Frankenstein ở Baghdad

Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương hai: THẰNG BA XẠO
1

❊ ❊ ❊

Để những câu chuyện mình kể thêm phần thú vị, Hadi cẩn thận thêm vào những chi tiết thực tế. Gã nhớ hết chân tơ kẽ tóc những chuyện từng xảy đến với mình và đưa chứng vào mỗi lần kể lại những trải nghiệm của mình. Một hôm gã ở quán cà phê của tay người Ai Cập, Aziz, ngồi trên băng ghế trong góc bên cửa sổ trước, gãi gãi hàm ria và bộ râu chẻ. Gã bồn chồn di chiếc thìa nhỏ quanh đáy cốc trà rồi nhấp hai ngụm trước khi bắt đầu kể chuyện, lần này là để phục vụ những khách quen mà Aziz khuyến khích nghe chuyện của Hadi. Họ bao gồm một nhà báo Đức tóc vàng mảnh mai với đôi môi mỏng và cặp kính dày cộp vắt vẻo trên cái mũi nhỏ, thông dịch viên trẻ tuổi người Iraq của bà, một nhiếp ảnh gia người Palestine, và một nhà báo trẻ da ngăm đen tên là Mahmoud al-Sawadi đến từ thị trấn Amara ở miền Nam Iraq và đang trú tại khách sạn Orouba của Bố Anmar.

Nhà báo Đức đang làm một bộ phim tài liệu về những đồng nghiệp Baghdad, đi cùng Mahmoud al-Sawadi trong một ngày làm việc bình thường. Bà không định nghe một câu chuyện dài phức tạp được kể bởi một tay buôn đồ cũ mắt lồi, người nồng nặc mùi rượu còn quần áo tả tơi lỗ chỗ vết thuốc lá cháy. Bà đang liều mình ra đường phố Baghdad một cách lộ liễu, thế nên bà không bật máy quay lên mà chỉ vừa uống trà vừa nghe chuyện. Thi thoảng bà lại quay sang người thông dịch Iraq, nghe một tràng giải thích về những gì Hadi đang nói.

Hadi thì lan man đủ thứ. Đó là một ngày xuân ấm áp, nên nhà báo Đức muốn dành thời gian còn lại ở bên ngoài hơn. Đến một lúc, bà phải quay về trung tâm báo chí ở khách sạn Sheraton để chép lại nội dung cuốn băng bà đã ghi lại cùng Mahmoud al-Sawadi.

“Tay này đang kể lại nội dung một bộ phim,” bà nói với Mahmoud khi anh đưa bà ra khỏi quán cà phê. “Gã ăn cắp câu chuyện từ một bộ phim của Rober De Niro.”

“Phải, gã có vẻ xem nhiều phim. Gã nổi tiếng ở vùng này lắm đấy.”

“Thế thì gã nên đến Hollywood mới phải chứ,” bà cười nói khi lên xe của người thông dịch.

2

Hadi chả buồn để tâm. Một số người bỏ đi lúc giữa phim. Âu cũng là chuyện bình thường.

“Chúng ta dừng ở đâu nhỉ?” Hadi hỏi khi Mahmoud quay trở lại ngồi trên ghế băng đối diện gã. Aziz đứng đó, tay cầm những cốc trà cạn và cười ngoác miệng, đợi Hadi kể tiếp.

“Đến chỗ vụ nổ rồi,” Aziz nói.

“Vụ thứ nhất hay thứ hai?” Hadi hỏi lại.

“Vụ thứ nhất… ở quảng trường Tayaran ấy,” Mahmoud nói, đợi Hadi câu sau phang câu trước bằng cách thay đổi một vài chi tiết. Đó là lý do duy nhất Mahmoud muốn nghe câu chuyện này lần thứ hai hoặc ba - để xem Hadi có câu sau phang câu trước hay không.

