Frankenstein ở Baghdad

Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương mười hai: NƠI ĐƯỜNG 7
1

❊ ❊ ❊

Bố Anmar đứng trên vỉa hè nhìn sang văn phòng bất động sản Rasoul ở bên kia đường. Một cảm giác u ám bủa vây ông: tay cò đất Faraj lại dựng lên một tấm biển mới; y đang ăn nên làm ra. Trong khi Bố Anmar không hiểu tại sao việc kinh doanh khách sạn của mình lại xuống dốc không phanh như thế. Cả tháng trời hoặc hơn ông không có nổi một vị khách thực sự, ngoại trừ hai khách thuê dài hạn. Kể cả Hazem Abboud cũng chỉ năm thì mười họa mới đến chụp ảnh những ban công đổ sập và lớp sơn tường bong lả tả. Anh ta có thể ngồi xuống làm cốc trà với Bố Anmar, nhưng từ mùa hè tới giờ anh ta gần như thôi qua đêm ở khách sạn.

Bữa trước Hazem ghé qua, Bố Anmar háo hức kể với anh ta là ông đang tính sửa sang lại khách sạn. Hazem để ý thấy nhiều phòng không còn đồ đạc nữa. Bố Anmar không kể với anh rằng ông đã phải khó khăn đến thế nào để ngã giá với tay buôn đồ cũ Hadi. Giá như có lựa chọn nào khác thì Bố Anmar đã đá gã ra khỏi cửa thay vì chịu đựng cái trò mặc cả khó chịu của gã rồi. Điều Hazem không biết là Bố Anmar không thể thay tấm thảm trong sảnh hay chiếc bàn gỗ xập xệ ông thường ngồi. Ông không thể thay một tấm kính cửa sổ vỡ hoặc sửa những chỗ rò rỉ hay tắc nghẽn trong đường ống hay cống thoát nước. Ông thậm chí không thể mua một lọ khử mùi để che giấu đi mùi mục ruỗng và ẩm mốc. Ông phải bán đồ đạc trong khách sạn để tiếp tục sống, để có cái nuôi miệng.

Bố Anmar không biết phải làm gì, nhưng ông sẵn sàng mạo hiểm và đánh liều nếu cần. Ông phải đứng trên đôi chân mình và không để ai xem ông như một trò cười, nhất là thằng khốn có hàm ria mép và mớ râu nhuộm henna ngồi bên chiếc bàn bóng lộn đằng sau ô cửa sổ trước sạch bong trong văn phòng lắp điều hòa, nhìn ông mỗi sáng chiều từ phía bên kia đường.

2

Từ khi Vô Danh ngừng ghé thăm, Hadi dần trở về với đúng con người mình. Có người cảm thấy gã còn giống con người cũ hơn bao giờ hết, kể cả sự khoa trương, như thể gã đang cố bù đắp cho việc phải tránh xa mắt người đời những tháng gần đây.

Ở chỗ cũ bên ô cửa sổ trước cỡ lớn trong quán cà phê của Aziz, Hadi kể một câu chuyện mới rằng đêm hôm trước gã gặp tổng thống Iraq trên phố ở Jadriya. Một chiếc Mercedes bọc giáp màu đen dừng lại, tài xế ra ngoài rồi vội vã chạy sang bên kia mở cửa xe cho tổng thống, một người béo ục ịch. Tổng thống đặt chân phải lên vỉa hè, nhưng vẫn ngồi thù lù nơi ghế sau. Hadi lờ chiếc xe đi và tiếp tục rảo bước với chiếc bao bô đựng mớ lon nước ngọt rỗng.

“Hadi, Hadi!” tổng thống gọi.

“Vâng, thưa ngài tổng thống.”

“Anh không thể ngừng kể chuyện sao? Ngừng kể chuyện về chúng tôi đi. Chúng tôi không thể làm gì cả, còn anh thì lại bắt đầu một cuộc cách mạng chống lại chúng tôi.”

