Đầu giờ sáng, trợ lý của Faraj đến thông báo với y rằng một số người đang đi quanh khu, đánh dấu tường những ngôi nhà y sở hữu bằng sơn xịt xanh. Thực tế thì họ đến từ một tổ chức từ thiện chuyên bảo tồn các ngôi nhà cổ ở Baghdad và được một số nhân viên công vụ từ hội đồng thành phố và hội đồng tỉnh hộ tống. Faraj cảm thấy bất an: y cầm chiếc cặp da nhỏ lên và ra ngoài tìm họ, đi cùng mấy thanh niên sống trong khu vốn chạy việc cho y.
Y thấy mấy người lạ ở trước nhà Elishva. Họ gõ cửa nhưng không ai ra mở. Cuối cùng, Mẹ Salim ló mặt ra khỏi nhà mụ bảo rằng Elishva tới nhà thờ rồi. Một người đàn ông trẻ tuổi lắc lắc lon son rồi xịt một chữ X màu xanh dương lên tường. Họ tới nhà Hadi và xịt một chữ X khác lên tường, nhưng lần này màu đen. Tức là ngôi nhà này không thích hợp để cải tạo và có thể bị dỡ bỏ. Faraj không hiểu mấy người này đang nói gì. Rõ ràng là họ muốn kiểm soát những ngôi nhà của y, hay những ngôi nhà y thuê từ nhà nước theo họp đồng hợp pháp và đúng thủ tục. Họ bảo y rằng đây chỉ là quy trình vì mục đích thống kê và để nhận biết những ngôi nhà lịch sử, đặc biệt là những nhà có cửa sổ mashrabiya gỗ. Nhưng Faraj, kẻ dính dáng đến bốn hoặc năm ngôi nhà cổ như thế, thì xem đó là kế hoạch cướp tài sản khỏi tay y, vì thế y bèn vội vàng tới tận nơi để nói cho ra nhẽ với đám người trẻ tuổi kia. Một người giơ ngón tay trước mặt Faraj cảnh báo y đang cản trở nhân viên chính phủ thi hành công vụ. Mấy người hàng xóm ra can và kéo Faraj đi. Cảm thấy không ổn, người của tổ chức từ thiện và các nhân viên chính phủ đi cùng họ cũng bỏ về.
Faraj sau đó phát hiện ra rằng mấy người trong số họ từng tới đây riêng rẽ và ghé thăm Elishva hòng thuyết phục bà bán ngôi nhà cho nhà nước, với nhượng bộ rằng bà có thể tiếp tục ở đó, chừng nào bà còn sống, mà không phải trả một đồng tiền thuê nhà nào. Khi nào bà qua đời hoặc bỏ nhà không, nhà nước sẽ tự động có quyền sở hữu vô giới hạn đối với ngôi nhà.
Liệu bà có chấp nhận đề nghị này không? Nếu thế đó sẽ là thảm họa với Faraj. Nhưng bà già hình như đã từ chối. Bà nói với họ bà không thể quyết định gì về ngôi nhà khi vắng mặt con trai. Càng nghe bà trình bày, họ càng hoang mang khó hiểu. Vì họ đang giải quyết vài trường hợp nhà tương tự ở nhiều nơi khác nhau tại trung tâm Baghdad, nên họ không ở lại lâu với bà được. Trong sổ họ sẽ ghi lại vài dòng về ngôi nhà và chủ sở hữu, và có lẽ họ sẽ định ngày để kiểm chứng kỹ hơn những gì Elishva nói. Không như những người của tổ chức từ thiện, Faraj hiểu ý Elishva khi nói về con trai, nhưng bản thân y cũng chưa gặp cậu ta bao giờ. Elishva đứng ngoài hiệu bánh và cửa hàng phô mai, nói chuyện về những bữa ăn chuẩn bị nấu cho con trai. Cảnh tượng tương tự cũng xảy ra trong sân nhà Mẹ Salim khi các bà các cô dùng búa đập quả óc chó ăn cùng trà nóng. Mấy bà già ban đầu có vẻ buồn, vì Elishva tội nghiệp lẩm cẩm với chiếc khăn đỏ kỳ lạ trên đầu cuối cùng đã mất trí. Nhưng tối muộn hôm đó, vài người đã thấy một thanh niên từ cửa trước nhà bà đi ra, được bóng tối bao trùm.
Khi tin tức lan ra, mấy thanh niên bèn mai phục ở góc đường với hy vọng vị khách lạ có thể xuất hiện trở lại, nhưng hắn không lộ diện. Trong vòng một tuần là họ đã quên biến mất, nhưng rồi lại tình cờ tận mắt thấy một người đàn ông đi ra khỏi ngôi nhà. Khi họ đuổi theo, người đàn ông guồng chân nhanh hơn họ và biến mất dạng.
Mẹ Salim buôn với hàng xóm rằng chồng mụ biết sự thật. Ông ta dành phần lớn thời gian ngồi bên cửa sổ ban công tầng trên, đọc báo và thi thoảng lại ngước lên nhìn người đi lại dưới đường hay ra vào nhà. Đó là thú vui duy nhất của ông ta. Lão già lầm lì đó tự tin quả quyết rằng vị khách này là một tên trộm hoặc một dạng tội phạm nào đó lừa Elishva tin rằng hắn là con trai bà và dùng nhà bà làm nơi trú ẩn. Một phụ nữ trẻ đến buổi tụ tập ở nhà Mẹ Salim nghe được dị bản này thì la lên rằng ắt hẳn tay cò nhà đất Faraj đứng sau việc này. Mẹ Salim há hốc mồm ngạc nhiên. Người phụ nữ trẻ hằn học nói rằng Faraj đứng sau mọi chuyện tồi tệ xảy ra trong khu. Mà tại sao lại không chứ? Y từng đuổi cô ta ra khỏi nhà một đêm tăm tối, chẳng hề xót thương mẹ con cô ta. Trong những buổi gặp gỡ khác nơi sân nhà Mẹ Salim, câu chuyện càng trở nên ăn khớp hơn.