Vụ nổ thật kinh khủng - đến đây Hadi ngước lên nhìn Aziz để chờ xác nhận. Khi đó Hadi đã chạy ra khỏi quán cà phê. Gã đã ăn một ít đậu mà Ali al-Sayed nấu ở cửa hàng bên cạnh, sáng nào Hadi cũng ăn món đó. Trên đường ra khỏi cửa hàng, gã va phải những người chạy khỏi vụ nổ. Thứ mùi đó bỗng xộc vào lỗ mũi gã - khói, nhựa và đệm ngồi cháy, da thịt người bị nướng cháy. Đó là thứ mùi không giống bất cứ mùi nào ta từng ngửi thấy trong đời và sẽ không bao giờ quên được.

Bầu trời trĩu mây dọa dẫm một cơn mưa lớn. Dân lao động xếp hàng đông nghịt đối diện nhà thờ Armenia lớn màu trắng với những ngọn tháp dạng kim tự tháp bát giác, đỉnh cắm cây thập giá. Hút thuốc, trò chuyện, uống trà, ăn bánh của những người bán hàng rong trên vỉa hè rộng rãi hoặc ăn củ cải muối và đậu từ những xe đẩy gần đó, họ đợi xem trong dòng xe kia có ai sẽ dừng lại thuê họ để xây, sửa hoặc tháo dỡ gì đó theo dạng trả lương công nhật hay không. Dọc theo cùng một bên lề đường là những xe buýt gọi khách đi Karrada hay tới Đại học Công nghệ, còn bên lề đường đối diện cảnh tượng cũng y chang: ô tô xen giữa những quầy bán thuốc lá, bánh kẹo, đồ lót và ti tỉ thứ khác. Một chiếc xe hai cầu màu xám dừng lại, và phần lớn cánh thợ thuyền đang ngồi trên lề đường bèn đứng dậy. Khi mấy người trong số họ tiến lại, chiếc xe liền phát nổ thành một quả cầu lửa. Không ai kịp thấy chuyện xảy đến như thế nào; tất cả diễn ra chỉ trong tích tắc. Những người không bị thương - vì họ ở quá xa, hoặc được che chắn bởi các xác chết hoặc đám ô tô dừng đỗ, hoặc bởi họ đi theo những làn đường phụ và chưa đến được đường chính nơi vụ nổ xảy ra - tất cả bọn họ và những người khác - như người ở trong các văn phòng kế bên nhà thờ Armenia và một vài tài xế taxi đường dài - đã chứng kiến vụ nổ khi nó nuốt chửng đám xe cộ và xác người xung quanh. Làm đứt đường dây điện và giết chết lũ chim. Cửa sổ vỡ vụn còn cửa ra vào bị cuốn phăng. Những vết nứt xuất hiện trên tường các nhà gần đó, một số trần nhà cũ kỹ đổ sập. Có cả những thiệt hại không nhìn thấy nữa, tất cả đều bị hứng chịu trong đúng một khoảnh khắc.

Hadi nhìn cảnh tượng đó sau khi chấn động đã dứt và đám khói khổng lồ tan đi. Những vệt khói đen vẫn bốc lên từ đám ô tô, và lửa liếm gọn những vật nhỏ bị cháy nằm rải rác trên vỉa hè. Cảnh sát nhanh chóng đến hiện trường và lập hàng rào. Những người bị thương rên rỉ còn xác người chất đống trên lớp nhựa đường, phủ đầy máu me và bị cháy sém vì sức nóng của vụ nổ. Hadi kể rằng khi đến nơi, gã đứng trong góc bên cửa hàng ngũ kim, điềm tĩnh theo dõi hiện trường.

Trong dòng hồi tưởng câu chuyện, gã châm một điếu thuốc và bắt đầu hút, như thể cố xua đi mùi của vụ nổ. Gã thích cái ý tưởng xuất hiện tại hiện trường như một nhân vật phản diện khách quan, và gã đợi nhìn nét mặt những người đang lắng nghe xem họ có bị ấn tượng tương tự như vậy hay không. Xe cứu thương đến đưa người chết và người bị thương đi, xe cứu hỏa dập lửa cho đám ô tô còn xe kéo lôi chúng đi đến nơi nào chưa rõ. Vòi phun nước rửa trôi máu và tro bụi. Hadi nhìn cảnh tượng ấy với cặp mắt đại bàng, tìm kiếm thứ gì đó cụ thể giữa ngổn ngang xác chết và đổ nát. Khi chắc chắn đã nhìn thấy rồi, gã vứt điếu thuốc xuống đất rồi vội vàng chộp lấy thứ đó trước khi một luồng nước mạnh cuốn phăng nó xuống cống. Gã gói nó trong bao bố, gập lại dưới nách, đoạn rời khỏi hiện trường.

