“A lô, a lô, thử, thử, thử.”
“Ta đã bắt đầu ghi âm rồi.”
“Tôi biết. A lô, a lô, thử, thử.”
“Để ý pin nhé.”
“Xin ngài trật tự giùm ạ. A lô, a lô, được rồi.”
“Ta không có nhiều thời gian. Ta có thể xong đời và cơ thể ta có thể tan ra thành nước khi đang đi bộ trên phố một đêm nào đó, thậm chí trước cả khi ta hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ta giống như cái máy ghi âm mà tay nhà báo đưa cho cha ta, gã buôn đồ cũ tội nghiệp ấy. Ta cảm thấy thời gian cũng tựa như dung lượng pin vậy - không nhiều và không đủ.
“Có thật gã buôn đồ cũ là cha ta không? Chắc chắn gã chỉ là cái ống dẫn để thực hiện ý nguyện của cha ta trên thiên đường, trong khi bà mẹ tội nghiệp của ta, Elishva, viết nên ý nguyện ấy. Bà ấy đúng là một bà lão tội nghiệp. Tất cả bọn họ đều tội nghiệp, còn ta là lời đáp cho sự kêu gọi của kẻ tội nghiệp. Ta là đấng cứu rỗi, người mà họ chờ đợi và hy vọng theo một nghĩa nào đó. Thứ sức mạnh vô hình ấy, gỉ sét vì hiếm khi được dùng đến, cuối cùng đã trỗi dậy. Thứ sức mạnh của một định luật không phải lúc nào cũng sẵn sàng khỏi hoạt. Người cầu nguyện cho các nạn nhân và gia đình họ đã cùng nhau tề tựu một lần và mang lại cho sức mạnh ấy một lực đẩy mạnh mẽ. Những thứ trong lòng bóng tối đã dịch chuyển và sinh ra ta. Ta là lời đáp cho sự kêu gọi của họ để chấm dứt nỗi bất công và trả thù những kẻ mang tội.
“Với sự trợ giúp của Chúa và của thiên đường, ta sẽ trả thù tất cả lũ tội phạm. Ta rốt cuộc sẽ mang công lý đến cho trái đất, và sẽ chẳng còn cảnh phải chờ đợi công lý trong thống khổ, trên thiên đường hay ở kiếp sau.
“Ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình chứ? Ta không biết nữa, nhưng ít nhất ta sẽ cố tạo ra một hình mẫu về trả thù - sự trả thù của kẻ vô tội không phương tự vệ ngoài tâm hồn run rẩy khi cầu nguyện hầu chống chọi tử thần.
“Khi ta đơn độc, sâu thẳm trong lòng ta chẳng mấy hứng thú với việc có con người lắng nghe ta nói hay gặp ta, vì ta không ở đây để nổi tiếng hay gặp gỡ ai. Nhưng để đảm bảo nhiệm vụ của mình không bị xuyên tạc và không trở nên khó khăn hơn, ta thấy mình cần phải đưa ra tuyên bố này. Họ đã biến ta thành tội phạm và quái vật, và theo cách đó họ đánh đồng ta với những kẻ ta tìm kiếm để trả thù. Đó là sự bất công ghê gớm. Trên thực tế có một nghĩa vụ đạo đức và nhân văn ủng hộ ta, nhằm mang đến công lý cho thế giới này, nó đã bị hủy hoại hoàn toàn bởi sự tham lam, tham vọng, hoang tưởng tự đại và khát máu vô độ.
“Ta không yêu cầu ai kề vai chiến đấu với ta hay trả thù bọn tội phạm thay ta. Và xin đừng sợ hãi khi gặp ta. Ta nói điều này với những người tốt, yêu hòa bình. Ta mong các người hãy cầu nguyện và giữ hy vọng trong tim mình về chiến thắng của ta và việc ta hoàn thành nhiệm vụ trước khi quá muộn và mọi thứ tuột khỏi tầm tay ta và…”
“Thưa, hết pin rồi ạ.”
“Sao ngươi lại ngắt lời ta? Ngươi bị sao vậy?”
“Dạ hết pin rồi, thưa chủ nhân.”
“Được rồi, không sao. Rời khỏi tòa nhà đi và chừng nào có một túi đầy pin thì hẵng quay về.”
2
“Ta đang sống trong một tòa nhà xây dang dở gần khu Assyria ở Dora, phía Nam Baghdad. Nơi này thực sự đã trở thành chiến trường giữa ba lực lượng: Vệ binh Quốc gia Iraq và quân đội Mỹ một phe, còn dân quân Surmi và Shiite lần lượt ở phe thứ hai và thứ ba. Ta có thể miêu tả tòa nhà ta sống là ở trên Mảnh Đất Không Người vì nó và các tòa nhà xung quanh, trên diện tích hơn một cây số, chưa từng nằm dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của bất cứ lực lượng nào trong ba lực lượng trên, và bởi đó là vùng chiến sự không một ai sinh sống. Vì thế nó thích hợp với ta.
“Ta có những hành lang an toàn dưới dạng các lỗ lớn trên tường những ngôi nhà hoang đổ nát. Ta tận dụng chúng để ra ngoài trong những nhiệm vụ ban đêm, cảnh giác với khoảnh khắc giáp mặt một nhóm vũ trang ở một trong ba lực lượng ta đã nhắc đến. Tất cả chúng ta đều sử dụng một mạng lưới đường phức tạp tựa mê cung vào ban ngày và thậm chí còn phức tạp hơn vào ban đêm. Chúng ta cố tránh chạm mặt nhau, dù chúng ta đi loanh quanh để săn lùng lẫn nhau.
“Ta có một vài phụ tá sống cùng ta. Họ đã tụ tập quanh ta trong hơn ba tháng qua. Kẻ quan trọng nhất là một lão già gọi là Pháp Sư.
“Pháp Sư từng sống trong một chung cư ở Abu Nuwas, ngay phía Tây Bataween, lão nói lão thuộc đội thầy phù thủy phụng sự cho tổng thống của chế độ cũ và lão đã niệm chú để người Mỹ tránh xa khỏi Baghdad và ngăn thành phố rơi vào tay họ. Nhưng người Mỹ, ngoài kho vũ khí tối tân, còn sở hữu một đội quân djinn hùng hậu, có khả năng tiêu diệt djinn mà pháp sư này cùng các phụ tá của lão triệu hồi.
“Khi ta gặp lão, lão đang chìm trong thống khổ và đau đớn tột cùng, không phải vì chế độ cũ sụp đổ mà bởi lão đã thất bại trong thử thách lớn nhất mà lão từng đối mặt. Theo lời lão thì phép thuật của lão giờ đã thành ra vô dụng.