“Tôi biết nói gì đây, thưa ngài tổng thống? Hãy làm cho đúng công việc của ngài đi thì tôi sẽ không kể chuyện về ngài nữa.”

“Sao anh không đi cùng tôi nhỉ? Đi nào, ta thỏa thuận nhé. Họ sẽ nấu cho chúng ta một bữa tối thịnh soạn ở Vùng Xanh.”

“Không, thưa ngài tổng thống, tôi không đói. Nhưng nếu có arak, tôi sẽ đi. Ngài có uống arak không, thưa ngài tổng thống?”

“Anh thật đáng xấu hổ - tôi uống nước cất kia. Anh nên ngừng kể chuyện đi, Hadi.”

Tổng thống cười vang đoạn đóng cửa xe, chiếc xe phóng đi dọc con phố rồi mất hút.

Hầu hết mọi người chỉ cười trước những chi tiết nho nhỏ Hadi dùng để thêm mắm dặm muối vào chuyện gã kể. Một lần có người cho gã xem tờ al-Haqiqa với ảnh Robert De Niro méo mó trên trang bìa. Trong đó có câu chuyện của Hadi về Vô Danh, với những chi tiết chưa từng xuất hiện. Tên của Hadi không được nhắc đến trong câu chuyện, nhưng Aziz tay người Ai Cập và mấy khách quen ở quán cà phê biết Mahmoud al-Sawadi, người viết bài báo, và thừa biết Hadi là nguồn tin của anh. Lật trang báo mà không để lộ bất cứ phản ứng nào trên khuôn mặt khô cằn nhăn nheo, Hadi nói rằng tay nhà báo đã bịa ra vài phần.

Hadi cảm thấy bị lợi dụng. Mahmoud đã hứa sẽ hành động vì lợi ích của Vô Danh và đối xử công bằng với hắn. Hai ngày sau Vô Danh ghé thăm gã lần cuối, hắn tới khi đêm xuống để kể cho gã nghe về cuộc nội chiến giữa đám môn đồ và thông báo rằng người Mỹ lại niêm phong khu vực hắn đang sống và đã tìm cách bắt hắn vài lần với sự giúp đỡ của các đơn vị sứ mệnh đặc biệt của tình báo Iraq, buộc hắn không thể ở một chỗ quá một ngày, về phần câu chuyện mà tay nhà báo viết về hắn, nó chẳng đem lại gì tốt đẹp cho hắn cả: nó đã khắc họa hắn như sự tưởng tượng bệnh hoạn của Hadi.

Vô Danh đang tìm kiếm những tín đồ có thể giúp hắn thực hiện nhiệm vụ và không lợi dụng đức tin của họ nơi hắn vì mục đích riêng, như ba kẻ khùng và các môn đồ đã làm. Hắn không muốn bị biến thành một truyền thuyết đô thị, như tay nhà báo đã khắc họa. Hadi hứa với Vô Danh là sẽ chuyển lời tới tay nhà báo khi gặp, nhưng Vô Danh nói việc đó không còn quan trọng nữa.

“Cảnh cáo nó để nó không xúc phạm ta nữa cũng chẳng hại gì. Giờ ta sẽ trả thù những kẻ sỉ nhục ta, không chỉ bọn đã tấn công những người mà bộ phận cơ thể họ đã làm nên ta đâu,” Vô Danh nói.

Hadi không bao giờ gặp lại tác phẩm của mình từ sau lần đó. Gã biết tên tội phạm nguy hiểm mà người Mỹ và cảnh sát Iraq lùng tìm, và kẻ luôn được nhắc đến trên ti vi, là Vô Danh. Gã và Vô Danh được kết nối với nhau chỉ trong tâm trí gã và có lẽ cả tâm trí của Mahmoud al-Sawadi, nhưng cuối cùng chuẩn tướng Majid, đi đi lại lại đầy lo lắng trong văn phòng rộng lớn với điếu xì gà to bự trong miệng, mải mê suy nghĩ về cách tốt nhất để truy dấu Kẻ Không Tên - như lão thầy bói với mớ râu nhọn đã gọi - cuối cùng ông ta đã tìm ra sự kết nối.