3

Hadi về nhà trước khi cơn mưa trút xuống. Gã băng qua những viên đá lát sân lỏng lẻo, đi về phòng, đặt cái bao bố gấp gọn lên giường. Gã thở mạnh đến nỗi nghe thấy cả tiếng phì phò trong mũi và khò khè trong lồng ngực. Gã với lấy cái bao bố gấp gọn, rồi đổi ý và quyết định đợi. Gã thích nghe tiếng mưa rơi hơn, ban đầu còn đứt quãng, sau lộp độp đều đặn hơn. Trong chốc lát, mưa đã ào ào trút xuống, gột rửa khoảnh sân, đường phố, quảng trường Tayaran, và những gì còn lại của tất thảy nỗi kinh hoàng trong ngày.

Cái ổ của Hadi mà gọi là nhà thì thật hơi quá. Nhiều người chẳng lạ gì chốn này, nhất là tay người Ai Cập Aziz trước khi anh ta lấy vợ và từ bỏ lối sống phóng đãng. Anh ta và Hadi từng ngồi quanh chiếc bàn trong nhà Hadi mà uống tới khuya, hoặc có khi Aziz thấy Hadi với một hai cô gái bán hoa từ đường 5. Chơi với Hadi lúc nào cũng vui vì gã không bao giờ kiềm chế bản thân trong trò khoái lạc.

Nhà của Hadi không hẳn là của gã và cũng không hẳn là một ngôi nhà. Phần lớn những gì bên trong đều đổ nát. Chỉ có một phòng duy nhất, ngay cuối; có mấy cái lỗ trên mái, ba năm trước Hadi và một tay cùng phường buôn bán tên là Nahem Abdaki đã biến nơi này thành căn cứ.

Người khu này đã biết đến Hadi và Nahem nhiều năm rồi. Họ đánh chiếc xe ngựa kéo đi đây đó, mua những món đồ gia dụng bỏ đi - nồi niêu xoong chảo và những món không xài được nữa. Sáng sáng họ ghé qua quán cà phê của Aziz ăn sáng uống trà trước khi làm một chuyến đi dài khắp Bataween và khu Abu Nuwas ở bên kia đường Saadoun. Họ rời đi trên chiếc xe kéo của Nahem, tới những khu khác của thành phố, xa về phía Nam như Karrada, nơi họ lẩn vào những ngõ hẻm.

Sau cuộc xâm lược của người Mỹ, ai cũng nhận thấy giữa cảnh hỗn loạn rằng Hadi và Nahem đang dựng lại những gì họ gọi là “đống đổ nát Do Thái”, dù rằng chẳng có gì Do Thái từng tồn tại ở đó - không chúc đài, không ngôi sao David[1] hay những câu khắc bằng tiếng Do Thái cổ. Hadi xây lại bức tường bao ngoài của đống đổ nát bằng bất cứ thứ gì rơi vãi xung quanh và lắp vào đó một cánh cửa gỗ lớn từng bị vùi dưới đất cát và hàng chồng gạch. Gã và Nahem dọn dẹp chỗ gạch vỡ trong sân, sửa lại căn phòng còn tốt duy nhất của đống đổ nát, và để những bức tường đổ cùng trần nhà sập nguyên như cũ. Căn phòng phía trên phòng của Hadi chỉ còn lại một bức tường, với một cửa sổ. Bức tường có nguy cơ đổ sập và chôn sống bất kỳ ai tình cờ ở dưới sân, nhưng mãi nó chưa đổ. Người dân địa phương cuối cùng cũng nhận ra Hadi và bạn gã đã trở thành một phần của khu dân cư. Ngay cả Faraj, cái tay có tiếng xấu là chiếm đoạt nhà vô chủ, cũng chẳng tỏ vẻ quan tâm với những gì gã buôn đồ cũ nhận là của mình. Với Faraj chỗ này vẫn là đống đổ nát Do Thái, như vốn thế.