“Nhưng một djinn sống sót khỏi cuộc thảm sát diễn ra trong suốt trận chiến sân bay Baghdad đã tiếp tục quanh quẩn bên lão để xoa dịu lão khỏi nỗi cô đơn. Djinn bảo với lão rằng lão còn một nhiệm vụ quan trọng nữa. Nó kể với lão về ta và miêu tả ngoại hình của ta cho lão.
“Pháp Sư kể với ta lão đã bị ném ra khỏi chung cư vì bị cáo buộc có dính líu tới những tội ác dưới chế độ cũ và lão đi đâu cũng có kẻ bám theo. Ngay cả djinn phụng sự lão cũng chẳng giúp được gì, và giờ thì lão hầu như không bao giờ bước chân ra khỏi căn cứ của chúng ta trong tòa nhà đổ nát.
“Kẻ quan trọng thứ hai trong các phụ tá của ta là Nhà Ngụy Biện, ta gọi hắn như thế. Hắn giỏi giải thích ý tưởng, nâng những cái tốt lên, đánh bóng chúng, khiến chúng trở nên mạnh mẽ hơn. Hắn cũng giỏi làm thế với những ý tưởng xấu xa, vì thế hắn là kẻ nguy hiểm như thuốc nổ vậy. Ta thường nhờ hắn giúp để hiểu nhiệm vụ mình đang tiến hành, và hỏi ý kiến hắn khi nghi ngờ một kế hoạch hành động nào đó. Hắn khiến người ta cảm thấy an tâm và củng cố niềm tin trong họ - vì bản thân hắn không tin tưởng hoàn toàn vào bất cứ thứ gì. Ta tình cờ gặp hắn vào một buổi tối khi hắn đang ngồi say ngà ngật trên vỉa hè phố Saadoun, và hắn bảo ta rằng dù hắn không có chút tôn trọng nào đối với niềm tin, hắn vẫn sẵn sàng tin ta - vì một lý do: rằng những kẻ khác không tin ta và thậm chí còn không tin là ta tồn tại.
“Kẻ quan trọng thứ ba là người mà ta gọi là Kẻ Thù - bởi y là sĩ quan trong đơn vị chống khủng bố. Y cung cấp cho ta ví dụ sống về việc kẻ thù trông như thế nào và kẻ thù suy nghĩ và cư xử ra sao. Do ở vị trí quá thuận lợi, y cũng tiết lộ cho ta những thông tin quan trọng để giúp ta trong những cuộc săn khó khăn. Y nương náu cùng ta vì nguyên tắc đạo đức nghiêm ngặt của mình: sau khi làm việc trong cơ quan an ninh của chính phủ hai năm, y trở nên tin rằng công lý mà y tìm kiếm bấy lâu chẳng hề được thực thi.
“Giờ thì y ở cùng ta, dành sự phụng sự quý giá cho ta vì đó là cách duy nhất, y nghĩ vậy, để mang lại thứ công lý mà y khao khát.
“Có ba kẻ khác kém quan trọng hơn: thằng khùng, lão khùng và lão khùng già nhất. Chính thằng khùng là kẻ đã ngắt lời ta khi ta bắt đầu ghi âm những lời này. Ta đã sai nó đi mua ít pin ở cửa hàng cách căn cứ của chúng ta vài cây số. Để tới đó nó phải đi qua mấy giao lộ nguy hiểm.
“Thằng khùng nghĩ ta là công dân kiểu mẫu mà nhà nước Iraq không thể tạo ra, ít nhất là từ thời vua Faisal I.
“Bởi ta được tạo nên từ các bộ phận cơ thể của những người đa chủng loại - thuộc nhiều dân tộc, bộ lạc, chủng tộc và tầng lớp xã hội - nên ta đại diện cho sự pha trộn không thể có, chưa từng có trong quá khứ. Ta là công dân Iraq đích thực đầu tiên, nó nghĩ vậy.
“Lão khùng thì nghĩ ta là công cụ hủy diệt hàng loạt ẩn chứa dấu hiệu về sự xuất hiện của một vị cứu tinh mà tất cả các tôn giáo trên thế giới đều dự đoán. Ta là người sẽ kết liễu những kẻ lầm đường lạc lối. Bằng cách giúp ta thực hiện nhiệm vụ, lão đang đẩy nhanh sự xuất hiện của vị cứu tinh được mong đợi bấy lâu.
“Lão khùng già nhất lại cho rằng ta là vị cứu tinh và rằng trong tương lai lão sẽ gặt hái được gì đó từ sự bất tử của ta và tên lão sẽ được khắc kế bên tên ta trong bất cứ cuốn biên niên sử nào về giai đoạn khó khăn và có tính quyết định này trong lịch sử đất nước và thế giới.
“Khi ta hỏi ý kiến Nhà Ngụy Biện, hắn bảo ta rằng lão khùng già nhất này, vì lão khùng hết nước, là trang giấy trắng có thể tiếp thu trí tuệ vượt qua giới hạn lý trí, và rằng, không hề ý thức được điều này, lão nói với lời lẽ chân thành thuần khiết.”
3
“Ta ra ngoài vào buổi tối, một hai tiếng sau khi mặt trời lặn. Ta cúi thấp đầu để tránh làn đạn giao tranh liên miên. Ta là người duy nhất đi dọc những con phố dài nơi ngay cả chó mèo hoang cũng chẳng dám bén mảng. Trong những khoảng lặng ngắn ngủi giữa loạt đạn pháo, cứ càng lúc càng dồn dập khi gần đến nửa đêm, chỉ có độc tiếng bước chân ta. Ta mang theo mọi thứ mình cần - thẻ căn cước và giấy tờ mà Kẻ Thù cung cấp cho ta, được làm tinh vi đến nỗi không thể phân biệt đâu là thật đâu là giả, cùng một tấm bản đồ chi tiết về lộ trình thuận lợi nhất qua các khu vực dân cư, đường phố, do Pháp Sư đưa cho. Lộ trình này giúp ta tránh chạm mặt những người ta cần gặp và những kẻ không cần gặp ta.
“Việc chuẩn bị của ta bao gồm ăn vận thích hợp với nơi ta định đến, luôn do ba kẻ khùng lo, kèm theo việc hóa trang giấu đi những vết sẹo, bầm tím và những mũi khâu trên mặt ta. Nhà Ngụy Biện thường đảm nhận việc hóa trang, và hắn đưa cho ta một chiếc gương để ta nhìn thấy kết quả trước khi ra ngoài.