Như thể quên mất những gì mình vừa nói trước đó, người hàng xóm hằn học kể rằng gã thanh niên đã trèo lên bức tường thấp nhà Hadi rồi nhảy lên chỗ trống lộ thiên nơi hai căn phòng sập xuống ở tầng trên nhà Elishva. Hắn định đi xuống nhà và bóp cổ bà trên giường. Sẽ chẳng ai buồn thắc mắc tại sao một bà lão già nua như vậy lại chết. Họ sẽ nhủ rằng Chúa đã đưa linh hồn của bà đi trong giấc ngủ, và rồi sẽ quên bẵng chuyện đó. Tên tội phạm trẻ tuổi xuống cầu thang và thấy bà đang ngồi bên ngọn đèn dầu trong căn phòng lớn sát mặt đường, vừa cầu nguyện vừa trò chuyện với Thánh George. Lời bà nói làm mềm lòng hắn, dù hắn chẳng hiểu thứ ngôn ngữ đó. Bà nói bằng tiếng Syria với bức tranh lớn treo trên tường, và gã trai trẻ cảm thấy ai đó đáp lời bà. Hắn tiến gần hơn tới cửa và chăm chú lắng nghe. Âm thanh đó ắt hẳn là cuộc trò chuyện giữa hai người. Hắn nhìn vào căn phòng. Trong ánh sáng mờ mờ, tất cả những gì hắn thấy là một bà già nắm chặt cây thánh giá bằng kim loại trên chuỗi tràng hạt, đưa lên môi. Một con mèo gầy nhom cọ vào chân hắn, rồi bước đi và ngồi bên chân Elishva. Tên tội phạm trẻ tuổi bất động, như thể bà lão đã khiến hắn mọc rễ tại chỗ với cái nhìn dịu dàng tình mẫu tử. “Lại đây, con trai của mẹ,” bà nói. Hắn ngoan ngoãn và đầy quy phục bước tới, như một đứa trẻ, rồi nhào vào cánh tay bà, khóc nức nở.
Tất nhiên Mẹ Salim và mấy bà già khác không tin câu chuyện này, nhưng rồi nhanh chóng nối đuôi nhau, tất cả bọn họ đều nói, “Cầu Chúa ban phước lành cho Nhà tiên tri và gia quyến của Nhà tiên tri.” Câu chuyện khiến họ rùng cả mình. Người phụ nữ hằn học đã khiến mọi người tin vào câu chuyện của mình. Nó được thêu dệt hay không đâu có gì quan trọng; quan trọng là nó cảm động, và lý do họ dành một phần thời gian trong ngày nơi sân nhà Mẹ Salim là để thoát khỏi Bataween cùng chuyện thường nhật của nó và bồng bềnh trong một thế giới khác. Người phụ nữ quái quỷ ôm mối hận với Faraj đang dốc sức mình thực hiện nghĩa vụ, và họ biết ơn cô ta vì điều đó.
“Chúa nguyền rủa mi tối nay, Faraj. Cầu Chúa mang mi đi,” Mẹ Salim hét lên. Những bà khác lặp lại lời nguyền và giáng xuống đầu y đủ loại lời nguyền rủa và lăng mạ khác. Người phụ nữ hận thù cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng trước hành động của họ, và bỗng không còn quá căm ghét Faraj nữa.
2
Trời ấm, nên Elishva cởi chiếc áo len tối màu đang mặc ra. Bà thay một chiếc váy mùa hè màu xanh dương sẫm. Bà không tháo chiếc khăn buộc đầu màu đỏ điểm hoa trắng, thứ đã trở thành biểu tượng cho sự biến chuyển của bà. Tuần trước bà đã không tới nhà thờ quen thuộc. Thay vào đó, bà thích tới Nhà thờ Thánh Qardagh tại Akad al-Nasara ở Sheikh Omar hơn, để hoàn thành một số lời thề nguyện “Hồi giáo” đã quá hạn. Bà xoa một nắm bột henna nhão lên tay nắm kim loại của cánh cửa gỗ lớn tại Nhà thờ Thánh George của Anh giáo ở Bab al-Sharqi. Bà vẩy nước cho khu vườn hồng nho nhỏ ở Nhà thờ Chính Thống giáo Syria. Những nhiệm vụ phức tạp đó ngốn của bà nguyên tuần. Bà xoa một nắm bột henna nhão khác lên cửa Nhà thờ Hồi giáo Ortali gần đầu đường Saadoun, nhà thờ Hồi giáo duy nhất ở Bataween.
Tại Nhà thờ Thánh Odisho, bà thắp que hương trầm Ấn Độ lên bàn thờ Đức Mẹ Đồng trinh Maria trước khi cha Josiah đến. Giờ tất cả những lời thề nguyện của bà đã được hoàn thành. Tuần qua cha Josiah đã nhận được hai cuộc gọi từ con gái út của Elishva, và ông đã định cử người trợ tế, Nader Shamouni, tới nhà Elishva trong trường hợp bà không đến vào Chủ nhật tới.