Hai gã đàn ông này rốt cuộc từ đâu đến? Không ai quan tâm lắm đến câu hỏi này vì suốt hàng thập kỷ qua, khu này có cả đống người ngoài kéo đến sống trên đầu nhau; không ai dám nhận là người cư trú đầu tiên. Một hai năm sau đó Nahem lấy vợ, thuê nhà ở Bataween, và chuyển khỏi chỗ của Hadi, dù cậu ta và Hadi vẫn rong ruổi cùng nhau trên chiếc xe ngựa kéo.

Nahem trẻ hơn Hadi - khoảng ba lăm đến ngót bốn mươi tuổi - nom bọn họ như hai cha con, dù chẳng có nét gì giống nhau. Nahem có đôi tai to ngự trên cái đầu nhỏ, tóc dày dặn, thẳng dài nhưng giống như mớ dây nhợ xù xì, cùng hàng mày rậm gần như giao nhau. Hadi từng đùa rằng kể cả Nahem có sống đến một trăm hai mươi tuổi thì cậu ta cũng chẳng bao giờ rụng tóc. Hadi thì đã ngoài năm mươi, dù thật khó đoán tuổi gã. Gã lúc nào cũng bù xù nhếch nhác, với hàm râu chẻ chả buồn cắt tỉa, thân hình nhỏ con nhưng săn chắc và năng động, cùng khuôn mặt xương xẩu với gò má hõm sâu.

Hadi gọi tay bạn cùng phường buôn là Ông già Đau khổ. Khác với Hadi, Nahem không hút thuốc uống rượu, rất tỉ mỉ về các vấn đề tôn giáo, và không chạm vào một phụ nữ nào cho đến ngày cưới. Vì cái tính thận trọng trong tôn giáo ấy cậu ta chính là người “rửa tội” cho ngôi nhà khi họ chuyển đến, gắn lên bức tường trong phòng chính một bản được lồng khung câu thơ thứ 255 chương 2 kinh Qur’an. Cậu ta dán nó lên tường để đảm bảo nó không dịch chuyển, ít nhất là cho đến khi nó long ra. Hadi chả quan tâm gì đến tôn giáo, nhưng gã không muốn ra vẻ đối địch, thế nên gã đành chấp nhận việc câu thơ đó là thứ đầu tiên mình nhìn thấy mỗi ngày.

Nahem không sống đủ lâu để xem liệu đầu mình có còn đầy tóc như Hadi vẫn đoán hay không. Lúc Hadi ngồi trong quán cà phê của Aziz với Mahmoud al-Sawadi và mấy người đàn ông khác, kể thêm về câu chuyện của mình, thì Nahem đã chết được vài tháng - trong một vụ bom xe xảy ra trước văn phòng một tổ chức tôn giáo ở Karrada, trúng cả một người đi đường khác và con ngựa của Nahem. Khó mà tách thịt của Nahem khỏi thịt con ngựa.

Cú sốc trước cái chết của Nahem đã làm Hadi thay đổi. Gã trở nên hung hãn. Gã chửi thề, nguyền rủa và ném đá sau khi những chiếc Hummer của Mỹ hay xe của cảnh sát và Vệ binh Quốc gia đi qua. Gã lao vào cãi nhau với bất kỳ ai nhắc đến Nahem và chuyện xảy đến với cậu ta. Gã thu mình lại một thời gian, rồi sau đó trở lại con người cũ, cười nói và kể những câu chuyện cường điệu, nhưng giờ dường như gã có hai mặt, hoặc hai chiếc mặt nạ - ngay khi chỉ có một mình, gã trở nên ủ dột và suy sụp theo cách chưa từng thấy trước đây. Gã cũng bắt đầu uống rượu lúc ban ngày và luôn thủ hàng chai rượu arak hoặc whisky trong túi, hơi thở thì nồng nặc mùi cồn. Gã trở nên nhếch nhác, để râu mọc dài thượt, và hiếm khi giặt quần áo.