“Ta sắp hoàn thành nhiệm vụ rồi. Có một gã thuộc al-Qaeda sống trong một ngôi nhà ở Abu Ghraib, nơi rìa thành phố, và một sĩ quan Venezuela vốn là lính đánh thuê sở hữu một công ty an ninh hoạt động ở Baghdad. Một khi ta trả thù bọn chúng xong xuôi, mọi chuyện sẽ kết thúc. Có điều chuyện lại không diễn tiến gần với cách mà ta dự liệu.
“Một đêm ta về nhà toàn thân lỗ chỗ vết đạn. Đó là một trận chiến dữ dội và một cuộc truy đuổi nguy hiểm, và ta chỉ vừa kịp siết cổ mục tiêu, một tên tội phạm chuyên cung cấp thuốc nổ và các chất gây nổ khác cho các băng đảng vũ trang bất chấp hoàn cảnh chính trị và hệ tư tưởng của chúng. Hắn là con buôn tử thần siêu hạng sống cùng vài gã khác cùng băng đảng trong một ngôi nhà gần chợ Shorja ở trung tâm Baghdad.
“Ba kẻ khùng gắp cả đống đạn ra khỏi cơ thể ta. Pháp Sư và Nhà Ngụy Biện giúp một tay bằng cách cố khâu lại những bộ phận bị thương. Một miếng thịt trên vai ta không cố định được nữa - nó long hết ra, như thịt từ một cái xác đã chết mấy ngày rồi vậy.
“Hôm sau trở dậy, ta phát hiện thấy nhiều phần cơ thể ta ở dưới đất, và một mùi thối rữa nồng nặc bốc lên. Không có phụ tá nào gần đó - họ đã đi hết lên mái nhà để thoát khỏi mùi hôi thối.
“Ta quấn mình trong mảnh vải lớn và đi tìm bọn họ. Dịch từ nhiều phần cơ thể hở toang hoác thấm cả vào vải. Ta đứng xa xa nhìn bọn họ trên mái nhà mà hỏi, ‘Có chuyện gì vậy? Kết thúc rồi sao?’
“Pháp Sư nhìn ta lo lắng. Những kẻ khác thì hút thuốc và dòm qua khe hở rào chắn xem chuyện gì xảy ra trên phố bên dưới.
” ‘Hễ khi nào ngài giết người, thì tài khoản kết toán,’ Pháp Sư nói. ‘Nói cách khác, người tìm cách trả thù đã hoàn thành được tâm nguyện, và bộ phận cơ thể đó sẽ bắt đầu tan chảy. Giống như là có yếu tố thời gian vậy. Nếu ngài hoàn thành việc trả thù cho tất cả các nạn nhân trước thời hạn, cơ thể ngài sẽ được gắn kết một thời gian rồi sau này mới phân hủy, nhưng nếu ngài để lâu quá, thì đến khi thực hiện nhiệm vụ cuối cùng, ngài sẽ chỉ có độc bộ phận cơ thể của người cần trả thù cuối cùng mà thôi.’
” ‘Nhảm nhí,’ Nhà Ngụy Biện nói. ‘Ngài ấy không chết và không rụng rời từng mảnh đâu - không có chuyện vớ vẩn nào như thế xảy ra cả,’ hắn nói tiếp, quẳng điếu thuốc xuống đất. ‘Ông chỉ đang tìm cách dọa chúng tôi thôi. Vị cứu tinh không chết.’
“Nhà Ngụy Biện quay sang lão khùng già nhất, kẻ tỏ ra quan tâm tới ý tưởng này hơn những người khác.
Lão giơ ngay nắm tay lên không mà lắc. ‘Phải, vị cứu tinh không chết,’ lão hùng hồn nói.
“Hai người tiếp tục tranh cãi trong khi những người khác mải hóng chuyện đang xảy ra bên dưới. Có vẻ hai nhóm định chiến nhau giữa ban ngày ban mặt. Thật mạo hiểm khi ở trên mái nhà và dòm qua khe hở rào chắn vì có thể trúng đạn lạc. Nhưng sự tò mò đã thắng thế.
“Ta trải mảnh vải lên mái nhà và nằm xuống, mình trần dưới nắng. Chất dịch dinh dính rỉ ra từ vết thương và các khe hở nơi mũi khâu bung ra. Ta cần được kiểm tra toàn bộ. Đúng ra thì - và đây là kết luận khiến ta khá ngạc nhiên - ta cần những phụ tùng mới.
“Tít bên dưới là những tràng đạn đinh tai nhức óc và những tiếng hét the thé như xé vải. Ta cảm thấy như bị nướng chín dưới nắng, nên bèn đứng dậy, quấn mình trong tấm vải, hé nhìn qua rào chắn. Trận chiến đang diễn ra dữ dội. Một nhóm nhanh chóng bị hạ và tìm cách rút lui, trong khi nhóm kia cố bắt sống hai thành viên của nhóm đang tháo chạy. Chúng dùng báng súng dồn đối thủ vào bức tường lỗ chỗ vết đạn do súng máy PK gây ra. Một trong hai kẻ bị bắt bị thương nặng và đang rên rỉ; có lẽ gã đang cầu xin giúp đỡ. Kẻ kia thì im lặng và không chịu cúi mình, như một kẻ tử vì đạo thần thánh, như thể gã biết có những người chứng kiến sẽ tung hô gã vì gã đã can đảm đối mặt với cái chết ra sao. Chuyện này không kéo dài lâu. Những kẻ bắt giữ dồn hai gã trai trẻ vào tường, hét lên ‘Thánh Alhah vĩ đại!’ hai ba lần gì đấy rồi nổ súng. Hai gã sụp xuống đất, còn đám kia vác súng lên vai, như nông dân vác thuổng, gấp rút kéo đi.
“Ta nhìn đám phụ tá của ta. Ai cũng thất đảm trừ Pháp Sư, lão nói, ‘Những thanh niên tử tế. Phí phạm làm sao!’ Rồi lão nói thêm, ‘Có phải họ cũng là nạn nhân không?’
” ‘Ta không biết. Hỏi Nhà Ngụy Biện ấy,’ ta đáp.
” ‘Theo tôi thấy thì tất cả bọn họ đều là nạn nhân,’ Pháp Sư nói.