Trước khi bắt đầu buổi lễ, cha Josiah mỉm cười bước tới chỗ Elishva bảo bà rằng các cô con gái cứ hỏi tin bà mãi và trưa nay Matilda sẽ gọi lại. Elishva cười tươi hài lòng và cảm ơn cha Josiah. Rồi bà dự Thánh lễ, thầm thì lời cầu nguyện: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Nhưng tâm trí bà thì để ở cuộc điện thoại đã trễ mất ba tuần.
Sau Thánh lễ, Elishva giúp phân phát chỗ đồ ăn mà các phụ nữ trong giáo đoàn mang từ nhà tới bày trên những bàn lớn trong sảnh nhà thờ. Bà ăn cùng họ, và khi ăn xong, mọi người tạm biệt cha Josiah, mấy người trẻ tuổi trông coi nhà thờ, người chăm nom, các cảnh sát trên chiếc xe chính phủ đỗ ngoài cổng để bảo vệ nhà thờ. Hầu hết mọi người đã ra về, nhưng Elishva vẫn ở lại, ngồi đợi con gọi điện. Khi cảm thấy không gian chìm vào im ắng, bà bắt đầu thất vọng. Điện thoại của cha Josiah reo hai, ba lần, nhưng là điện của người nhà ông, các linh mục khác và bạn bè ông. Cuối cùng, cuộc gọi Elishva chờ đợi cũng đến. Cha Josiah nghe giọng nói ở đầu dây bên kia, mỉm cười, đưa điện thoại cho Elishva.
“Hilda ốm rồi. Bọn con không muốn nói với mẹ. Tâm thần bất ổn. Chị ấy đang nằm viện, nhưng giờ thì đỡ hơn rồi,” Matilda nói.
“Daniel về rồi, Matilda à,” Elishva nói. “Con trai mẹ trở về rồi.”
“Hilda buồn lắm, con nói thật đấy. Chị ấy bảo sẽ không bao giờ nói chuyện với mẹ nữa. Giờ chị ấy không ở đây với con. Chị không nghe thấy những gì con đang nói với mẹ, nhưng nếu mà biết chị ấy sẽ buồn lắm.”
“Giờ nó đang ở với mẹ,” Elishva tiếp tục. “Nó không chịu ra ngoài vì người khác có thể thấy nó. Buổi tối nó mới ra ngoài. Từ mái nhà. Nó biến mất cả ngày trời, nhưng rồi vẫn quay về.”
“Mẹ có khỏe không? Con gọi cho mẹ cả trăm cuộc một ngày nhưng không tài nào liên lạc nổi. Con phát điên lên được. Có lúc con gọi thì người lạ trả lời. Con không biết là có chuyện gì nữa.” Matilda nói.
“Mẹ khỏe. Hilda và các con nó thế nào? Lũ trẻ nhà con thế nào? Chúng đã lớn chưa? Cho mẹ nói chuyện với cháu đi.”
“Hilda đang nằm viện. Giờ chị ấy đỡ rồi. Con trai lớn của chị ấy giống Daniel lắm. Năm nay nó muốn bắt đầu học y.”
“Daniel là tình yêu của mẹ. Con trai đáng yêu của mẹ. Đứa con thân thương của mẹ.”
“Bọn con đã gửi cho mẹ năm trăm đô la. Tự tay con đã gửi tới văn phòng của Ayad al-Hadidi, người đổi tiền ở Karrada. Lấy tên người nhận là cha Josiah. Cha có thể rút tiền ra đưa cho mẹ. Mẹ có cần gì không?”
“Mẹ cần con quay về mang chút hơi ấm cho ngôi nhà.”
“Bọn con sẽ không quay về đâu. Mẹ cần phải tới đây. Ở đây mẹ sẽ thoải mái hơn đấy ạ,” Matilda nói. “Ở Melbourne này có một nhà thờ Assyria tên là Thánh George. Điều đó có ý nghĩa gì với mẹ không? Con đã nói với linh mục, cha Antoon Mikhail và cha sẽ chào đón mẹ đến.”
“Mẹ không đi đâu. Mẹ ở đây với Daniel.”
“Hãy nói với thằng Daniel đấy là các con gái mẹ cần mẹ. Nó sẽ hiểu.”
“Con hiểu mà, Matilda.”
“Giờ đất nước chỉ toàn khói lửa quanh mẹ thôi. Chúa ơi! Được rồi, từ giờ trở đi con sẽ rèn luyện bản thân không được buồn và không khóc nữa. Mẹ sẽ làm chúng con sống dở chết dở ở đây. Mẹ thích hành hạ bọn con.”
“Đừng hành hạ bản thân và đừng buồn con ạ,” Elishva đáp. “Chừng nào bình tĩnh hơn thì hẵng gọi cho mẹ.”
“Ý mẹ là gì, chừng nào?” Matilda lớn tiếng. Elishva trả lại điện thoại cho cha Josiah. Chân bà tê cứng do đứng quá lâu, vì bà luôn đứng nói chuyện điện thoại. Bà cảm thấy con giận khẽ cuộn xoáy trong lồng ngực. Bà ngồi xuống, vẫn lắng nghe cha Josiah trao đổi khi Matilda nói với ông về số tiền chuyển và các nhu cầu vật chất của Elishva. Cô thắc mắc về khoản lương hưu mà Elishva nhận được ba tháng một lần và về sự hỗ trợ cho người có hoàn cảnh khó khăn theo đăng ký ở nhà thờ. Matilda cứ tiếp tục phàn nàn rằng bọn họ chẳng dư dả gì nhưng đang lên kế hoạch về nước để đưa Elishva đi trước khi mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn.