Không ai còn nhắc về Nahem Abdaki nữa, kẻo rồi Hadi lại nổi điên và hét những lời tục tĩu. Vì thế mãi sau này Mahmoud al-Sawadi mới được nghe kể về Nahem, trong phiên bản câu chuyện được kể bởi tay người Ai Cập, Aziz.

4

“Chúng ta dừng ở đâu nhỉ?” Hadi hỏi sau khi trở ra từ toilet kế bên quán cà phê.

“Ở đoạn cái mũi to trong chiếc bao bố,” Mahmoud al-Sawadi uể oải đáp.

“Ồ đúng rồi, cái mũi.”

Hadi vừa kéo khóa quần vừa bước đến chỗ ghế băng bên cửa sổ phía trước quán cà phê. Gã ngồi xuống tiếp tục câu chuyện, còn Mahmoud, kẻ đang hy vọng lật tẩy gã, thì thất vọng vì gã chẳng thay đổi bất cứ chi tiết nào. Trước khi đi toilet, gã dừng câu chuyện ở đoạn mưa tạnh và gã bèn mang cái bao bố ra ngoài sân. Ngước lên nhìn trời, gã thấy những đám mây tản ra tựa những sợi len bông, như thể chúng đã bất chợt trút hết nước và giờ thì tản đi. Mấy món đồ gỗ cũ bị ngấm nước mưa rồi sẽ hỏng mất thôi, nhưng Hadi chẳng buồn quan tâm. Gã đi tới căn nhà kho vốn được gã lắp ghép từ những mảnh đồ gỗ đầu thừa đuôi thẹo, những thanh sắt và những phần của khu bếp mà gã cho dựa vào một đoạn tường còn trụ lại, đoạn gã ngồi xổm xuống ở một đầu. Phần còn lại của nhà kho bị một cái xác khổng lồ chiếm mất - cơ thể của một người đàn ông trần truồng, với thứ chất lỏng nhơn nhớt, sáng màu túa ra từ các bộ phận. Chỉ còn lại duy nhất chút máu - mấy vết nho nhỏ đã khô trên chân tay, mấy vết trầy xước và tím bầm quanh vai và cổ. Thật khó nói về lớp da - nó không có màu đồng nhất. Hadi tiến thêm vài bước quanh cái xác trong khoảng không gian hẹp rồi ngồi xuống gần cái đầu. Chỗ đã từng là mũi bị biến dạng kinh khủng, như thể thú hoang đã ngoạm mất một mảng. Hadi mở bao bố, lấy thứ đó ra. Dạo gần đây gã mất hàng giờ đồng hồ tìm kiếm thứ giống như thế này, thế nhưng gã vẫn xử lý lóng ngóng. Chiếc mũi còn tươi, vẫn bọc trong lớp máu đỏ thẫm đã đông lại. Tay run rẩy, gã đặt nó vào cái hố đen trên mặt cái xác. Nó vừa khít, như thể cái xác đã lấy lại mũi của chính mình vậy.

Hadi rụt tay lại, chùi đầu ngón tay vào quần áo, đoạn ngước lên nhìn khuôn mặt kia với vẻ hơi thiếu hài lòng, nhưng nhiệm vụ của gã giờ đã xong. Thực ra, cũng chưa hẳn là xong: gã phải khâu cái mũi lại đã.

Cái xác chỉ cần có mỗi chiếc mũi để trở nên hoàn thiện, vậy nên Hadi làm nốt công việc. Đó là một việc kinh khủng, gã phải làm mà không có sự giúp đỡ của bất kỳ ai, và có vẻ như chẳng có chút ý nghĩa nào bất chấp những lý lẽ gã dùng khi cố gắng giải thích cho người nghe.

“Tôi muốn giao anh ta cho bên pháp y, vì đó là một thi thể trọn vẹn bị bỏ lại trên đường như rác rưởi vậy. Đó là một con người mà, các anh, một con người,” gã nói với họ.