“Trong ba giờ tiếp theo, ta mất ngón tay phải và ba ngón tay của bàn tay trái. Mũi ta đang rã ra và những lỗ lớn xuất hiện trên cơ thể ta - thịt ta đang tan chảy. Ta cảm thấy mệt rũ và phải chống chọi với cơn buồn ngủ. Sáu phụ tá của ta đang ngồi trong phòng khách, trên những món đồ gia dụng lấy từ những ngôi nhà hoang, nói chuyện đầy lo lắng.
“Theo kế hoạch, nhiệm vụ của ta sẽ kết thúc vào tối nay. Ta sẽ tóm tay sĩ quan đánh thuê người Venezuela trong một khách sạn ở Karrada, rồi rời đi trên chiếc xe thuộc về một cơ quan an ninh, do Kẻ Thù sắp xếp, lái tới Abu Ghraib. Ở đó nhiệm vụ của ta sẽ kết thúc: ta sẽ giết tên thủ lĩnh al-Qaeda, rồi rời khỏi thế giới đáng sợ này của các người.
“Màn đêm buông xuống, ta thiu thiu ngủ. Khi mở mắt ra, ta thấy ba kẻ khùng cúi xuống mình. Mình mẩy lấm lem máu, họ đang tắm cho ta. Bọn ta đang ở trong phòng tắm một căn hộ trên tầng ba. Họ rõ ràng định làm gì đó.
“Sau khi bàn luận gay gắt, sáu phụ tá của ta đã đi đến quyết định. Ba kẻ khùng rời khỏi tòa nhà và băng qua con phố tối tăm về phía hai thanh niên vừa bị hành quyết. Họ kéo cái xác của người đã chết một cách can đảm, bỏ lại cái xác của người đã nài xin được sống - bọn ta gọi anh ta là ‘vị thánh’. Trong căn phòng tầng trệt của tòa nhà, cái xác được sửa soạn để cung cấp các bộ phận cho ta. Những phần ta cần được cắt ra cho vào một cái túi ni lông đen. Rồi xác của vị thánh được mang đi vứt lên nóc đống đổ nát của một ngôi nhà đã bị tên lửa Mỹ phá hủy.
“Lão khùng già nhất cắt những phần cơ thể thối của ta ra còn hai kẻ khùng còn lại - thằng trẻ và lão già hơn - thì khâu những bộ phận mới vào. Rồi cả bọn khênh ta vào buồng tắm trên tầng cao nhất, ở đó họ rửa sạch máu và chất dịch nhóp dính cho ta rồi lau khô người ta. Kẻ Thù mang cho ta đồng phục của một sĩ quan lực lượng đặc biệt của Mỹ và ít giấy tờ tùy thân. Rồi Nhà Ngụy Biện bôi một lớp dày kem nền của phụ nữ lên mặt ta và đưa ta chiếc gương. Ta soi nhưng không nhận ra mình. Ta mấp máy môi mới nhìn ra được khuôn mặt này là của mình.
” ‘Chuyện gì xảy ra vậy?” ta hỏi.
” ‘Chúng tôi đã hồi sinh ngài,’ Pháp Sư nói, điếu thuốc trễ nải trên môi dưới còn cánh tay duỗi dài trên lưng ghế trong phòng khách. Lão là quân sư trong toàn bộ chuyện này. Lão thuyết phục các phụ tá khác rằng vị thánh là nạn nhân với tâm hồn tìm kiếm sự trả thù, thế nên sẽ chẳng hại gì nếu lấy bộ phận cơ thể anh ta làm phụ tùng thay thế.
“Khi đứng lên, ta cảm thấy một luồng sinh khí và cảm giác mới mẻ, như thể vừa thức dậy khỏi một giấc ngủ sâu vậy. Những khuôn mặt lạ lẫm xuất hiện quanh ta, và ta quên mất mình định làm gì buổi sáng. Đội chiếc mũ thủy quân lục chiến lên đầu, ta vội vã ra ngoài tòa nhà và đi về hướng Đông, nơi có băng đảng đã tiến hành vụ hành quyết ta chứng kiến trước đó. Những ngón tay của vị thánh đẩy cánh cửa mở ra, chỉ đường cho ta. Ta thấy chúng đang ngồi dưới đất uống trà. Tay lính gác ở tòa nhà gần đó không thấy ta tiến đến, nên chúng khá bất ngờ - ta đến đủ gần để tóm lấy súng của chúng hoặc quẳng sang bên những thứ vũ khí khác, hạ chúng bằng những cú đấm đá. Đạn nổ ra, bè lũ từ những phòng gần đó liền tràn vào. Bất chấp tất cả tiếng súng và tiếng thét, kết quả không đứng về phía chúng. Ta bị bắn vào lưng nhiều lần nhưng đã tóm được cổ chúng và bẻ lần lượt từng đứa một. Nửa tiếng sau chỉ còn lại một thành viên băng đảng, ngồi kinh hãi trong góc. Ta không thấy rõ mặt hắn trong ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn sạc điện, nhưng ta có thể thấy hắn đang khóc. Ta đến gần hơn thì thấy hắn run bần bật, như con cừu hoảng sợ bị giao cho đồ tể. Hắn nhận thức rõ rằng tối hôm đó hắn cùng băng đảng của mình không chiến đấu với một kẻ thù bình thường nào cả. Đó là sự thịnh nộ của Chúa. Cuối cùng, ta bắt gặp ánh mắt sợ hãi của hắn. Bởi vì hắn ăn năn nên hắn khiến nhiệm vụ của ta trở nên dễ dàng hơn, không có chút nỗ lực kháng cự nào trước cả khi ta chạm vào hắn.”
4
“Ta đã giết tay lính đánh thuê người Venezuela quản lý công ty an ninh chịu trách nhiệm tuyển mộ những kẻ đánh bom liều chết đã sát hại nhiều thường dân, bao gồm cả người bảo vệ ở Sadeer Novotel, Hasib Mohamed Jaafar. Ta đã giết tên thủ lĩnh al-Qaeda sống ở Abu Ghraib vốn là kẻ chủ mưu vụ đánh bom xe tải khủng khiếp ở quảng trường Tayaran khiến nhiều người thiệt mạng, trong đó có người mà Hadi đã nhặt được chiếc mũi trên vỉa hè và dùng để lắp vào mặt ta. Ta đã mất vài tuần chuẩn bị, theo dấu và thâm nhập vào những tổ chức thù địch đó. Cũng tốn thời gian, nhưng nếu có một cái cớ vững chắc, ta có thể giành được sự tin tưởng của nhóm đối địch với kẻ mà ta đang nhắm tới.