3

Faraj đang ngồi sau bàn trong văn phòng bất động sản, cẩn trọng quan sát cửa khách sạn Orouba bên kia đường. Y thuộc nằm lòng công việc hằng ngày của Bố Anmar và tình cảnh tài chính eo hẹp mà ông đang rơi vào.

Bố Anmar ló ra khỏi cửa khách sạn, xoay tấm thân khổng lồ để đóng cửa lại sau lưng, rồi chậm rãi đi xuống bậc tam cấp ra vỉa hè. Ông chỉnh lại chiếc khăn trùm đầu trên vai rồi bước đi, xoay như chong chóng chuỗi tràng hạt lớn bóng loáng quanh bàn tay chuối mắn. Trước khi ông đi qua hiệu giặt là Akhawain kế bên, một bàn tay chạm lên vai ông. Ông quay sang thì thấy Faraj với mớ râu đỏ dày rợp, mỉm cười với mình.

Đứng quá gần đối thủ khiến Bố Anmar khó chịu. Lần đầu tiên ông nhìn ra hai nốt ruồi lớn trên mặt Faraj, một ở đầu phía trong lông mày trái, có vẻ bị viêm, một ở ngay trên lớp ria mỏng.

“Đi làm cho xong việc của ông đi, rồi ghé qua làm tách trà với tôi,” Faraj nói.

“Nếu Chúa muốn,” Bố Anmar đáp, xoay hạt mau hơn và gật đầu nhanh một cái. Bố Anmar rảo bước đi tiếp, còn Faraj quay về văn phòng, xoa xoa cằm; y có vẻ sung sức và thư giãn. Sáng hôm đó y đã bạt tai một gã thanh niên gầy nhẳng với mớ tóc rối bù và chòm râu dê, khiến gã quay mòng mòng trước khi ngã sụp xuống đất. Gã trai trẻ này là thành viên Hiệp hội Bảo vệ Nhà cổ. Gã đã tới nhà Elishva, và bà đã đón tiếp gã, mời gã uống trà, theo lời kể của Mẹ Salim. Ai đó đã chạy vội tới báo với Faraj, y hộc tốc lao ra đường thì thấy tên này thò đầu ra khỏi nhà Elishva và lấy máy ảnh ra chụp những ban công mashrabiya của nhà Mẹ Salim. Bố Salim, chồng Mẹ Salim, rướn đầu qua cửa sổ trên tầng hai và ngỡ ngàng nhìn chằm chằm gã trai trẻ, kẻ lại đang chụp thêm một bức ảnh nữa như thể sự xuất hiện của Bố Salim làm tăng thêm không khí truyền thống của ngôi nhà cổ. Gã cảm thấy ai đó đang tới gần, quay lại thì thấy khuôn mặt hằm hằm của Faraj. Rồi tiếng bạt tai nảy lửa vang lên.

Trợ lý của Faraj kéo gã trai trẻ đứng dậy rồi đẩy gã đi. Gã vừa vội đi vừa ngoái lại, thấy người ta xua tay bảo gã đi cho mau, trong khi có người giữ Faraj lại để y khỏi đuổi theo gã trai trẻ tội nghiệp.

Faraj phủi bụi khỏi quần áo, vuốt phẳng chiếc mũ trùm đầu. Y quay lại thì thấy Elishva đang nhìn qua khe cửa. Mặt bà tái nhợt mỏi mệt, nom giống mặt của một bóng ma hơn là của một phụ nữ bình thường. Faraj giơ tay lên vẫy vẫy trước mặt bà.

“Sao bà không thôi đi cho và tha cho tôi nhỉ? Bà ương như ổi ấy, vì Chúa!” y nói.

