Frankenstein ở Baghdad

Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương năm CÁI XÁC
1

❊ ❊ ❊

“Dậy đi Daniel,” Elishva gọi to. “Dậy đi Daniel. Lại đây nào, con trai.”

Hắn đứng thẳng lên ngay lập tức. Vì đây là mệnh lệnh mà thằng nhóc đeo vòng bạc đã chết ở nghĩa địa Najaf từng nói đêm hôm trước. Bằng lời lẽ của mình, bà già đã thổi hồn vào đống hổ lốn khác thường này - tạo nên từ những bộ phận cơ thể tạp nham và linh hồn của người bảo vệ khách sạn đã chết. Bà già đã đưa hắn thoát khỏi tình trạng vô danh bằng cái tên mà bà đặt: Daniel.

Daniel nhìn bà già đứng trong căn phòng trên gác đã đổ sụp. Những lọn tóc muối tiêu xổ ra khỏi chiếc khăn buộc đầu màu đen bà thắt hờ quanh cái đầu nhỏ. Thân bà bọc kín trong cái áo khoác len sẫm màu sờn rách ở cổ tay, dưới chân là một con mèo xám rụng lông nhìn Daniel bằng đôi mắt mở to sợ hãi, khẽ kêu meo meo như tự nói với chính mình. Lúc này là gần sáu giờ sáng, không khí rất lạnh. Những âm thanh vọng từ bên ngoài nghe văng vẳng; sự nhộn nhịp ban ngày vẫn chưa bắt đầu. Tay buôn đồ cũ Hadi, ngủ trong phòng gã trong cơn đau đớn, phải đến trưa mới thức dậy.

Daniel trèo qua những chồng gạch của thứ từng là sàn nhà của căn phòng trước khi bị sập. Hắn đi theo bà già và con mèo xuống nhà.

Elishva đặt cái máy sưởi gần Daniel trong phòng khách, rồi đi đâu đó vài phút và quay trở lại với chiếc sơ mi trắng nhàu nhĩ, áo len xanh lục cũ kỹ và quần bò, tất cả đều nồng mùi băng phiến. Bà đã lấy quần áo từ ngăn kéo của Daniel, nơi chúng được cất suốt bao năm qua. Bà ném quần áo về phía hắn, đoạn bảo hắn mặc vào. Trước khi để lại hắn một mình, bà liếc hắn một cái cuối cùng. Bà không hỏi gì hắn - bà đã hứa với vị thánh bảo hộ là sẽ không hỏi quá nhiều. Suốt lúc đó bà để cặp kính dày cộp lủng lẳng trên cổ, nhưng vẫn biết người đàn ông này chẳng giống Daniel lắm. Chẳng sao cả. Không phải ai trở về cũng giống hệt như khi họ ra đi. Những câu chuyện nhằm giải thích cho những khác biệt những đổi thay, bà nghe đủ lắm rồi - những câu chuyện được kể bởi biết bao phụ nữ bị thời gian tàn phá, bằng cách nhận ra rằng họ sẽ không bao giờ gặp lại những khuôn mặt mất tích mà họ nhớ rất rõ nữa. Điều xảy ra là một phép mầu, bà tin như vậy, và thật khó đoán chuyện này sẽ dẫn tới đâu. Bà đã tính gỡ bức tranh lớn vẽ vị thánh trên tường xuống đem giấu kỹ vào góc nào đó trong nhà. Có lẽ bà sẽ cất nó ở một trong những căn phòng bụi bặm trên gác. Với cặp mắt đẹp và con ngựa trắng, Thánh George có thể ngắm nhìn những hạt bụi lọt vào qua vết mít của ô cửa sổ nhìn xuống đường. Ngài sẽ hối tiếc vì đã tảng lờ bà suốt bao năm qua và không thể nhận ra rằng, với chiều sâu nỗi thất vọng của bà, đã đến lúc Chúa và những hình ảnh thần thánh của Người phải lắng nghe tiếng be be của con cừu đi lạc.