“Danh sách người tìm kiếm sự trả thù ngày càng dài hơn khi những bộ phận cơ thể cũ của ta rời rụng và các phụ tá thay bằng bộ phận của những nạn nhân mới, cho đến một đêm ta nhận ra rằng trong hoàn cảnh này ta sẽ phải đối mặt với một danh sách mục tiêu bỏ ngỏ không bao giờ chấm dứt.
“Thời gian là kẻ thù của ta, bởi đó là thứ ta không bao giờ có đủ để hoàn thành nhiệm vụ, và ta bắt đầu hy vọng rằng việc giết chóc trên phố sẽ dừng lại, cắt đi nguồn cung các nạn nhân và cho ta được tan chảy.
“Nhưng việc giết chóc chỉ mới bắt đầu. Ít nhất là trông có vẻ như vậy khi nhìn từ ban công tòa nhà nơi ta đang sống, những xác chết nằm vương vãi trên phố như rác vậy.
“Bọn ta phải tăng cường phòng vệ trước tình hình giết chóc leo thang. Ba kẻ khùng trang bị ít vũ khí hạng nhẹ và trung đồng thời lắp súng máy PK trên mái nhà, chĩa cả bốn hướng. Họ chặn lối vào tòa nhà bằng những khối bê tông và bao đất mà ta không biết lấy từ đâu. Họ làm việc đó hàng giờ, trong vài ngày liền, và rồi ta phát hiện ra họ đã thuê người để giúp họ làm xong việc. Chẳng bao lâu tòa nhà đã trở thành một doanh trại thực sự: ngoài tất cả chỗ vũ khí, giờ nó còn cả lính tráng vốn là những kẻ tình nguyện bảo vệ đơn vị đồn trú thu nhỏ này.
“Mỗi kẻ trong ba kẻ khùng đều quảng bá suy nghĩ về ta với đám đệ tử vốn chán ngấy những gì nhìn thấy xung quanh và đang tìm kiếm sự cứu rỗi.
“Thằng khùng chiếm cả tầng trệt cùng các đệ tử đến từ nhiều khu khác nhau ở thủ đô. Giống như nó, chúng cũng tin rằng ta là công dân Iraq số một. Sau này ta phát hiện ra rằng nó đặt số cho chúng thay vì tên, theo đó nó là số hai, những kẻ khác lần lượt từ số ba và cứ thế tăng lên khi số đệ tử của nó nhiều thêm mỗi ngày.
“Lão khùng già hơn và các đệ tử chiếm mấy căn hộ ở tầng một. Giống như lão, chúng tin rằng ta là cái lỗ đen và Azrael Vĩ Đại, Thiên thần của Cái Chết, kẻ sẽ nuốt chửng cả thế giới dưới sự bảo vệ của ân sủng thiêng liêng.
“Lão khùng già nhất chiếm hai căn hộ khác ở tầng một cho mình cùng các túi đồ, với số lượng ít hơn. Lão áp đặt cho họ cuốn sách thánh của riêng mình, trong đó lão phong cho ta là hình ảnh của Chúa, hiện thân trên Trái Đất, lão là ‘cánh cổng’ dẫn tới hình ảnh đó, và họ bị cấm diện kiến ta. Vì thế khi họ tình cờ gặp ta trong hành lang hay trên cầu thang, họ phải vội vã cúi mình và lấy tay che mặt trong nỗi thất đảm kinh hồn.
“Pháp Sư cảm thấy bất an với những diễn tiến này và cho rằng chuyện sẽ không kết thúc ổn thỏa, vì giờ bọn ta đã trở nên dễ nhận thấy hơn.
” ‘Ngài có thể sẽ không chết nếu tòa nhà bị nã pháo, nhưng chúng tôi sẽ thịt nát xương tan mất,’ lão bảo ta. Lão nhìn Nhà Ngụy Biện để được xác nhận, nhưng Nhà Ngụy Biện vẫn giữ im lặng. Vài phút sau, khi Pháp Sư vào phòng vệ sinh, Nhà Ngụy Biện tới chỗ ta và nói, ‘Ông ta ghen tị đấy. Ông ta muốn giữ ngài dưới sự kiểm soát của mình. Xin đừng để tâm tới lời ông ta nói.’
“Nhà Ngụy Biện không ưa gì Pháp Sư, và ta xem những gì hắn nói là nỗ lực giành lấy sự sủng tín của ta và chiếm chỗ Pháp Sư. Hắn không vui với sự chính xác tuyệt đối mà Pháp Sư thể hiện, nhất là khi liên quan tới lịch trình và tuyến đường ta đi, vốn luôn chuẩn chỉnh và an toàn.
“Kẻ Thù không phải lúc nào cũng có mặt. Y đi vắng một thời gian dài và rồi xuất hiện trở lại. Trong chuyến thăm lần trước, y mang đến thiết bị không dây, điện thoại di động và một hệ thống an ninh bao gồm các camera trên ban công và màn hình theo dõi.
“Đó là dịch vụ cuối cùng mà Kẻ Thù cung cấp cho ta, và ta không bao giờ gặp lại y nữa. Mấy ngày sau đó y gọi cho ta. Nghe giọng y có vẻ lo lắng và y bảo rằng vỏ bọc của mình đã bị lộ. Có một cuộc điều tra nội bộ đang được tiến hành trong sở để dò theo những hoạt động gần nhất của y, và người Mỹ cũng đã cho gọi y. Có vẻ như y sẽ bị buộc tội cấu kết với các nhóm khủng bố hoặc tương tự thế.
“Sau đó y biến mất. Khi bọn ta gọi lại cho y theo số y gọi đến, thì điện thoại đã không còn hoạt động nữa.”
5
“Ta biết mọi chuyện không diễn ra theo cách ta mong đợi. Vì thế ta đề nghị những ai đang nghe bản ghi âm này giúp ta bằng cách không cản trở công việc của ta cho đến khi ta hoàn thành và rời bỏ thế giới này của các người. Ta đã ở đây quá lâu rồi. Trước ta đã có nhiều người tiền nhiệm đến đây, thực hiện nhiệm vụ của họ trong những thời điểm khó khăn, rồi ra đi. Ta không muốn có khác biệt gì với họ.
“Ta rất cẩn thận với những miếng thịt được dùng để sửa chữa cơ thể ta. Ta đảm bảo các phụ tá không mang bất cứ miếng thịt phi pháp nào về - nói cách khác, thịt của những tên tội phạm - nhưng làm sao biết ai có tội ở mức độ nào chứ? Đó là câu hỏi mà một ngày kia Pháp Sư đã khơi lên.