“Nếu cần, chúng con sẽ phải dùng vũ lực đưa bà đi. Bà không thể cứ hành hạ chúng con mãi như thế này được,” Matilda nói với vị linh mục.
Cha Josiah cố xoa dịu cô. Ông không ủng hộ kế hoạch của Matilda. Bổn phận tôn giáo không cho phép ông khuyến khích các thành viên giáo đoàn di cư. Nhưng ông không ngăn cản ai làm việc đó, và ông sẽ vẫn chứng thực một cách bình thường những giấy tờ tôn giáo liên quan đến kết hôn, khai sinh, vân vân mà những người sắp di cư có thể cần để đơn giản hóa thủ tục gia nhập một nhà thờ Assyria ở bất cứ nơi nào họ đến.
Cuộc điện thoại chấm dứt, và Elishva trông có vẻ không hài lòng. Vị linh mục tiễn bà ra cổng và đề nghị cử một người trông coi nhà thờ đưa bà về, nhưng bà nói sẽ tự bắt xe buýt. Trước khi đi, bà quay sang cha Josiah, tháo đôi kính to đùng ra, và, mắt lóe lên, tuyên bố chắc nịch rằng từ nay bà không muốn nhận bất kỳ cuộc gọi nào nữa. Bà sẽ không nghe điện từ con gái, và cũng không yêu cầu gọi cho chúng nữa. Cha Josiah cười và cố vỗ nhẹ lên bờ vai xương xẩu của bà, nhưng bà đáp lại rằng nếu ông không chấp thuận đề nghị này thì tuần tới bà sẽ đến Nhà thờ Thánh Qardagh và không bao giờ quay lại nhà thờ của ông nữa.
3
Trời chuyển ấm ngỡ ngàng, còn Mahmoud thì trở mình liên tục trên chiếc giường trong căn phòng ở khách sạn Orouba. Xung quanh tối om, đã mất điện mấy tiếng đồng hồ rồi. Anh đoán mùa hè sắp tới sẽ rất nóng, nhưng không rõ Bố Anmar đã có kế hoạch lắp điều hòa cho các căn phòng hay chưa.
Anh biết rằng một số khách sạn ở Bataween, phố Saadoun và Karrada đã bắt đầu chuẩn bị cho cái nóng mùa hè gay gắt, nhất là những khách sạn có khách lưu trú thường xuyên. Họ đã bắt tay vào mua máy phát điện diesel có thể đặt từ các xưởng tư. Máy phát điện kết nối một động cơ xe buýt Kia với một đầu máy phát điện và rẻ hơn máy tương tự nhập từ nước ngoài nhiều. Nhưng Bố Anmar không giống những chủ khách sạn khác. Ông không đủ tiền mua loại máy phát điện đó và trả tiền nhiên liệu chạy máy. Giờ chỉ còn bốn vị khách trong khách sạn, mỗi người trả số tiền chỉ tương đương mười đô la một ngày.
Mahmoud đã có kinh nghiệm từ những mùa hè trước đó với những đêm nóng như thiêu như đốt không thể ngủ nổi khiến ta kiệt sức và uể oải vô phương cứu chữa suốt ngày dài. Lúc này anh không cần những biến chứng kiểu như vậy, nhất là khi anh đang nỗ lực chứng minh vị trí của mình ở tạp chí và giữ được sự tin tưởng của tổng biên tập.
Saidi lôi Mahmoud đi khắp nơi, ngoài việc viết báo và kiểm tra dàn trang. Khi Saidi ra ngoài, Mahmoud ngồi trong phòng làm việc trả lời điện thoại từ các nhà in hay đơn vị quảng cáo. Saidi luôn để một điện thoại di động đang sạc trong phòng, và khi nó reo, không ai ngoài Mahmoud dám nghe. Có lần anh nhận được cuộc gọi từ một viên chức của một khối nghị viện lớn, buộc tội tạp chí đã đăng bài mà theo người này nói là xuyên tạc, rằng một nhóm vũ trang trung thành với vị công chức này đã ám sát một số đối thủ của ông ta. Sợ hãi, Mahmoud xin lỗi và giải thích rằng tổng biên tập không ở tòa soạn và tạp chí lấy phóng sự từ Agence France-Presse, hãng tin của Pháp.
“Không phải là anh ở cùng phe với chúng tôi sao?” người đàn ông nói. “Tại sao anh lại làm những việc khiến chúng tôi đau đầu?”
Mahmoud rối rít xin lỗi, nhưng anh cũng thầm nguyền rủa cú ngoặt đã đẩy anh vào tình huống khó xử này. Anh quyết định gọi Saidi thông báo với ông, nhưng Saidi lại tỏ ra khá bình tĩnh và bảo Mahmoud không phải để tâm quá nhiều làm gì.
Lần khác Mahmoud trả lời cuộc gọi từ một số cá nhân. Trên màn hình hiện 666, và anh biết từ một bộ phim Mỹ rằng đó là số của “quái vật biển cả” trong cuốn sách Khải huyền.
Quái vật muốn gì? Có phải tạp chí đã đăng tin bất lợi cho quái vật hay gì? “A lô…”
Đó là Nawal al-Wazir, nhưng có vẻ cô không để ý rằng người nhấc máy không phải Saidi. Cô tuôn ra một tràng khiến Mahmoud như bị sét đánh, nhưng anh không nói gì, nếu không anh sẽ phải tiết lộ danh tính.
“Sao ông không trả lời?” cô hỏi.