Elishva để lại người đàn ông trần truồng kỳ dị đang nhìn chằm chằm vào những bức tường và đồ đạc trong nhà. Daniel đứng lên nhìn những bức ảnh - một trong số đó chụp một người đàn ông ngũ tuần có hàng ria đen mỏng vận bộ com lê kiểu Tây, bức khác chụp một thanh niên mày râu nhẵn nhụi với mái tóc dày và mảng tóc mai lớn. Cặp mắt u hoài ngái ngủ nhìn xa khỏi ống kính. Daniel lại gần bức ảnh hơn. Ắt hẳn nó phải được chụp từ hai mươi năm trước. Hắn chú ý đến hình phản chiếu của khuôn mặt chính mình qua lớp kính. Nó có phần làm hắn ngạc nhiên - đây là lần đầu tiên hắn nhìn thấy chính mình. Hắn lướt ngón tay qua những vết khâu trên mặt và cổ. Nom hắn xấu tệ. Làm thế nào mà bà già lại không có vẻ gì là giật mình trước vẻ ngoài đáng sọ của hắn nhỉ? Hắn chuyển sang xem một bức khác. Đó là một vị thánh chiến binh cưỡi ngựa trắng, đâm cây giáo vào cổ họng một con rồng thần thoại. Hắn xem kỹ nó. Khuôn mặt của vị thánh mềm mại nhẹ nhàng và điển trai, như các vị thánh trong mọi bức tượng thánh. Bà già đang ở phía trong nấu bữa sáng. Hắn có thể nghe thấy tiếng xoong nồi loảng xoảng khi bà làm công việc của mình. Chậm rãi, hắn mặc ba món đồ vào. Chúng vừa người hắn như in. Hắn quay lại nhìn phản chiếu của mình trong bức ảnh Daniel Tadros Moshe và để ý thấy, dù đó chỉ là một bức ảnh đen trắng, rằng Daniel mặc đúng bộ quần áo này: sơ mi trắng với cổ áo rộng hơi dựng bên dưới áo len cổ chữ V. Ngoại trừ những vết khâu thô kệch trên mặt và cổ, thì trông hắn cũng gần giống cậu ta. Bà già đã nghĩ như thế. Với đôi mắt chắc chắn đã mờ, khi trở lại phòng khách, bà sẽ chỉ thấy những gì mình muốn thấy.

Daniel chuyển sự chú ý sang bức tranh vị thánh tử đạo, nhìn kỹ nó dưới ánh ngày tràn vào qua cửa sổ. Hắn chú ý kỹ năng người nghệ sĩ đã dùng để thể hiện những nếp gấp trên cái áo choàng đỏ rực phấp phới sau vị thánh chiến binh vạm vỡ. Đó là một bức tranh kỳ diệu về một vị thánh điển trai với đôi môi mỏng, và giờ đôi môi đó đang mấp máy.

“Ngươi phải cẩn thận,” tiếng nói cất lên.

Đôi môi của vị thánh thực sự đang mấp máy.

“Đó là một bà già không may. Nếu ngươi làm hại bà ấy hay làm bà ấy buồn, ta thề là sẽ đâm xuyên cây giáo này vào cổ họng ngươi.”

2

Phiên bản mới của Daniel ngủ trên xô pha trong phòng khách. Elishva đắp cho hắn tấm chăn dày rồi để hắn nằm đấy để tiếp tục công việc hằng ngày, thường có nghĩa là dọn dẹp những thứ bà đã dọn dẹp, phủi bụi đồ đạc, những bức tượng thánh, tranh ảnh, và quét sân - những việc ngốn của bà nửa ngày.

Có lần con mèo trốn lên mái nhà nhìn quanh, dòm xuống khoảnh sân ngôi nhà ọp ẹp của Hadi. Hadi vò đầu bứt tai không hiểu và tìm khắp chốn xem cái xác gã tạo ra ở đâu. Gã tưởng tượng sẽ tìm thấy nó treo trên tường hoặc lơ lửng trên bầu trời trong xanh buổi sáng hôm ấy.

Dù khớp xương và đầu đau nhức, Hadi vẫn ra ngoài nhìn ngược xuôi con đường kiếm tìm dấu hiệu về một chuyện kỳ lạ đã xảy ra, nhưng gã không sẵn lòng chặn bất kỳ người hàng xóm nào để hỏi, “Xin hỏi, có ai thấy một cái xác trần truồng xuống phố không ạ?”

Hadi là kẻ ba xạo, ai cũng biết điều đó. Gã sẽ cần đến nhân chứng để chứng thực cho lời tuyên bố rằng gã đã rán trứng cho bữa sáng, nói gì đến câu chuyện về một cái xác trần truồng được tạo nên từ bộ phận cơ thể của những người đã chết trong các vụ nổ.