“ ‘Mỗi chúng ta đều có một phần phạm tội,’ Pháp Sư vừa nói vừa hút tẩu shisha lão tự làm lấy cho mình. ‘Ai đó không may dính án tử từ trên trời rơi xuống có thể ngày hôm nay là vô tội, nhưng biết đâu mười năm trước lại là kẻ có tội, khi anh ta đuổi vợ mình ra đường, hoặc đưa mẹ già vào nhà dưỡng lão, hay cắt điện nước một ngôi nhà có trẻ con ốm mà vì thế khiến nó chết, vân vân.’
“Như thường lệ, Nhà Ngụy Biện lại phản ứng tiêu cực với những gì Pháp Sư nói. Một hôm cuối ngày, ta lên mái nhà để xác minh một báo cáo về việc người Mỹ rút khỏi khu vực này. Ta phát hiện ra Pháp Sư đi theo mình. Đứng trước mặt ta, với vẻ mặt nghiêm trọng, hắn nói, ‘Xin đừng tin những gì Pháp Sư nói. Ông ta nói cho chính mình thôi. Mười năm trước ông ta đã giết người, đuổi vợ cùng mẹ già ra khỏi nhà và giết đứa trẻ. Ông ta chính là tội phạm.’
“Ta quay đi, cầm chiếc kính viễn vọng mà Kẻ Thù đã mang cho ta trong chuyến thăm lần trước, và bắt đầu nhìn về những con phố xa tít đằng kia, nơi người Mỹ từng bố trí những chiếc xe tăng Abrams. Xe tăng không còn nữa, cả những doanh trại dã chiến, bốt quan sát trên những tòa nhà cao tầng và trạm kiểm soát trên những con đường phụ. Họ đã rút đi hoàn toàn, như ta đã được báo, và chuyện này thật kỳ lạ.
“Ta quay sang Nhà Ngụy Biện nói, ‘Ngươi không phải bận tâm. Thôi nghĩ về Pháp Sư đi. Chẳng phải ta đã mang theo khẩu súng lục trong nhiệm vụ lần trước, theo chủ ý của ngươi đó sao?’
” ‘Vâng.’
” ‘Thế thì ngậm miệng lại và đừng bao giờ nhắc lại chuyện này nữa.’
“Ta quay lại soi kính viễn vọng, nhưng tâm trí thì ở tận đẩu đâu. Ta thật sự nghi ngờ rằng trong đợt khâu vá cho ta lần trước, họ đã dùng những bộ phận cơ thể của một tên tội phạm. Có lẽ họ đã dùng các phần thân thể của một tên khủng bố mà không hề hay biết. Có lẽ vì thế mà tâm trạng ta không tốt và cứ cảm thấy bối rối hoang mang. Ta nhìn ra các con phố và mái nhà cho tới khi mọi thứ bắt đầu nhòa đi, tầm nhìn của ta bị che mờ bởi một lớp màng màu sữa sáng chói. Ta đặt kính viễn vọng xuống và bảo Nhà Ngụy Biện theo ta xuống lầu.
“Một tiếng sau ta phục hồi được thị lực. Ta lo rằng mắt ta đã hỏng và cần phải thay thế. Nhưng ta không còn tin tưởng các bộ phận mà đám phụ tá mang đến nữa. Đường phố đầy rẫy xác người, những cái xác mới cứ chồng chất mỗi tối, hầu như tất cả bọn họ là tội phạm giao tranh với nhau.
“Khi ta có cơ hội nói chuyện riêng với Pháp Sư, lão nói với vẻ dứt khoát rằng phân nửa cơ thể ta giờ được tạo nên từ các bộ phận của những tên tội phạm.
” ‘Sao lại thế được?’ ta hỏi lão, trong lúc lão đổ đầy một bát shisha khác và rít sâu một hơi qua cái ống để lớp than sáng rực lên. Lão nhả khói ra và nhìn ta vẻ mỉa mai. ‘Cơ thể của vị thánh có thực sự linh thiêng không?’ lão hỏi.
” ‘Ý người là gì?’ ta vặn.
” ‘Nếu anh ta sở hữu vũ khí, thì anh ta là tội phạm,’ lão đáp, hít thêm một hơi từ ống hút. Ta chợt nhận ra Nhà Ngụy Biện đang đứng ngoài cửa, nghe bọn ta thảo luận. Ta đang trong tâm thế sẵn sàng cho nhiệm vụ mới tối hôm đó và không định để họ lặp lại một cuộc tranh cãi vô ích, vì thế ta đứng lên bảo Nhà Ngụy Biện giúp ta chuẩn bị. Nhiệm vụ mới liên quan đến một thủ lĩnh dân quân sống trong khu tầng lớp lao động ở phía Đông thành phố. Lấy ra mấy bộ quần áo nom giống đồng phục dân quân, Nhà Ngụy Biện để ta ngồi xuống ghế trước bàn trang điểm rồi bắt đầu thoa lớp hóa trang để hợp với danh tính mới của ta. Nhưng hắn không quên những gì nghe được từ miệng Pháp Sư, và bắt đầu phản ứng khi khua tay khắp mặt ta.
” ‘Ông ta thuyết phục ngài tin rằng giờ nửa cơ thể ngài là tội phạm,’ hắn nói, ‘rằng nửa phần da thịt của ngài là của bọn tội phạm. Ngày mai ông ta sẽ nói với ngài rằng ba phần tư cơ thể ngài là tội phạm, còn ngày mốt ngài sẽ thức dậy và phát hiện ra mình đã trở thành tội phạm hoàn toàn. Nhưng ngài không phải là tội phạm bình thường. Ngài sẽ trở thành siêu tội phạm, vì ngài được tạo nên từ những tên tội phạm, cả đống tội phạm. Ha!’
“Hắn nói không ngừng cho tới tận lúc ta đi, để lại hắn trong cơn tức giận bừng bừng vì ta không đáp lại.
Thật không may, giờ bọn ta là kẻ thù rồi.
“Chỉ trong khoảng thời gian ngắn trước đó, những thay đổi vô cùng quan trọng đã diễn ra bên ngoài tòa nhà. Một phần trong lời tiên tri của Pháp Sư đã bắt đầu ứng nghiệm. Số tín đồ do ba kẻ khùng chiêu mộ tăng nhiều đến nỗi những căn phòng họ chiếm cứ giờ không còn đủ chỗ chứa nữa. Người quá đông cũng làm nảy sinh nhu cầu hậu cần liên quan đến đồ ăn thức uống, chỗ ngủ; ta không biết làm thế nào họ quản được những chuyện đó.