Cô càng thêm cáu tiết, và trong lúc khó xử Mahmoud đã quyết định tắt máy. Nếu Saidi biết đến cuộc gọi này thì sao nhỉ? Tại sao ông lại để điện thoại của mình ở đây? Tại sao ông không dành một chiếc điện thoại cho riêng tạp chí? Nawal sẽ nghĩ chính Saidi đã ngắt cuộc gọi với cô. Có vẻ quan hệ của họ không tốt lắm và có vẻ cô thực sự là “bạn tình” của ông, như Farid Shawwaf nói ngày hôm đó.
Mahmoud hoàn thành công việc vào buổi trưa. Farid Shawwaf và các biên tập viên khác đã rời tòa nhà. Người tạp vụ mang cho anh bữa trưa mua ở nhà hàng bên cạnh. Mahmoud cảm thấy tê dại và kiệt sức. Hơi lạnh từ điều hòa phả vào mặt khiến anh buồn ngủ. Anh không muốn gặp bạn bè ở quán cà phê hay trở về khách sạn Orouba, nên anh bèn nằm xuống chiếc xô pha da đỏ trong phòng làm việc của Saidi, nhắm mắt dỗ giấc. Trong nỗ lực thư giãn, anh tưởng tượng Nawal al-Wazir bước vào phòng, cởi quần áo ra, nằm duỗi dài bên anh trên xô pha, và vòng cánh tay mềm mại, tròn lẳn quanh hông anh.
4
Saidi đánh thức Mahmoud dậy lúc hoàng hôn. Ông đã gọi anh mấy cuộc. Tâm trạng ông đang khá phấn khích nên ông không hỏi Mahmoud tại sao không nhấc máy. Mahmoud theo Saidi đi quanh tòa soạn. Saidi mở ngăn kéo chiếc bàn làm việc lớn của ông, lấy ít giấy tờ ra cất vào cặp táp. Ông nói với Mahmoud rằng hôm nay ông có một giao dịch xuất sắc.
“Những gì chuẩn tướng Majid nói là đúng,” ông tiết lộ mà không giải thích mình đang nhắc đến phần nào trong đoạn nào mà chuẩn tướng từng phát ngôn.
Rồi Saidi vào nhà vệ sinh vài phút, Mahmoud bèn tận dụng cơ hội đó để bình tĩnh lại. Anh rửa mặt ở bồn bên ngoài và chỉnh trang đầu tóc, quần áo. Khi Saidi ra khỏi nhà vệ sinh, ông bảo Mahmoud đi cùng ông làm mấy việc vặt rồi đi ăn mừng.
Mahmoud rời đi cùng Saidi trên chiếc xe thời thượng của ông. Đầu tiên họ tới một văn phòng bất động sản ở Karrada, và Saidi thương thảo với người môi giới về một mảnh đất trông ra sông Tigris. Họ bị kẹt lại ở văn phòng đó và uống bốn tách trà. Mahmoud xem ti vi trong khi Saidi bận thương thảo. Đến khi họ rời khỏi đó, Mahmoud cảm thấy đói bụng, tự hỏi không biết Saidi đã có kế hoạch gì cho buổi tối hay ông định ăn mừng kiểu gì.
Họ xuất phát vào màn đêm trên chiếc Mercedes đen, hướng tới nơi nào đó ở vùng Arasat. Thi thoảng dòng sông lại xuất hiện qua những lỗ hổng trên tường, lấp lánh những đốm sáng nhảy nhót phản chiếu ánh đèn nơi bờ sông bên kia. Mahmoud nghĩ họ đang tới một nơi đặc biệt. Họ đi vào một tòa nhà cao có lính gác ngoài cổng và thêm nhiều lính gác ở cuối hành lang dài. Họ bị soát người tìm vũ khí, và rồi nghe văng vẳng tiếng những ca khúc nhạc pop của Iraq và ngửi thấy một mùi hỗn hợp của đồ uống có cồn, shisha và khói thuốc lá. Saidi đã đặt bàn gần sàn nhảy trong sảnh chính. Ông thường làm việc đó qua điện thoại, tiêu tiền rộng tay. Tiền là chìa khóa cho mọi thứ; đó là chiếc đèn thần trong cuộc đời này, Mahmoud nghĩ khi ngồi trong đại sảnh ồn ã. Mức âm thanh này thật không thể tin nổi, tuy nhiên, hễ muốn nói chuyện là lại phải rướn người về phía nhà báo trẻ, song Saidi không lấy đó làm phiền. Mahmoud không nghe thấy gì nhưng vẫn gật đầu ra vẻ hiểu. Saidi nhìn ban nhạc mỉm cười. Không gì có thể ngăn ông cười, và Mahmoud không giấu bản thân cái cảm giác ghen tị với người đàn ông này.
Anh muốn kể với Saidi về cuộc gọi của Nawal al-Wazir. Anh cũng muốn hỏi ông vài chuyện khác liên quan đến tạp chí. Nhưng Saidi chắc chắn sẽ không nghe ra giữa bầu huyên náo này, với cả Mahmoud cũng lo sẽ làm Saidi mất hứng khi lôi chuyện công việc ra nói. Một người phục vụ mang tới những chiếc ly đựng thứ đồ uống bí ẩn có màu đỏ như máu. Saidi cầm ly của ông lên, nhấp một hơi, rồi rướn về phía Mahmoud. “Bloody Mary,” ông hét lên.