Faraj quay về văn phòng, và cái bạt tai y giáng xuống gã trai gầy nhẳng tội nghiệp ấy vẫn tiếp tục vang vang trên đường. Chưa đầy một tiếng sau Bố Anmar quay về khách sạn với mấy túi mua hàng màu đen, Faraj bèn lớn giọng gọi một nhân viên trẻ bảo cậu ta sang khách sạn nhắc Bố Anmar nhớ về cái hẹn.

Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng của Bố Anmar ở văn phòng của Faraj. Ông không biết là nó lại to rộng thênh thang đến vậy. Cảm xúc của ông dao động từ ghen tị với sự giàu có của đối thủ đến đầu hàng trước những tác động về mặt giác quan mà sự xa hoa của văn phòng mang lại cho ông.

Người phục vụ trẻ đặt một cốc trà trước mặt Bố Anmar và một cốc khác trước mặt Faraj, giữa tiếng thìa khua lanh canh, Faraj vào thẳng vấn đề.

“Bố Anmar, với tôi ông là người rất đáng mến. Ông là người chuyên nghiệp và hiểu chuyện làm ăn. Tôi muốn chúng ta làm việc cùng nhau, ông và tôi.”

“Được rồi. Anh nghĩ gì thế không biết.”

“Tốt, tốt. Tôi đã thấy khách sạn của ông đang ở trong cảnh tồi tệ đến thế nào. Sẽ chẳng có ma nào thuê đâu.”

“Tôi đang hy vọng sửa sang lại nó,” Bố Anmar nói.

“Bằng gì, Bố Anmar? Ông lấy đâu ra tiền chứ?”

“Chúa rộng lượng mà.”

“Phải, Chúa rộng lượng mà. Không phải xấu hổ đâu, anh trai tôi, Bố Anmar. Tôi biết thừa là ông không xu dính túi. Tôi là em trai ông mà - đừng có xấu hổ với tôi. Ý tôi là, tôi muốn chúng ta làm đối tác của nhau, ông và tôi. Tôi sẽ lo chi phí sửa sang khách sạn và trang bị đồ đạc, và chúng ta sẽ là đối tác, năm mươi năm mươi. Ông nghĩ sao?”

4

“Các anh từ đâu đến?” Hadi hỏi.

“Chúng tôi từ sở giao thông,” hai sĩ quan vận đồ màu hồng lịch sự đáp.

Hadi đang ngồi trên chiếc giường ở giữa sân khi mặt trời lặn xuống hướng Tây. Các sĩ quan cùng mấy trợ lý do chuẩn tướng Majid cử đến đã đột kích nhà Hadi.

“Nhưng hai năm nay tôi có vi phạm giao thông đâu,” Hadi nói. “Với lại, tôi làm gì có ô tô.”

“Ông đang đùa chúng tôi đấy hả, thưa ông?” một trong hai sĩ quan quấn băng dày quanh cổ hỏi. Hadi không cách nào biết được đây chính là tay sĩ quan mà Vô Danh đã tìm cách siết cổ vào cái đêm truy đuổi kinh hoàng ấy. Và giờ anh ta có vẻ đang cố tìm hiểu xem liệu Hadi có cùng chiều cao và vóc người với con quái vật đã suýt giết chết anh ta hay không. Túm lấy cánh tay Hadi, anh ta nghĩ lão già khẳng khiu này sao có thể đủ nhanh nhẹn để chạy hay có sức mà đánh nhau, nhưng anh ta không chắc lắm.

“Đóng vai anh hùng và chống lại người Mỹ, không phải sao?”

“Tôi là tay buôn đồ cũ. Nhìn quanh anh mà xem.”

Hadi chỉ mười chiếc tủ gỗ xếp dựa vào tường.

“Phải rồi, tất nhiên. Ta luôn có thể mở một cơ quan cho những dịch vụ khủng bố, bom xe và ám sát với thiết bị giảm thanh.”

“Thiết bị giảm thanh ư?”