“Nhưng đó không phải một thi thể trọn vẹn. Anh đã làm nó trở nên trọn vẹn mà,” ai đó phản đối.

“Tôi làm nó trở nên trọn vẹn để nó không bị đối xử như rác rưởi, để nó được tôn trọng như những người đã chết khác và được chôn cất tử tế,” Hadi giải thích.

“Thế sau đó thì sao?”

“Với tôi, hay với Vô Danh?”

“Với cả hai.”

Người nghe của Hadi hoàn toàn chú tâm vào câu chuyện. Những người nghe mới có thể không may để lỡ mất sự thú vị của câu chuyện nếu như họ cứ khăng khăng cật vấn nó ngay từ đầu. Thường người ta đợi đến cuối mới nêu ra những phản đối về tính hợp lý của câu chuyện, và không ai xen vào cách Hadi kể hay những tuyến chuyện phụ mà Hadi rẽ vào.

Hadi có hẹn với một người đàn ông ở Karrada. Đã mấy ngày liền gã không mua bán gì cả, và tiền bắt đầu cạn dần. Gã đã bám lấy người đàn ông này một thời gian vì có thể đào được chút tiền từ người đó. Đó cũng là một người già cả sống một mình trong căn nhà riêng, rất giống Elishva, nhưng ông già này có một bà bạn gái ở Nga, vẫn cố thuyết phục ông bán nhà cửa đồ đạc rồi di cư để họ có thể sống quãng thời gian nghỉ hưu bên nhau.

Chuyện đó thì chẳng có vấn đề gì; chúc cho họ sống hạnh phúc mãi về sau. Chỉ có điều bất cứ khi nào Hadi nghĩ mình và ông già có thể đạt được thỏa thuận, thì ông ta lại hoắng cả lên về chuyện mất đồ mất đạc, nhất là mớ đèn chùm, đèn đọc sách, và cái đài dùng đèn chân không. Ông ta bám lấy chúng như thể sẽ chết chìm nếu không có chúng vậy. Hadi không muốn ép hay làm ông ta sợ mà thôi không bán nữa, thế nên gã bỏ đi, định bụng quay lại sau đó thì thấy ông ta tươi cười và hào hứng với việc ký giao kèo.

Hadi rửa tay sau khi xử lý cái xác. Gã thay quần áo sạch rồi đến gặp ông già miễn cưỡng kia, lo rằng ai đó có thể thuyết phục ông ta bán đống đồ giá trị của mình hoặc thuê lại căn nhà với đầy đủ đồ đạc, cho phép ông già vừa giữ lại quyền sở hữu vừa có tiền thuê nhà trong khi kẻ thuê nhà nuôi hy vọng chiếm hữu nó khi ông ta chết.

Nhà ông già không xa lắm - Hadi có thể nhảy lên xe buýt năm phút là đến. Khi đường đông, gã sẽ đi bộ, dọc đường đi nhặt những lon bia và chai nước ngọt rỗng bỏ vào bao bố. Sau đó gã có thể bán cho những người bán hàng rong chuyên mua mấy thứ đó hoặc giữ lại trong hàng đống bao bố ở nhà rồi thuê xe bán tải chở đến nhà máy tái chế nhôm ở Hafez al-Qadi gần phố Rashid.

“Còn cái xác, vì Chúa, chuyện gì xảy ra với nó?”

“Gượm đã nào.”

Hadi đến nhà ông già và gõ cửa, nhưng không ai ra mở. Có lẽ ông ta đang ngủ hoặc đã ra ngoài. Hoặc có lẽ ông ta đã chết thật: thời khắc của ông ta đã đến trước khi ông ta kịp gặp lại bà bạn gái người Nga và chạm vào đôi bàn tay gầy guộc nhăn nheo của bà. Hadi gõ cửa liên hồi đến khi hàng xóm phải chú ý, rồi gã quay trở lại phố Saadoun và vào một quán ăn gần bệnh viện Rahma. Gã ăn bánh kẹp kebab rồi gọi thêm hai xiên kebab mang về.