Phải, Bloody Mary, thơm ngon, hảo hạng, tuyệt vời - sung sướng làm sao! Còn những thú vui nho nhỏ nào nữa mà người đàn ông này từng thử? Hiển nhiên ông là người hạnh phúc. Vậy giờ Nawal al-Wazir là hiện thân của quỷ dữ. Saidi chắc hẳn đã thay cô bằng một phụ nữ khác. Người như Saidi không thể nào không có nổi một phụ nữ được. Hẳn rồi, tuyệt vời, xinh đẹp.
Người bồi bàn quay trở lại với một chai rượu whisky lớn sẫm màu, ly mới và một xô kim loại đựng đầy đá. Một người bồi bàn khác vọt ra từ sau lưng anh ta với mấy đĩa đồ nhắm và khẽ cúi người khi nghe Saidi nói. Anh bồi mỉm cười biết ơn rồi lui ra.
Họ uống rượu. Rồi ban nhạc ngừng chơi, và Mahmoud nghe thấy những tiếng ồn khác - tiếng ly lanh canh và tiếng người thì thầm nói chuyện ở bàn bên. Hóa ra là họ có thể nói chuyện bất chấp tất cả những tiếng ồn đó? Nơi này thực sự ở Baghdad ư?
Farid Shawwaf từng cảnh báo Mahmoud về việc quá cung kính với Saidi. “Đừng làm con chó cảnh của ông ta” là câu găm trong tâm trí anh, nhưng thực ra Farid chưa bao giờ nói câu đó. Mahmoud chỉ lo rằng có thể cậu ta sẽ nói. Đó là một câu xúc phạm, và Mahmoud thường đánh hơi thấy ý đó trong những lời người bạn cũ của mình. Với cả, Mahmoud không phải con chó cảnh của Saidi hay của bất kỳ ai khác. Anh không theo Saidi đi loanh quanh khắp nơi. Chính Saidi là người lôi Mahmoud đi cùng, Saidi mới là người cần anh. Nhưng ông cần anh vào việc gì chứ, Mahmoud băn khoăn.
Đến giờ Saidi đã giới thiệu Mahmoud với phân nửa số người trong chính phủ, nhiều quan chức cao cấp, các nhà ngoại giao nước ngoài. Ông đã giới thiệu anh với những nhân vật bí ẩn anh chưa từng nghe đến, như chuẩn tướng Majid. Ông đã để anh dự phần vào một số bí mật khủng khiếp. Mục đích của Saidi trong tất cả những chuyện này là gì? Rốt cuộc thì Saidi thu được gì từ đó? Mahmoud cần thêm chút máu liều để hỏi sếp mình vài câu. Anh cần câu trả lời, dù anh tin rằng câu trả lời sẽ đến theo cách này hay cách khác.
Mahmoud thu hết can đảm để bắt đầu. “Chuẩn tướng Majid nói cái gì đúng cơ ạ?” anh hỏi.
Saidi có vẻ đang lục tìm ký ức xem có gì liên quan tới câu hỏi của Mahmoud không. Rồi ông nở một nụ cười tươi hiền hòa. “Về cái máy in ấy mà,” ông nói. “Nó sẽ là một thảm họa. Nhiều người làm việc trong ngành in đang đợi tình hình an ninh được cải thiện và hy vọng điều tồi tệ nhất không xảy ra. Đừng quên năm nay sẽ có những cuộc bầu cử chưa từng có tiền lệ. Sẽ có khối việc phải làm liên quan đến áp phích và tờ rơi bầu cử.”
“Ông định mua một cái máy in ép khác, hay ông quyết định ngược lại ạ?”
“Không, tôi vừa mua một ngôi nhà gần quảng trường Andalus. Đó là giao dịch tôi làm hôm nay đấy. Một ngôi nhà có đầy đủ đồ đạc từ một ông già thuộc một gia đình quê ở Amirli,” Saidi đáp.
Mahmoud đã xác định được rằng Saidi sẽ trả lời câu hỏi của anh, vì thế anh thấy có hỏi thêm cũng chẳng vấn đề gì, hoặc giả đó chỉ là tác động kết hợp giữa tâm trạng hưng phấn của ông với whisky và Bloody Mary. Anh cố liều thêm chút nữa để hỏi ông chuyện riêng tư - về Nawal al-Wazir chẳng hạn. Nhưng rồi ban nhạc nổi nhạc trở lại: một bài hát của Hussein Neama nhưng ở nhịp nhanh hơn. Mahmoud nâng ly lên miệng hớp một ngụm rõ dài. Anh nhấm nháp đồ nhắm và thi thoảng quay sang Saidi. Anh cảm thấy mình thực sự quý mến người đàn ông này và muốn được giống ông.
“Cậu phải hiểu, Farid Shawwaf. Tôi muốn giống ông ấy, chứ không phải là thuộc hạ của ông ấy.” Đó là những gì Mahmoud sẽ nói khi gặp gã bạn cũ lần tới.
Anh không cần bất kỳ lời khuyên rối rắm nào của Farid nữa.
Mahmoud vẫn cứ uống đều. Rồi anh để ý thấy Saidi nhìn mình vẻ kỳ lạ. Ông vừa mỉm cười vừa uống và nom như thể muốn nói gì đó.
“Sao mà tôi muốn được ở vị trí của cậu đến thế,” cuối cùng ông nói. “Giá mà có thứ quyền năng nào có thể hoán đổi vị trí của chúng ta. Nhưng quá muộn để làm thế rồi.”