Hadi ngước lên mái nhà của Elishva và các nhà hàng xóm xung quanh, nghĩ rằng có lẽ ai đó đã lôi cái xác lên đó, nhưng gã chẳng nhìn thấy gì. Gã mở tất cả tủ quần áo và chạn bếp trong sân nhà. Rồi gã đi ngược đi xuôi những con đường lân cận. Gã dừng lại khi đến chỗ Bố Zaidoun, lão thợ cắt tóc, đang ngồi thõng thượt trên cái ghế vườn trắng bên ngoài cửa tiệm, nhưng Hadi không chắc lão nhìn thấy bất cứ thứ gì cho dù cái xác có đi thẳng tới trước mặt. Chủ tiệm giặt là Akhawain kể với gã là cảnh sát đã lục soát các ngôi nhà suốt buổi sáng để tìm kiếm các băng đảng có vũ trang buôn bán phụ nữ ra khỏi Iraq. Một nhân viên làm ở hiệu bánh nói có những “kẻ khủng bố” từ tỉnh lên trú trong một khách sạn địa phương và rằng cảnh sát và người Mỹ đang lục soát các khách sạn từng cái một. Hadi còn nghe được rằng hai gái mại dâm trẻ mà gã từng vui vẻ đã chuyển đến Syria ngày hôm đó để hành nghề trong các câu lạc bộ đêm - có vẻ như Baghdad không còn sinh lời nữa. Gã nghe được cả đống tin tức khác. Thực tế thì gã đã dành nửa ngày để nghe, nhưng gã không nghe được tin gì về cái xác đã biến mất bí ẩn.

3

Mẹ Salim xem đó là điềm lành khi gặp Elishva ở hàng thịt. Elishva mua khoảng hai lạng thịt bò và nửa cân lòng cừu đã làm sạch, rồi sang hàng rau bên cạnh. Bỏ chiếc khăn buộc đầu để tang của góa phụ ra, bà chít cái khăn choàng đầu màu đỏ điểm những bông hoa trắng, nom như thiếu nữ vậy. Mẹ Salim tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với bà.

Hai người phụ nữ đi chợ cùng nhau rồi chậm rãi đi ngược trở lại con đường. Mẹ Salim nói về chuyện xảy ra sáng hôm qua, kể rằng vụ nổ kinh khiếp đã khiến tường mấy nhà bị mít ra sao. Mụ biết được lúc ấy Elishva đang ở nhà thờ. Elishva nói bà có nghe thấy tiếng nổ nhưng lúc về thì không nhìn thấy gì hết. Lại có thêm bằng chứng cho Mẹ Salim rằng Elishva có sức mạnh đặc biệt.

Khi Mẹ Salim hỏi về tấm khăn choàng đầu màu đỏ nổi bật của bà, Elishva nhìn xuống đường khẽ nói, “Thời gian đau buồn đã qua rồi. Cuối cùng Chúa đã nghe thấy lời cầu nguyện của tôi.”

“Nghe vậy tôi vui lắm. Quả là tin tốt lành.”

Elishva không thể kìm được việc tiết lộ bí mật động trời, bà nói toẹt ra với Mẹ Salim rằng con trai bà đã về nhà. Mẹ Salim chỉ bước đi trong im lặng thẫn thờ. Bà già này đang nói gì vậy, mụ tự hỏi.

Khi Elishva tới trước cửa nhà mình, Mẹ Salim, mà nhà chỉ cách vài mét phía kia đường, dừng lại. “Giờ cậu ta có nhà không?” mụ hỏi.

“Có, nó đang ngủ. Nó mệt lắm.”

Mẹ Salim cong môi lại như đang suy nghĩ lung lắm, nhưng mụ không đi thẳng vào nhà kiểm tra, một sai lầm lớn mà sau này mụ đâm hối hận. Mụ còn mải nghĩ về bữa trưa phải chuẩn bị cho chồng, cái kẻ ngồi trên ban công cả ngày liền trong im lặng, đọc những tờ báo cũ. Mụ không coi những gì Elishva nói là nghiêm túc - cái tin quá choáng khó mà chấp nhận nổi sau một lời thông báo qua loa đến vậy. Mẹ Salim tự nhủ sẽ ghé nhà Elishva sau, có lẽ buổi chiều, để tìm hiểu thêm.

