bị truy nã bởi vô số băng đảng, lê gối đi xuống xem xét những gì còn lại của bức tranh Thánh George. Hắn cầm nó lên nhìn cái lỗ nơi cái đầu bị cắt ra để lại, rồi cẩn thận gấp bức tranh lại vài lần cho đến khi nó nhỏ chỉ bằng quyển vở đi học. Hắn nhìn quanh căn phòng và thấy lòng nhói buồn. Hắn sẽ không bao giờ gặp lại bà lão đã góp phần mang hắn đến với cuộc đời và đặt cho hắn cái tên của người con trai mất tích. Hắn cảm thấy gần gũi với bà hơn những người khác và có cảm giác mình đã giúp giữ lại ký ức về con trai bà. Giờ bà đã đi xa, hắn đã mất một trong những lý do để tồn tại. Bà bỏ lại hắn mà không nhận ra rằng bà cũng đã bỏ lại một trong những sợi chỉ cuối cùng kết nối bà với người con trai đã mất.
Sinh vật này ngồi xuống dựa lưng vào tường. Nabu lại gần cọ vào đôi ủng của hắn, vương lại mấy sợi lông rụng, rồi cuộn tròn thành quả bóng bên chân hắn, xích lại gần bởi hơi ấm của hắn.
Họ cứ như thế cho đến sáng.