Mahmoud há hốc miệng sững sờ. Chỉ những lời đó thôi cũng đã giống như cú vẩy gậy của nhà ảo thuật, biến giấc mơ bất khả của anh thành sự thật. Anh ước mình có can đảm trả lời Saidi rằng anh cũng muốn được trở thành ông, rằng anh muốn đổi chỗ với ông, rằng cuộc đời anh sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu anh không trở thành người như Saidi, nếu sau này, anh không trở thành Ali Baher al-Saidi.
5
Gã buôn đồ cũ Hadi cảm thấy phẫn nộ và thất vọng khi ông già ở Amirli bảo gã rằng lão đã bán nhà cùng đồ đạc và hai tuần nữa sẽ chuyển tới Moscow kết hôn với người bạn gái đã gặp từ hàng thập kỷ trước khi lão còn học ngành hóa ở Nga.
Chuyện này lẽ ra không thể xảy ra được. Gã đã tốn bao nhiêu thời gian hòng thuyết phục lão bán chút đồ cũ nát, nhưng lão lại rất đa cảm với đống kỷ niệm ẩn chứa trong những mảnh gỗ khươm mươi niên đó. Thế mà giờ lão lại thông báo rằng đã rũ bỏ mọi thứ - kỷ niệm, đồ đạc, cuộc sống ở Baghdad - tất cả, để có một kỳ trăng mật muộn trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Hadi cần kiếm tiền từ bất cứ nguồn nào để lo cho nhu cầu cơ bản của mình. Mấy ngày qua gã say triền miên, kể từ cái đêm tăm tối khi vị khách đáng sợ kia ghé thăm và trong giây khắc gã đã phải lừa mình tin rằng đó chỉ là tưởng tượng chứ không phải tác phẩm của gã.
Hadi băng qua quảng trường Andalus và chậm rãi đi qua khách sạn Sadeer. Gã nhớ lại cái đêm bị sức công phá của vụ nổ hất văng lên không trung. Gã ước gì mình chết quách đi từ lúc đó.
Gã ngồi trên vỉa hè một lúc, phì phèo khói thuốc. Gã thử giả định một vụ bom xe hay một loại chất nổ nào khác có thể phát nổ bất cứ lúc nào và đây quả là nơi lý tưởng để toi mạng. Gã ngồi đó cho đến khi bóng tối buông xuống, đắm chìm trong ý nghĩ về khả năng hàng chục quả bom đã phát nổ hoặc được gỡ trong ngày hôm đó. Không ngày nào trôi qua mà không có một vụ bom xe. Tại sao gã xem tin tức thấy người khác chết mà gã vẫn sống? Một ngày nào đó gã phải lên phần tin tức, gã tự nhủ. Gã nhận thức rõ rằng đó là số phận của mình.
Khi Hadi trở về Bataween, gã nghe Aziz nói trong quán cà phê là Bố Anmar đang tìm gã. Hadi tới gặp thì thấy ông ngồi trong sảnh khách sạn, vận bộ dishdasha, bụng phệ trông thấy còn đầu đội khăn trắng, đang đọc một cuốn sách dày. Bố Anmar tháo kính ra, gập sách lại, rồi đứng dậy bắt tay Hadi.
Suốt mấy năm qua, Hadi chỉ chạm mặt Bố Anmar trong khu có vài lần và nói chuyện với ông một hai lần gì đấy. Gã có nghe một số lời đồn về ông, quan trọng nhất trong số đó, theo đánh giá của Hadi, là về mối quan hệ lâu năm với Veronica, người phụ nữ Armenia làm công việc dọn dẹp khách sạn rất kỹ mỗi tuần. Có người còn nói rằng thằng con tuổi thiếu niên của bà, Andrew, vẫn thường đi theo mẹ, là con trai của Bố Anmar.
Bố Anmar bảo Hadi rằng ông đang tính bán đồ đạc trong mấy căn phòng vì ông chuẩn bị sửa sang lại khách sạn. Thực ra thì ông muốn thay hết mọi thứ và hy vọng tìm được người mua giường, tủ quần áo và các món đồ khác. Hadi dỏng tai lắng nghe và khẩn trương tìm cách nhớ lại những thứ liên quan trong một giao dịch kiểu này. Gã bảo Bố Anmar rằng gã sẵn lòng mua, và Bố Anmar nghĩ dẫn Hadi đi một vòng xem qua mấy căn phòng sẽ giúp gã đánh giá được chính xác hơn.
Chuyến đi thật đáng thất vọng với Hadi. Những căn phòng mà Mahmoud al-Sawadi, ông già Luqman người Algeria và hai khách khác thuê là những phòng tốt nhất khách sạn. Đồ đạc trong đó vẫn còn dùng được, nhưng đống đồ còn lại chỉ là đồng nát, cái thì bị mối xông, cái thì ngấm nước. Nhưng gã không đổi ý mà vẫn đảm bảo với Bố Anmar rằng sẽ tìm được người mua tất.
Hadi ngồi bên Bố Anmar trong sảnh. Lần đầu tiên gã để ý thấy chiếc bàn gỗ nhỏ đằng sau quầy tiếp tân lớn. Chính giữa là một chai arak đầy, một cái cốc và một đĩa dưa chuột. Lúc này Hadi không thích hợp để nốc - cơ thể gã đã bão hòa cồn, người gã nồng nặc mùi rượu. Gã đã phải lết mình ra khỏi giường lúc đầu giờ chiều để tới gặp lão già quê ở Amirli. Gã đã nhọc nhằn lê bước trên phố, và phải mất một lúc cơn váng vất do rượu gây ra mới đỡ dần. Nhưng gã có thể làm gì chứ? Lúc này gã thèm khát cái chai kỳ diệu kia biết chừng nào.