Nhưng hóa ra mụ không tìm hiểu thêm được gì. Buổi chiều mụ cũng bận sau khi thằng con giữa đột ngột thông báo tên của cô gái nó sắp cưới, khiến mụ không còn thời gian đâu mà gặp con trai của bà già, kẻ trở về từ cuộc chiến đã kết thúc hai mươi năm trước hoặc hơn. Dần dà, Mẹ Salim bỏ hàng ngũ mà nhập vào cái nhóm vẫn cho rằng bà già đã lẩm cẩm, và Elishva sẽ mất đi những đồng minh trung thành cuối cùng.

4

Hadi trở về nhà. Gã mò mẫm trên mặt sân xem có máu hay những mẩu bộ phận cơ thể mà gã biết mình đã cầm trong tay khi cắt chúng ra hay khâu lại với nhau để cái xác có một tình trạng tương đối hoàn thiện hay không. Gã chẳng tìm thấy gì: trận mưa lớn hôm qua đã quét sạch mọi thứ. Gã dành buổi sáng muộn nằm dài trên giường, ngước lên trần nhà ngấm nước. Rồi gã nhìn bức tường phía xa nơi người bạn quá cố Nahem Abdaki treo câu thơ thứ 255 của chương thứ 2 trong kinh Qur’an. Một mép bìa đã bong ra và cuộn xuống vì ẩm. Nếu ai đó kéo ra, họ có thể bóc cả câu thơ khỏi bức tường. Xét cho cùng, gã nghĩ chuyện xảy ra biết đâu lại hay: gã chả muốn thoát khỏi cái xác còn gì, và nó biến mất thật, giải thoát gã khỏi một nhiệm vụ hạ cấp khác - cắt nó ra và tháo chỉ, rồi vứt các bộ phận vào các thùng rác khác nhau trong khu dân cư.

Buổi chiều, Hadi tới quán cà phê của Aziz, nhưng quán quá đông và tay bạn Ai Cập không có thời gian tán gẫu với gã, thế nên gã đến nhà lão già quê Amirli, cố thuyết phục lão bán đống đồ cũ thêm lần nữa. Như thường lệ, gã lại quay về điểm xuất phát trong cuộc thương lượng. Lần thứ mười gã nghe lịch sử chiếc máy hát cũ được chế tác ra sao, lão mua nó ở đâu và những câu chuyện về bất kỳ món đồ hoặc vật dụng nào đứng trước mặt họ.

Nếu như lão già ăn vận chỉn chu, mày râu nhẵn nhụi này biết mình đang đứng cạnh một tên tội phạm mó máy vào những bộ phận cơ thể người thì sao nhỉ? Có lẽ lão sẽ đá gã văng qua lối đi lát xi măng ra tận ngoài cổng, nói lời tạm biệt gã ngay lập tức, rồi cấm cửa gã vĩnh viễn.

Sau này Hadi sẽ dẫn lại những chi tiết đó vài lần, vì gã yêu thích những chi tiết mang lại cho câu chuyện của gã tính chân thực và khiến nó sinh động hơn. Gã sẽ kể mọi người nghe rằng gã đã phải làm việc vất vả ra sao, nhưng họ sẽ lắng nghe như thể đó là câu chuyện ngụ ngôn hay nhất mà Hadi ba xạo từng kể.

Ngồi trong quán cà phê, gã sẽ kể câu chuyện từ đầu, không bao giờ mệt mỏi với việc kể đi kể lại. Gã đắm mình trong câu chuyện và cuốn theo nó, có lẽ để mang lại niềm vui thú cho người nghe hoặc để thuyết phục chính mình rằng đó chỉ là câu chuyện sinh ra từ trí tưởng tượng phong phú của gã và chưa bao giờ thực sự xảy ra.

5

Elishva đang bận nấu cháo kiều mạch kashka. Bà luộc tấm lúa mì và cho thêm đậu gà, gia vị, thịt thái miếng vuông vào. Bà rất giỏi nấu món truyền thống nhưng lại hiếm khi có dịp nấu - bà nấu làm gì nếu chỉ cho con mèo không thôi. Nhưng ngày hôm đó thì khác. Bà trân trọng vị khách đặc biệt này và đang hoàn thành lời thề cũ của mình. Bà già vừa quấy món kashka vừa tự lặp lại với chính mình, “Cầu xin phúc lành và bình an từ Đức Chúa trời - Cha của chúng con và Chúa Jesus Christ, người yêu thương chúng con trước cả yêu chính Người.”