“Tiếp đi, cứ giả vờ ngây thơ đi.”

Họ mặc kệ Hadi và đi lục soát phòng gã. Một mùi hôi thối nồng nặc phả vào mặt họ. Đồ đạc của gã chất đống, còn có một ụ nhỏ lon bia Heineken trong góc. Nào là giày; bình làm từ đồng, nhôm, nhựa; những chiếc bàn gỗ gây chân; quần áo; lông bồ câu và lông gà; ga trải giường và chăn bạc màu; một cái bếp lò; hai bình ga; một thùng nhựa đựng đầy dầu lửa; và một cái tủ vương vãi nào hành, tỏi, đống hộp sữa rỗng cùng hộp cá và đậu. Họ nhanh chóng rời chỗ đó và lại vây quanh giường của Hadi, lặp lại câu hỏi về những tội ác mà gã được cho là đã gây ra trên đường phố Baghdad.

Một bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh bằng thạch cao, cánh tay dang rộng trong một cử chỉ hòa bình cùng những đốm màu phai bạc trên chiếc váy dài, thu hút sự chú ý của các sĩ quan.

“Ông là người Công giáo à?” một người hỏi.

“Không, tôi là người Hồi giáo.”

“Thế bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh này là sao?”

“Tôi không biết. Có một câu thơ trong kinh Qur’an từng ngự trên đầu tượng. Câu thơ bị bong, thế là lộ tượng ra.”

“Chúa ơi, ông đúng là điêu thành thần. Ông định làm gì với bức tượng?” tay sĩ quan băng bó quanh cổ hỏi đầy đe dọa. Rồi đám người từ sở giao thông bắt đầu hỏi cung Hadi về những tội ác mà gã chẳng hay biết gì, chất vấn gã về cái xác hay Vô Danh trong câu chuyện tưởng tượng gã bịa ra để mua vui cho những người ngồi xung quanh, để khiến gã nổi danh hơn trong vùng, để họ quý mến gã và thông cảm với gã.

“Các anh có hoàn toàn tỉnh táo không đấy?” Hadi bỗng lấy đâu ra can đảm, điên tiết vì màn hỏi cung. “Cái xác nào? Vô Danh nào? Các anh đang nói về chuyện gì vậy? Giờ các anh vẽ ra một bộ phim kinh dị để tấn công tôi, tất cả chỉ vì dăm câu chuyện bịa, ba cái chuyện ở quán cà phê.”

“Này, đừng có nhờn với tụi này nếu không tôi sẽ nện ông ra trò đấy,” người đàn ông băng bó đe dọa. Một sĩ quan vận đồ màu hồng khác giơ tay lên xoa dịu anh ta và nhận trách nhiệm hỏi cung. Họ tiếp tục đi lại quanh giường Hadi, chất vấn gã ngay cả khi khó nhìn ra mặt người trong bóng tối. Những giọng nói trở nên gay gắt hơn, và những bàn tay mà Hadi không biết của ai đẩy gã xuống giường vài lần. Rồi một người tương một cú trời giáng vào mặt Hadi khiến gã ngã bổ xuống đất, đập đầu vào một viên gạch còn nguyên vẹn giữa đám gạch long ra, vỡ toác. Cuộc hỏi cung rẽ sang một hướng mới - cái trò quen thuộc ở mọi đồn cảnh sát Iraq. Hadi đã nghe người ta kể nhiều chuyện về việc này. Hai trợ lý xốc nách Hadi, còn tay sĩ quan hồng bị băng bó bắt đầu thoi vào bụng Hadi như một kẻ điên. Việc này kéo dài trong đúng hai phút.

Những cú đấm không dừng lại cho đến khi Hadi nôn ra chỗ đậu và rau gã ăn lúc trưa và hai lon Heineken gã đã nốc một tiếng trước khi đám sĩ quan xông vào. Thứ hỗn hợp bốc mùi làm vấy bẩn quần áo đám sĩ quan khiến bọn họ lùi phắt lại, nguyền rủa và chửi thề. Hai gã đánh thuê giữ tay Hadi buông gã ra và để mặc gã gục xuống đất nôn tiếp.