“Sau mấy trận cãi nhau giữa ba kẻ khùng cùng các tín đồ, họ quyết định mở rộng căn cứ sang những tòa nhà khác, để lại vài lính gác dưới tầng trệt tòa nhà nơi ta sống và chuyển sang những tòa liền kề. Tối hôm đó ta ngạc nhiên thấy nhiều tay súng trẻ cúi mình trước ta trên phố. Tất cả bọn họ đều tin rằng ta là bộ mặt của Chúa trên Trái Đất, theo lời dạy của lão khùng già nhất, kẻ vấn khăn turban màu cam, để râu dài, và đã trở thành nhà tiên tri của một tôn giáo mới cả về thực chất lẫn hình tượng. Chuyện tương tự cũng xảy ra với lão khùng già hơn, nhưng tín đồ của lão này trông nhợt nhạt và ít ồn ào hơn. Hai nhóm tố nhau là làm trò lang băm và nói nhảm. Còn đối với các tín đồ của thằng khùng, những công dân Iraq, hiện có hơn một trăm năm mươi người, họ đang tính tham gia vào những cuộc bầu cử sắp tới.
“Đêm đó ta đã giết tay thủ lĩnh dân quân và mười lăm kẻ bảo vệ hắn. Theo lời khuyên của Nhà Ngụy Biện, ta dùng khẩu súng lục vì những cách giết chóc khác thường khác mà ta từng dùng khi bắt đầu chiến dịch không còn hiệu quả nữa. Ta để cái xác khổng lồ của tay thủ lĩnh dân quân lại trong vườn nhà hắn, ruột hắn toàn đạn chì, trong khi mẹ, vợ và các chị hắn vây quanh trong những bộ đồ đen, đấm ngực và tự tát mình trong đau đớn thống khổ.
“Dùng một trong những chiếc xe của tay thủ lĩnh dân quân, ta trở lại Dora, và nghe thấy tiếng súng khi tới gần căn cứ của bọn ta. Không có người Mỹ và quân đội Iraq, đám dân quân đang chiến đấu để giành lãnh thổ. Ta bỏ lại xe và đi về qua những cái lỗ trên tường, theo lộ trình mà Pháp Sư đưa cho.
“Trong lúc ấy, mắt ta lại mờ đi. Ta dựa vào tường, ở yên như thế vài phút, rồi chùi mắt và cảm thấy mắt phải của mình đã biến thành thứ gì đó như bột nhão. Ta nhẹ nhàng di nó, nó liền chuyển động cùng tay ta. Thế rồi cả con mắt phòi ra, như một cục u đen sì, ta bèn ném nó sang bên. Ta lo rằng chuyện tương tự có thể xảy ra với mắt trái và ta sẽ mù hoàn toàn. Ngồi bên tường, ta nghe tiếng súng nổ vọng lại từ mọi hướng. Cuối cùng ánh sáng cũng trở lại với bên mắt trái. Ta hé mắt nhìn ngược xuôi con đường qua một cái lỗ lớn mà đạn pháo tạo ra trên tường, thì thấy có thứ gì đó màu đen đang tiến lại gần ta từ phía xa. Đường nét dần trở nên rõ ràng hơn: đó là một người đàn ông. Chút ánh sáng rọi lên mặt kẻ đó, và ta còn thấy ông ta rõ hơn. Ông ta khoảng sáu mươi tuổi, béo, bụng phệ, mặc quần vải thô dệt chéo và áo sơ mi ngắn tay, cầm theo mấy cái túi màu đen. Sau đó ta mới phát hiện ra một túi đựng bánh mì còn túi kia đựng hoa quả. Việc ông ta xuất hiện ở đây thật kỳ lạ. Có lẽ ông ta đi nhầm đường. Ông ta từ đâu đến, và định đi đâu?
“Nhìn theo, ta thấy ông ta rẽ vào một con đường phụ. Ông ta đang hướng thẳng đến tòa nhà ta sống. Đạn pháo nghe có vẻ to hơn từ hướng đó. Có phải đám dân quân đã bao vây doanh trại mà ba kẻ khùng dựng nên không?
“Ta đi theo người đàn ông, giữ khoảng cách đủ xa để ông ta không phát hiện ra. Ta nhớ lời Pháp Sư từng nói về chuyện ai cũng là tội phạm theo một mức độ nào đó và Nhà Ngụy Biện phản đối quan điểm này. Ta không quên lấy một giây rằng ta sắp mù, có lẽ còn trước cả khi về đến khu vực quanh tòa nhà.
“Ông béo cứ đi chừng hai ba bước lại dừng lại, nhìn quanh sợ sệt. Ông ta nom như thể đã khóc hoặc sắp khóc tới nơi. Ta muốn đến gần ông ta mà hỏi sao ông ta lại đi đường này, nhưng ta không tập trung nổi, mọi thứ trong đầu ta đang loạn lên. Người đàn ông lại dừng bước lắng nghe tiếng đạn từ tầng trên của những tòa nhà xung quanh dội xuống. Ông ta chôn chân tại chỗ, và ta không thể làm gì khác ngoài dừng lại theo, cách ông ta khoảng hai chục mét. Nếu quay lại, ông ta hẳn sẽ thấy ta. Mắt trái của ta bắt đầu mờ trở lại, và ta cảm thấy nó sắp chảy xuống mặt mình như bột nở. Ta giơ súng lên nhắm vào ông già vô tội. Chắc chắn là ông ta vô tội, không phải một trong những người mà ba kẻ khùng mang tới để thay thế cho các bộ phận cơ thể ta và giữ cho ta sống.
“Ta bắn một viên đạn từ khẩu súng lục, ngay khi bắt đầu mất hết cảm giác nơi mắt trái. Ta không nghe thấy gì sau đó nữa - tiếng đạn giữa các nhóm đối lập đã ngừng, cũng không có tiếng bước chân hay tiếng khóc hoặc thậm chí là tiếng thở. Giờ đã mù, ta bước những bước thận trọng về phía trước cho đến khi chạm giày vào thứ gì đó. Cúi xuống, ta rờ rẫm cái xác còn ấm của ông già sợ hãi. Viên đạn găm thẳng vào sọ ông ta. Ông ta hẳn đã nghĩ cái chết có thể ập xuống từ tầng trên các tòa nhà hoặc từ đầu những con phố trước mặt, nhưng nó lại đến từ phía sau.