Đã học nhiều tập tục của người dân trong khu, Elishva xem đó là lời thề mà giờ mình đang hoàn thành, dù cha Josiah luôn sửa cho bà.

“Chúng ta không ra điều kiện cho Chúa như người Hồi giáo,” ông nói. “Chúng ta không nói, ‘Nếu Người làm việc này thì con sẽ làm việc kia.’ “

Elishva hiểu ý ông, tất nhiên, nhưng bà thấy việc ra điều kiện cho Chúa cũng chẳng hại gì, như Mẹ Salim và những hàng xóm Hồi giáo khác của bà vẫn làm. Bà không nhìn Chúa như cách của cha Josiah. Chúa không phải “ở vị trí tối thượng”, bà không xem Người như một thế lực áp chế hay độc tài. Người chỉ là một người bạn cũ, và thật khó lòng bỏ rơi tình bạn đó.

Vị khách đặc biệt của Elishva không ăn bất cứ món nào bà đặt trước mặt hắn. Bà ăn một ít, còn Nabu thì chén hết sạch những mẩu thịt thừa và liếm láp cái bát. Bà chẳng bận lòng đến việc con trai bà, hay bóng ma của nó, chẳng cắn lấy một miếng. Có lẽ hắn giống những vị khách của Abraham trong phiên bản kinh Qur’an, hoặc giả hắn không muốn ăn. Bà không hỏi dồn hắn, sợ hắn bỏ đi mất.

Từ đó cho tới tối muộn Elishva lầm bầm từng hồi với vị khách lầm lì của mình. Không có gì đáng chú ý xảy ra trong khoảng thời gian đó. Người bán bình ga đến, và Elishva đổi cái bình rỗng lấy bình mới; anh ta bê bình đến cuối hành lang giúp bà già. Mấy chiếc trực thăng Mỹ bay ầm ĩ trên mái nhà khiến nó rung lên và làm bầy chim của Abdel Razzaq, thằng bé ở ngôi nhà đằng sau, hoảng loạn đập cánh, làm rụng mấy sợi lông vũ phất phơ giữa không trung. Mẹ Salim không ghé qua, cũng chẳng có hàng xóm nào khác - cả Diana cũng không, cái cô bé xinh xắn người Armenia ở con đường kế bên, mẹ của cô là Veronica Munib thi thoảng lại khuyến khích con qua thăm Elishva để xem bà có thiếu thứ gì hay cần làm cho xong việc gì không.

Trong khi nói chuyện với vị khách, Elishva để trên lòng mình những chiếc hộp đóng kín bấy lâu, mở hộp và dốc sạch mọi thứ trong đó ra. Bà gà gật trên xô pha đối diện chỗ người đàn ông kỳ lạ, lặng lẽ đang ngồi. Khi tỉnh dậy, bà thấy hắn đang nhìn chăm chăm vào ánh sáng yếu ớt lọt qua cửa sổ trông xuống con đường.

Elishva dốc bầu tâm sự với Daniel về chuyện cãi nhau với chồng bà, Tadros, người đã chôn chiếc quan tài rỗng cho Danny dù bà không muốn. Tadros, một tùy phái văn phòng ở bộ giao thông công chính, đã đi cùng mấy người họ hàng, bạn bè và người quen đến nghĩa trang Giáo hội phương Đông Assyria ở Đông Baghdad để chôn một chiếc quan tài có độc vài bộ quần áo của Daniel và những mảnh đàn guitar gãy của nó. Họ cầu nguyện cho nó, rồi đặt tấm bia mộ có dòng chữ bằng tiếng Syria và Ả Rập, “Nơi yên nghỉ của Daniel.”

Elishva không đồng ý đi cùng họ vì trái tim mách bảo bà rằng con trai bà chưa chết. Bà không ngó ngàng tới ngôi mộ cho tới khi Tadros qua đời và được chôn kế bên mộ con trai bà. Trái tim bà tan nát khi bà đọc thấy tên con trai mình trên tấm bia đá vôi, nhưng kể cả khi ấy bà cũng không chấp nhận việc nó đã chết, dẫu cho bao nhiêu năm trôi qua.