Bố Anmar cứ mải nói về kế hoạch thay đống đồ đạc trong khách sạn mà chẳng buồn mời Hadi ngồi xuống uống một ly cùng ông. Dẫu có đeo kính đọc sách, nhưng Bố Anmar không mù và có thể thấy tay buôn đồ cũ này là một gã khùng. Nếu có nghe tin Hadi là kẻ trộm hay sát nhân thì ông cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên lắm. Ông gọi Hadi đến chỉ vì việc mua bán mà thôi.
Bố Anmar đã nói những gì cần nói, nhưng Hadi không hề muốn đi. Nếu Mahmoud al-Sawadi không xuất hiện, tình huống khó xử này có lẽ còn gay hơn nữa.
Mahmoud say nhưng cố hết sức không để lộ ra. Anh cảm thấy luồng hơi phả ra từ quạt trần trong sảnh và nghĩ đến bầu không khí ngột ngạt mà mình phải cố trốn thoát cả ngày. Anh đã nốc quá nhiều so với tửu lượng của mình lúc đi cùng Saidi tối qua và định leo thẳng lên giường. Anh váng vất đến mức không để ý đến hơi ẩm, hệ thống thông gió tồi tệ và mùi khó chịu trong căn phòng này.
Mahmoud giơ tay lên chào và cười tươi. Anh ngạc nhiên khi thấy người kể chuyện nổi tiếng trong khách sạn này. Anh ngồi xuống, vỗ vỗ lên đùi Hadi và hỏi thăm tình hình gã.
Mahmoud không nhận thấy vẻ mặt Bố Anmar trông nghiêm trọng thế nào. Ông không vui khi Hadi ở lại quá lâu. Ông muốn quay lại uống lúc thảnh thơi và đọc sách về chiêm tinh và bói toán, thể loại yêu thích nhất của ông. Nhân lúc hai người trong phòng không để ý, ông rót cho mình chút arak, thả một viên đá và cho thêm chút nước, rồi nhẩn nha uống. Trước ông cũng có dịp mời Mahmoud và Hazem đến uống cùng. Ông thích những buổi tối bên họ như vậy, nhưng tối nay thì khác.
Mahmoud cảm thấy bụng nằng nặng. Khi đi trên con đường tối về khách sạn, anh đã nghĩ đến việc cố nôn ra trong buồng tắm. Có lẽ nếu anh ngồi xuống nói dăm ba câu chuyện để khiến bản thân quên đi cho đến khi đỡ thì sẽ tốt hơn chăng. Anh bắt đầu hỏi Hadi về câu chuyện dị thường của gã, về cái xác gã đã khâu thành, cứ thế cứ thế. Bố Anmar ngước lên khỏi cuốn sách và hé mắt nhìn Mahmoud qua cặp kính với vẻ mặt tò mò xen lẫn ngạc nhiên.
Cho đến đêm đó, Hadi đã giữ đúng lời hứa gã đã dặn lòng trong cuộc trò chuyện với Aziz ở quán cà phê - gã sẽ quên câu chuyện và không bao giờ nhắc đến nó với bất kỳ ai. Nhưng rồi gã phát hiện ra câu chuyện là thật, và gã chẳng còn thấy nó có gì vui vẻ để mà kể trước mặt những người khác nữa.
Không ai, kể cả Aziz, biết rằng Vô Danh, như Hadi gọi, đã quay trở lại chỗ Hadi, sống sờ sờ và đứng trên hai chân. Có những chuyện nghiêm trọng đã xảy ra, mà Hadi chỉ là một cái ống dẫn, như một người cha hoặc mẹ đơn thuần đã sinh ra đứa con trai là nhà tiên tri, vị cứu tinh hay một con quỷ đầu đàn. Họ không hẳn là đã tạo ra một cơn bão cuốn theo. Họ chỉ là kênh dẫn cho thứ gì đó quyền năng và quan trọng hơn họ.
Giờ thì, gã sẽ kể gì với nhà báo trẻ này đây, đầu lắc lư say xỉn và cố che đậy cơn say bằng cách tì trán lên nắm tay siết chặt hoặc đổi tư thế khi cảm thấy hơi mất thăng bằng?
Mahmoud nghĩ sẽ được nghe một câu chuyện vô thưởng vô phạt mà khán giả của Hadi thường được nghe. Một câu chuyện mua vui miễn phí, và rồi Mahmoud sẽ lên phòng ngủ say như chết cho đến sáng hôm sau. Nhưng Hadi định sẽ làm một việc vượt xa trí tưởng tượng của Mahmoud.
“Tôi sẽ kể cậu nghe phần tiếp theo của câu chuyện,” Hadi nói. “Chỉ cho cậu thôi. Nhưng với hai điều kiện.”
Mắt Hadi lóe lên. Ngay từ đầu Mahmoud đã nghĩ Hadi là kẻ điên, vì thế anh cảm thấy thôi thúc hơn, tò mò hơn, muốn gã tiếp tục, nhỡ đâu gã biết thứ gì đó quan trọng. Bố Anmar ngước lên khỏi cuốn sách và bắt đầu lắng nghe cuộc trò chuyện kỳ lạ này.
“Thế điều kiện của ông là gì?” Mahmoud hỏi.
Hadi xoa ria mép và mớ râu dày. “Cậu phải kể tôi nghe bí mật của cậu để đổi lấy bí mật của tôi,” gã nói, vô cùng nghiêm túc và tỉnh táo. “Và cái còn lại là, cậu mua cho tôi bữa tối và một chai ouzo.”