“Ta lấy một con dao nhỏ ra và xử lý nhanh chóng. Giờ thì Pháp Sư sẽ nói gì? Đó là đôi mắt từ cơ thể một nạn nhân vô tội. Tỷ lệ các bộ phận tội phạm trên cơ thể ta sẽ không tăng lên nữa. Nhưng ta biết nói gì với lão đây? Để đền đáp cho nạn nhân này thì ta nên giáng sự trả thù vào ai đây?
“Nhà Ngụy Biện sẽ nói ta đã nhận ra tầm nhìn của Pháp Sư và trở thành một tên tội phạm giết người vô tội. Hắn sẽ nói Pháp Sư đã đẩy ta đi theo hướng đó với sự trợ giúp của djinn mà lão đã viện đến để chi phối suy nghĩ của ta. Còn Pháp Sư sẽ nói năng bình tĩnh hơn, giải thích rằng ta chỉ đáp lại những thôi thúc của các bộ phận cơ thể tội phạm, và rằng, để thoát khỏi con đường đáng sợ đó, ta phải vứt bỏ hết những phần thịt ô danh ấy. Họ sẽ tranh cãi, và bọn ta sẽ không đi tới kết luận nào cả, như những ý nghĩ xung đột trong đầu ta lúc bấy giờ.
“Ta cố lắp đôi mắt mới vào và nhìn thấy trở lại.
Thấy xác của ông già vô tội, ta nảy ra một ý tưởng và bám chặt vào ý tưởng đó - nó giống như sự thật mà ta tìm kiếm bấy lâu. Ông già này là con cừu hiến tế mà Chúa đã đặt vào con đường của ta. Ông ta là Người Đàn Ông Vô Tội Sẽ Chết Tối Nay. Vậy thôi. Đằng nào thì vài phút nữa, hoặc cùng lắm nửa tiếng nữa ông ta chẳng chết. Đạn từ đám phiến quân sẽ bắn trúng ông ta, và ông ta sẽ chết ngay tại chỗ. Xác ông ta sẽ bị lẫn với xác của một trong những tên tội phạm và không ai trong ba kẻ khùng hoặc các tín đồ của họ có thể tìm ra.
“Vậy nên tất cả những gì ta đã làm là đẩy nhanh cái chết của ông ta. Tất cả những người vô tội khác đi vào con phố tan hoang này cũng sẽ chết thôi.
“Mắt ta cần được khâu lại để cố định tại chỗ. Các tín đồ sẽ làm việc đó khi ta quay trở về căn cứ, nhưng cho đến lúc đó ta phải cẩn thận không được nhìn xuống dưới. Vì thế ta lấy kính của ông già, tìm thấy trong túi trên áo sơ mi, và đeo vào để giữ mắt phòng khi nó long ra.
“Ta đi vào con đường dẫn tới bức tường túi cát được tín đồ của ba kẻ khùng dựng lên quanh các tòa nhà họ chiếm đóng làm doanh trại. Đầu ta quay cuồng những suy nghĩ mâu thuẫn, nhưng ta bám chặt lấy ý nghĩ rằng ta chỉ đẩy nhanh cái chết của ông già. Ta không phải kẻ giết người: ta chỉ hái quả của thần chết trước khi nó rơi xuống đất mà thôi.
“Tiếng giao tranh đã ngừng hẳn, nhưng nhận định trước đó của ta hóa ra lại nhầm. Không phải là đám dân quân giao tranh do người Mỹ và quân đội Iraq đã rời khỏi khu vực. Chính tín đồ của ba kẻ khùng đã châm mồi lửa thù địch tối hôm đó. Ta không hề mong muốn chuyện này xảy ra, nhưng Pháp Sư đã tiên đoán bất đồng sẽ bùng nổ khi người ngoài gia nhập vào nhóm sáu tín đồ đầu tiên.
“Ta không có cơ hội tìm hiểu thêm từ Pháp Sư hay nói chuyện với lão về tiên đoán của lão. Lão nằm trên chồng đá trước tòa nhà ta sống. Có một lỗ đạn ở giữa trán lão.
“Ta lên căn hộ của mình trên tầng ba; không có ai ở đó. Nhìn tình trạng đồ đạc là biết ở đây vừa xảy ra giao tranh. Khi nhìn từ ban công ra ngoài, ta thấy xác của Pháp Sư nằm ngay dưới. Chắc hẳn lão đã bị đẩy khỏi ban công sau khi bị bắn. Linh cảm mách bảo ta rằng chỉ có Nhà Ngụy Biện mới dám làm chuyện đó. Nhưng hắn đâu rồi?
“Sáng hôm sau ta ra ngoài xem xét xung quanh. Xác người ở khắp mọi nơi - trên phố, trên vỉa hè, có xác dựa vào tường, xác rũ xuống khỏi ban công hay chất chồng trên lối vào các phòng hay căn hộ. Chỉ có thằng khùng quanh quẩn gần đó, nom như đã hoàn toàn mất trí. Ta đưa nó lên căn hộ trên tầng ba và hỏi nó. Có vẻ những kẻ sống sót khỏi cuộc thảm sát đã bỏ chạy rồi, nhiều kẻ không bao giờ quay lại nữa. Lão khùng già hơn và lão khùng già nhất đã bị giết. Nhà Ngụy Biện giết Pháp Sư rồi bỏ trốn.
“Thằng khùng trông nhợt nhạt và nói năng chậm rề, như thể bị mất ý thức. Khi ta nhìn nó bằng đôi mắt vô tội lấy từ ông già, nó trông giống như một tên tội phạm chính cống vậy. Nó đã sống sót khỏi màn giết chóc vì nó giết nhiều người hơn và phạm tội nhiều hơn kẻ khác.”
“Pin sắp hết rồi thưa ngài.”
“Phải, ta biết.”
“Đó là cục pin cuối cùng ta có. Pin trong túi hết cả rồi.”
“Ta biết. Ta không cần thêm pin nữa. Ta ghi âm xong rồi.”
“Ghi âm xong rồi ư? Vậy giờ ngài sẽ làm gì?”
“Chỉ còn một việc thôi… việc này.”
“Không, thưa ngài. Không, thưa chủ nhân. Tôi là nô lệ và đầy tớ của ngài. Tại sao ngài lại làm thế? Không, thưa ngài. Tôi là nô lệ của ngài, nô… lệ.”
“A lô, a lô, a lô. Được rồi.”
“Khỉ thật, ta KHÔNG CÒN THỜI GIAN NỮA RỒI. Mày đã làm lãng phí quá nhiều thời gian, chết tiệt!”