Trong thời gian đó, gia đình Ninous Malko chuyển tới một trong những căn phòng ở tầng trên của nhà bà lão. Họ đã bỏ lại ngôi nhà cho thuê ở Bataween. Cuối cùng, Matilda, con gái thứ hai của Elishva, lấy con trai thứ nhà Ninous, và một mối bằng hữu bền chặt đã phát triển giữa Elishva và vợ chồng Ninous Malko. Họ gần như đã bù đắp cho chuỗi mất mát mà Elishva phải chịu đựng, bởi vì ngoài chuyện Elishva đã mất Daniel và cha thằng bé, hai con gái của bà cũng có ý định ra đi. Không khó để những người họ hàng mới tin rằng một ngày nào đó Daniel sẽ trở về. Có nhiều người mất tích, và một trong số họ biết đâu sẽ trở về. Chuyện đó vẫn cứ xảy ra đấy thôi. Một người anh em của Ninous đã trở về sau nhiều năm bị cầm tù ở Iran, và vào thời điểm đó nhiều người đã kháo nhau về cú sốc khi biết được rằng ông ta đã từ bỏ tôn giáo gốc của mình và trở thành một người Hồi giáo dòng Shiite nhánh Mười hai Imam. Ông vẫn theo Shiite vài năm rồi dần dần cải đạo về Thiên Chúa giáo, hay ít nhất ông làm cho gia đình mình tin như vậy nhằm chấm dứt mối bất hòa gây ra từ việc ông cải đạo.

Nhiều tù nhân trở về nhà sau chiến tranh với Kuwait vào giữa những năm 90. Vì sự khắc nghiệt của lệnh trừng phạt kinh tế áp lên Iraq, chồng của Hilda và Matilda quyết định di cư. Hai cô con gái sẽ không đi nếu không có mẹ đi cùng. Nhưng như một con dê núi cứng đầu, Elishva từ chối. Mối bất đồng kéo dài suốt cả năm, nhưng bà lão không lùi bước. Cuối cùng bà thuyết phục các con rằng bà sẽ đến ở cùng khi họ ổn định cuộc sống và bà hoàn toàn từ bỏ hy vọng rằng Daniel sẽ trở về. Nhưng bà không bao giờ từ bỏ hy vọng, và sự hiện diện của gia đình Ninous Malko là niềm an ủi cho việc xa các cô con gái. Nhưng vào đêm người ta tuyên bố cuộc chiến cuối cùng, vợ của Ninous buộc tội Elishva dùng ma thuật đen với hai đứa con trai nhỏ nhà họ làm cho một trong hai đứa không nói được dù đã sáu tuổi. Bà ta sợ bà lão, nhất là sau khi phát hiện ra bà lão nói chuyện với mấy bức tranh hay với cả đống mèo lang thang quanh nhà. Có lần bà ta nói với chồng rằng một con mèo đã đáp lại lời bà lão và nói chuyện cùng bà. Bà ta thậm chí còn nghi ngờ lũ mèo đó thực ra là người đã bị Elishva dùng thứ ma thuật độc địa biến thành mèo.

Ninous chẳng tin vào mấy thứ mê tín dị đoan, nhưng ông không thể chịu được những lời phàn nàn của bà vợ về ngôi nhà, thế nên sau khi Mỹ xâm lược Baghdad, ông đưa gia đình nhỏ của mình tới Ankawa ở Erbill. Ông không nói với Hilda hay Matilda, mà Elishva cũng chẳng phản đối - bà có vẻ ủng hộ, hoặc là thờ ơ.

Các con gái của bà rất sốc khi phát hiện ra mẹ sống một mình trong căn nhà lớn giữa một thành phố loạn lạc nơi lũ ma quỷ ào ra khỏi ngục và cùng lúc trồi lên mặt đất - ít nhất đó là những gì họ tưởng tượng ra.