Một tiếng sau, trong bóng tối điểm xuyết ánh lập lòe của những điếu thuốc lá, người bình tĩnh hơn trong hai sĩ quan kết luận rằng tay buôn đồ cũ chỉ là một lão già dối trá, bệ rạc, dở điên dở khùng. Có thể gã đang bảo vệ tên tội phạm thực sự nhưng lôi gã đến đồn cảnh sát thì chỉ tổ làm vụ việc họ điều tra phức tạp hơn mà thôi. Anh ta quyết định để lão già say khướt này ở lại đây và không bao giờ quay lại chỗ gã nữa mà chỉ cử vài người theo dõi xem ai ghé thăm gã và gã gặp gỡ những ai. Gã nên cảm thấy thoải mái và không nên sợ việc bị theo dõi.

Hai trợ lý của đám sĩ quan bật một chiếc đèn điện công suất lớn lên, thắp sáng xung quanh. Hadi đang nằm ngửa dưới mặt sân. Có vẻ gã không gượng dậy nổi.

Đám sĩ quan lại lục soát lần nữa. Trong hộp cà phê thủy tinh trên bàn ăn, sau ụ hành tây, họ tìm thấy ít tiền mặt mà Hadi kiếm được nhờ bán đồ đạc của Bố Anmar ở chợ Harj. Người bình tĩnh hơn trong hai sĩ quan nhét tiền vào túi quần rồi nhặt nhạnh ngẫu nhiên vài thứ. Anh ta lấy một chiếc bàn làm từ gỗ và kim loại, những người khác lấy các món đồ đạc và đủ thứ đồ cổ: một chiếc đèn chùm vỡ, một đồng hồ treo tường có con lắc đằng sau cửa kính. Một tay trợ lý, sau khi liều lĩnh vào sâu trong phòng Hadi, tìm thấy một bộ đĩa trong thùng các tông - với hình vua Ghazi và vua Faisal II, và Abd al-Karim Qasim[1], ga trung tâm Baghdad, cùng những địa điểm lịch sử và cảnh sắc thiên nhiên khác. Hắn bê chiếc thùng các tông lên, mang ra ngoài cho đồng bọn và mở ra với vẻ dương dương tự đắc.

Bọn họ hành xử như những tên trộm. Tay sĩ quan bình tĩnh, muốn Hadi thêm phần bối rối về việc họ là ai, cảnh cáo Hadi.

“Bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh kia là thứ cấm kỵ,” anh ta nói. “Ông có hiểu không? Chúng tôi muốn ông đập vỡ nó ngay bây giờ.”

Anh ta rọi cái đèn công suất lớn vào mặt Hadi và thấy môi gã mấp máy. Anh ta tiến lại gần hơn và nhắc lại mệnh lệnh. Hadi khó nhọc mấp máy môi lần nữa.

“Tôi không thể. Tôi không thể,” gã nói.

“Sao ông không thể? Ý ông là ông không muốn à?”

“Nhìn tôi đi. Tổ cha các anh. Tôi không đứng dậy được.”

Tay sĩ quan giận dữ đá vào bụng Hadi, hạ gục gã hoàn toàn. Một tên trợ lý vào phòng lấy báng súng lục đập vào bức tượng trong hốc tường vài lần, nện cho đầu của tượng rơi ra; phần còn lại vẫn ở nguyên chỗ cũ. Người đàn ông rọi đèn vào bức tượng để xem thành quả. Anh ta rùng mình sợ hãi khi người phụ nữ không đầu vẫn bình thản dang rộng đôi tay.

Nhiệm vụ của đám sĩ quan không dừng lại ở đó. Trước khi rời đi, tay sĩ quan băng bó muốn áp dụng một thử nghiệm cuối cùng với Hadi, cũng là thử nghiệm mà anh ta đã thực hiện với mười một kẻ xấu xí mà bọn họ đã bắt ở Bataween trước đó trong ngày.