Thời gian đó, họ gọi cho Elishva vào mỗi Chủ nhật qua điện thoại vệ tinh ở nhà thờ Thánh Odisho, và nếu Elishva không đến vì lý do nào đó, đích thân cha Josiah sẽ gọi để trấn an họ. Cuộc điện thoại kéo dài không quá một phút - cha xứ muốn công bằng với tất cả những người có nhu cầu sử dụng điện thoại, mà số đó nhiều lắm. Đôi khi Elishva và một trong hai cô con gái nói được nửa chừng thì bắt đầu cãi nhau, và một phút đã hết ngay khi cuộc tranh cãi nóng lên, buộc cha Josiah phải giằng điện thoại khỏi tay Elishva. Các cô con gái nói muốn quay trở lại Baghdad và đưa mẹ đi bằng được, nhưng họ chỉ nói cứng vậy thôi. Nếu cuộc tranh cãi bị gián đoạn, Elishva sẽ tự đấu tranh với chính mình thay vì túm lấy một phụ nữ nào đó ở nhà thờ để thuyết một bài hùng hồn về việc bà không chịu bỏ nhà để chuyển đến một nơi bà chẳng biết gì. Cha Josiah khuyến khích bà ở lại, vì ông xem đó là bổn phận tôn giáo. Ai cũng bỏ nước ra đi thì thật không hay. Người Assyria cũng đã gặp những chuyện tồi tệ tương tự trong những thế kỷ trước, nhưng họ đã ở lại Iraq và sống sót. Cũng chỉ nghĩ đến bản thân mình thì thật không nên. Đó là những điều thi thoảng ông vẫn nói trong bài giảng đạo.

Đầu năm đó, cha Josiah hỏi Elishva xem có cho nhà Sankhiro ở nhờ được không, nhà ấy trốn chạy khỏi một cuộc phân biệt giáo phái ở Dora, quận phía Nam Baghdad. Họ ở căn phòng nhà Malko từng sống, nhưng chỉ vài tuần sau họ rời đến Syria, dự định di cư đến châu Âu. Chẳng bao lâu sau, ba con mèo của Elishva biến mất, và rồi Elishva tìm thấy con thứ tư chết trên mái nhà, cơ thể trương phềnh. Bà đinh ninh rằng một mảnh đạn pháo đã văng trúng nó hoặc nó ăn phải thịt bị đánh bả.

Elishva huyên thuyên nửa tiếng đồng hồ về lũ mèo, rằng Nabu là con duy nhất còn lại. Rồi bà chợt nhớ đến Bố Zaidoun, tay thành viên đảng Ba’ath chịu trách nhiệm về việc đưa con trai bà ra trận. Bố Zaidoun từng săn lùng những kẻ trốn nghĩa vụ quân sự, còn Daniel thì sau khi nhận giấy gọi lại mãi không ra trình diện. Nó không muốn ghi danh nhập ngũ và tới trại huấn luyện, thay vào đó muốn học nhạc cho xong. Nó thích chơi guitar và giữ một chiếc trong tủ quần áo, dù chơi chẳng hay lắm.

Bố Zaidoun đã lôi cổ Danny đi. Từ trại huấn luyện, Daniel ra thẳng mặt trận và không bao giờ quay về nữa. Kể từ đó, Bố Zaidoun là kẻ thù không đội trời chung của Elishva. Khi đám người Ba’ath mang đến một chiếc quan tài rỗng cho Daniel, cùng vài bộ quần áo và đồ cá nhân của nó, lão Tadros đã đau đớn đập nát chiếc guitar của thằng con trai.

Mấy mảnh đàn vỡ được cho vào chiếc quan tài lớn bằng gỗ tếch đỏ mà Tadros đã mang đến và hạ xuống mồ. Vậy là có một cây guitar vỡ trong một cỗ quan tài rỗng, một ngôi nhà đã mất bóng ma đứa con trai duy nhất của bà, và một kẻ thù say sưa chè chén trong khu dân cư, áp đặt quyền lực của mình lên mọi người mà chỉ vài kẻ dám đứng lên chống lại. Nhưng Elishva đã đứng lên chống lại lão. Bà nguyền rủa lão trong những lời cầu nguyện và bất cứ khi nào chạm mặt lão trên đường. Bố Zaidoun không còn bén mảng đến đường 7 nữa phòng khi Elishva có thình lình xông ra khỏi nhà để nguyền rủa lão. Mấy người phụ nữ còn thề rằng nếu lão già quỷ quyệt đó mà chết, họ sẽ giết một con cừu để tế Thượng đế. Elishva cũng lập lời thề, nhưng bà không bao giờ nói với cha Josiah về điều đó. Giờ thì bà đang tiết lộ nó, với vị khách im lặng của mình, lần đầu tiên trong đời.

Khi đêm buông xuống, Elishva mới xong phần đầu tiên của màn độc thoại dông dài. Bà nhắc đi nhắc lại với hắn rằng bà biết hắn sẽ trở về. Antoinette, một người họ hàng của bà đã không tin bà, hay Martha, hay vợ của Youresh anh trai bà, cũng vậy. Giờ thì họ đều đã chết hoặc di cư hết cả rồi. Bà lấy một cuốn album cũ ra chỉ cho hắn. Dưới ánh đèn bà cho hắn xem những bức ảnh hắn hồi nhỏ, đứng cùng dàn hợp xướng nhà thờ trong y phục lễ sinh. Rồi những bức ảnh hắn chụp cùng bạn ở trường. Ở quán bar hay nhà hàng. Mặc đồng phục bóng đá, chân để trên quả bóng giống cầu thủ nổi tiếng Ali Kadhim. Bọn con trai đứa nào muốn chụp kiểu ảnh như vậy đều sẽ đặt chân phải lên quả bóng, chống tay phải lên hông, và mỉm cười. Bức ảnh sẽ không hoàn hảo nếu chúng không tạo dáng y như vậy. Có một bức khác thằng bé chụp cùng đội bóng, bá cổ chúng khoác vai nhau. Ảnh đã mờ và ố. Khi Daniel lật xem hết chỗ ảnh, hắn đứng phắt lên, bỗng dưng hiếu kỳ, bèn đi lục lợi những phòng khác. Elishva vẫn ngồi tại chỗ, nhìn bức tranh vị thánh bảo hộ bên ánh đèn. Có vẻ như đêm ấy bức tranh sẽ không di chuyển hay lên tiếng.

Từ bếp vọng ra tiếng xoong nồi rơi xủng xoảng. Chắc hắn vấp phải thứ gì đó trong bóng tối. Elishva nghe tiếng hắn đi lên mái nhà. Hắn đi được vài phút thì quay lại, tay cầm theo gì đó. Hắn giấu nhanh vào túi quần. Rồi hắn mở mồm nói lần đầu tiên. Cuối cùng Elishva cũng nghe thấy giọng hắn. Nó khàn khàn, như thế hắn chưa nói lời nào từ khi được sinh ra. Phát âm đầy khó khăn, hắn bảo bà rằng hắn phải ra ngoài. Bà muốn nói, “Con định đi đâu? Con mới quay về mà. Sao lại bỏ mẹ? Hễ khi nào có ai đi ra khỏi cánh cửa đó là không bao giờ quay về nữa. Nó giống như cánh cửa dẫn đến một cái hố ấy.” Cảm giác như thể hét lên, bà khẽ níu lấy tay áo len màu xanh lục của hắn. Bà có thể cảm thấy cánh tay hắn rắn chắc thế nào, tựa một cành cây. Bà ngước lên nhìn khuôn mặt hắn, nhưng quá tối nên chẳng thấy gì. Hắn quay đi. Con mèo quanh quẩn đi lại giữa bọn họ, cọ mình vào ống quần hắn và khẽ kêu rừ rừ.

“Con sẽ quay lại. Đừng lo,” hắn cất giọng khàn khàn.

Hắn dứt khỏi tay bà và đi thẳng ra cửa. Bà nghe tiếng bước chân hắn đi qua khoảnh sân rồi dọc đường dẫn ra cửa. Bà nghe thấy hắn mở cửa rồi nhẹ nhàng đóng lại. Bầu im lặng lại trùm xuống căn nhà thênh thang đơn chiếc. Bà cảm thấy khát khô cổ họng và mệt mỏi hơn bao giờ hết. Ngồi rũ rượi trên xô pha trước bức tranh Thánh George Tử đạo, bà những muốn hỏi vị thánh bảo hộ vài câu hoặc nói chuyện với Ngài nhưng không lấy đâu ra sức. Bà để ý thấy tấm khiên kim loại của vị thánh ánh lên vẻ bóng láng mới, như thể ai đó trong bức tranh đã sơn lên nó vậy. Rồi ánh sáng mờ đi, và bà chẳng có gì để nói. Bà đã nói mọi điều muốn nói rồi. Bà sẽ không nhắc lại trong vài ngày tới. Chớp chớp mắt, bà nhìn những mảng đèn vàng trên bề mặt gọn lăn tăn của bức tranh cũ, trong khi con mèo già cuộn tròn giữa hai chán bà tìm hơi ấm.

Tất An dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.