Đám trợ lý lột trần Hadi, rồi khám xét gã dưới ánh đèn để xem trên người gã có bất kỳ vết khâu hay dấu hiệu nào của vết thương hay không. Tay sĩ quan giận dữ lấy ra một con dao sắc nhỏ dài bằng đốt ngón tay và rạch tay Hadi, rồi đến hông và đùi gã. Hadi rú lên. Tay sĩ quan dừng lại đợi xem máu chảy ra. Hadi quằn quại dưới đất khi máu tràn ra, đen và nhầy nhụa, đổ xuống mặt sân. Máu chảy ra thành dòng nhỏ, rồi ngừng và đông lại. Đó là máu đen. Tay sĩ quan giận dữ dùng tay khám xét gã. Đồng nghiệp của anh ta không nhúc nhích, bị lấn át bởi cảm giác ghê tởm. Tại sao bọn họ lại làm việc này? Họ đang thu thập thông tin. Tại sao họ lại đâm người để lấy tin thế này?

Giữa những cơn đau đớn, một giọng nói trong đầu Hadi bảo gã rằng mọi chuyện đang diễn biến như trong một bộ phim hành động của Mỹ. Siêu anh hùng của gã sẽ bất ngờ xuất hiện trên mái nhà trong dáng vẻ khổng lồ đen tối, rồi nhảy xuống và với tốc độ ánh sáng, đánh bại kẻ thù bằng những nắm đấm mạnh mẽ, cứu người bạn và người đã tạo ra mình, kiêm người cha già nua của mình. Nhưng chuyện đó không xảy ra. Một tay trợ lý cầm bộ đàm lên nhỏ giọng gọi tài xế. Hai phút sau ai nấy rời khỏi nhà Hadi, cầm theo những thứ vừa khoắng được. Tay sĩ quan băng bó không vui, cảm thấy bọn họ chưa hoàn thành cái nhiệm vụ đã khiến họ tới đây. Trước khi ra tới cửa, anh ta xoay người như thể muốn quay lại nện Hadi, nhưng đồng nghiệp đã kéo anh ta đi.

“Đồ sâu mọt, mày mà không cẩn thận thì có ngày xây xẩm mặt mày nữa đấy,” anh ta hét lên, vào bóng tối nơi cơ thể của Hadi đang nằm thẳng cẳng.

5

Bố Anmar choáng váng vì đề nghị của Faraj. Nó hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của ông. Nhưng khi đi trên quãng đường ngắn ngủi từ cửa văn phòng bất động sản Rasoul về khách sạn, sự thật trở nên sáng rõ hơn trong tâm trí ông: Faraj đã nghĩ ra cách khôn ngoan, xảo quyệt nhất có thể để xử đẹp Bố Anmar mãi mãi.

Y đã cho ông một đề nghị tuyệt vời. Họ sẽ là đối tác, Bố Anmar với gạch vữa, tường và mái nhà, còn Faraj lo mọi thứ khác. Phần của Faraj sẽ hơn của Bố Anmar, nhưng Bố Anmar sẽ chịu trách nhiệm điều hành và giám sát khách sạn. Điều khó chịu nhất là Faraj muốn đổi tên khách sạn từ khách sạn Orouba thành khách sạn Đại Tiên Tri.

Họ đã tranh cãi đúng một tiếng đồng hồ, cuối cùng Bố Anmar từ chối lời đề nghị và trở về khách sạn với những bước chân nặng trĩu. Bất chấp cái nóng, ông vẫn đóng chặt cửa kính, như thể muốn cho khuất mắt hình ảnh văn phòng của Faraj.

Ngồi xuống chiếc ghế đằng sau bàn lễ tân, ông bắt đầu uống, bình tĩnh và từ tốn, và lướt qua cuốn sách dày chứa đựng những lời tiên tri về ngày tận thế. Tâm trí ông lang thang, nhớ lại dòng hình ảnh từ sâu trong trí nhớ - về tuổi trẻ và những ngày huy hoàng của ông. Ông nghĩ về quãng thời gian khi ông là một thương gia đi lại giữa Baghdad và Qalat Sukkar, một thị trấn bên bờ kênh Gharrat ở miền Nam, gầy dựng mối quan hệ đối tác với người chủ ban đầu của khách sạn, và thế nào mà, sau khi đối tác mất, ông lại mua nguyên khách sạn. Ông cảm thấy mình đang đứng bên lề một vòng đời trọn vẹn, khi ngồi đó nhìn phản chiếu khuôn mặt mình trên cánh cửa khách sạn đóng kín.

Hình phản chiếu của ông trên cửa kính xoay xoay, và cửa mở ra. Là người bạn cũ Hazem Abboud, hổn hà hổn hển, mặt đầm đìa mồ hôi, chiếc túi vải lủng lẳng nặng nề trên vai trái. Hazem tướt bơ mới tìm thấy taxi chở anh ta tới đây. Bị một nhóm vũ trang ở nơi anh ta sống đe dọa, anh ta nghĩ cách tốt nhất là qua đêm ở nơi xa nhà, có lẽ cả mấy đêm nữa, cho đến khi nắm rõ tình hình hơn.

Hazem nhận thấy khách sạn trông gần như không còn đồ đạc. Bố Anmar kể với anh ta tất cả mọi thứ ông đã làm mấy tuần trước, kết lại bằng lời đề nghị mà Faraj đưa ra chiều hôm đó. Hazem cúi đầu một thoáng, rồi bảo ông rằng bất cứ lúc nào ông cũng có thể cầm cố khách sạn hoặc đem khách sạn ra làm tài sản đảm bảo để vay chính phủ, đặng sửa sang lại.

“Thế tức là mang nợ rồi còn gì, mà ai có thể đảm bảo khách sạn sẽ làm ăn tốt để trả lại đây? Rốt cuộc tôi sẽ rơi xuống một cái hố lớn, và rồi chính phủ sẽ tịch thu khách sạn. Tình hình sẽ ngày càng tồi tệ hơn thôi.”

“Thế thì chấp nhận đề nghị của Faraj đi.”

“Không, không thể nào. Tôi sẽ không làm việc cho tên tội phạm đó. Tôi sẽ không để nó làm nhục tôi ở cái tuổi này. Tôi đã từng là vua ở khu này khi nó còn cho gái điếm và ma cô thuê nhà. Tôi đã từng là vua đấy.”

Bố Anmar cúi người lấy cuốn album ảnh đồ sộ trong ngăn kéo to đùng của chiếc bàn gỗ. Đó là những bức ảnh đen trắng chụp Bố Anmar mặc com lê đeo cà vạt, nom gầy và trẻ trung. Trong một tấm, ông đứng kế đội bóng rổ từ tỉnh Maysan, trong tấm khác ông ngồi bên mấy cô gái tóc ngắn trong dàn đồng ca nhà thờ từ Mosul. Có ảnh chụp những nhân vật danh tiếng và những người từng nổi tiếng nhưng không ai ngoại trừ Bố Anmar là có vẻ biết.

“Thế ông định làm gì? Ông cứ để thế này cho đến khi cạn tiền tiết kiệm à?” Hazem hỏi.

“Không,” Bố Anmar đáp, dốc cạn chút đồ uống còn lại, lại rót đầy cốc một cách bình tĩnh và từ tốn, rồi đặt cốc xuống chiếc bàn gỗ nhỏ trước mặt người bằng hữu. “Tôi sẽ không chấp nhận đề nghị của thằng khốn đó, mà sẽ đề nghị lại. Tôi sẽ bán cả khách sạn này cho nó.”

❀ ❀ ❀

[1] Thủ tướng Iraq từ năm 1958-1963.

Tất An dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.