Mây đã tản hết, nhưng gió vẫn thổi những luồng khó đoán định từ nhiều hướng khác nhau. Chiếc ô của người bán thuốc lá dạo bị lật chổng ngược, cục xi măng trong cái lon thiếc lớn cắm cán ô chặn nó khỏi bay đi mất.

Bị gió tạt, người đi đường phải khó khăn lắm mới đi nổi. Có người trông như thể bị một bàn tay ẩn giấu phát mạnh hoặc lôi xềnh xệch từ phía sau. Người ngồi ngoài quán cà phê nhanh chóng di chuyển vào trong, cánh tài xế đang để hé cửa sổ liền đóng kín lại. Những người bán báo và tạp chí giải tán, kẻ bán thuốc lá bánh kẹo ở cột đèn giao thông nhét hàng vào túi đeo vai để khỏi bị thổi bay đi mất. Người đội mũ thì ấn chặt mũ xuống kẻo bị gió cuốn.

Ở khách sạn Sadeer Novotel, nhìn xuống quảng trường Andalus, những cây cọ đang nghiêng ngả, còn người bảo vệ nơi sân trước cài chặt cúc chiếc áo khoác quân đội. Anh ta không phải đứng ngoài trời, nhưng bốt canh gác bằng gỗ không thể bảo vệ anh ta trước cái nóng hay lạnh. Nếu anh ta là một người lính hay cảnh sát ở một trong các đơn vị được bố trí khắp đường phố Baghdad, thì hẳn anh ta đã đốt lửa trong một thùng dầu mở nắp để giữ ấm, khiến quần áo bám đầy bồ hóng, nhưng ban quản lý khách sạn cấm những việc như vậy.

“Giờ thì anh lại thao thao về tay bảo vệ khách sạn!”

“Kiên nhẫn nào, anh bạn. Anh ta sẽ có mặt trong phần câu chuyện anh đang nghe này.”

Hadi ăn xong chiếc kebab, uống cạn lon Pepsi rồi bóp nát cái lon bằng tay và quẳng vào bao bố bên cạnh. Gã không muốn ra ngoài lúc gió to thế này, thế nên gã giết thời gian bằng cách lục xới chỗ rác trong quán ăn và dọn sạch tất cả các lon nước ngọt. Khi bão tan, gã ra ngoài thì thấy mặt trời đã mất dạng còn bầu trời thì chuyển sang xám xịt và tối dần từng phút một. Gã không thể nghĩ ngay ra điều gì. Thế rồi gã nhớ đến cái xác bị bỏ ở nhà, liền cảm thấy choáng váng.

Không nghĩ ngợi gì, gã bước về phía giao lộ quảng trường Andalus. Đó là một ngày lạ kỳ. Gã nghe thấy ti vi trong nhà hàng đưa tin về những vụ nổ xảy ra trong ngày ở Kadhimiya, Sadr City, quận Mansour và Bab al-Sharqi. Có cảnh người bị thương ở bệnh viện Kindi và hình ảnh quảng trường Tayaran khi lính cứu hỏa dùng vòi phun dập lửa. Hadi đã nghĩ sẽ bắt gặp chính mình trên ti vi, trong cái xó bên cửa hàng ngũ kim, thản nhiên hút thuốc như một tên tội phạm quan sát hiện trường vụ án. Phát ngôn viên của chính phủ xuất hiện, mỉm cười trả lời các câu hỏi của cánh phóng viên. Ông ta trấn an rằng chính phủ đã phá kế hoạch của bọn khủng bố vì, theo tình báo, al-Qaeda và tàn dư của chế độ cũ đã lên kế hoạch tiến hành một trăm vụ đánh bom xe, nhưng lực lượng liên minh và an ninh Iraq đã triệt phá tất cả chỉ còn lại mười lăm vụ.

Ông chủ quán ăn béo ị bĩu môi dài thượt vẻ bất mãn khi nghe những lời phát ngôn viên nói. Thực ra là có mười sáu vụ nổ, nhưng vụ cuối cùng không được nhắc đến vì lúc đó phát ngôn viên đã về nhà mất rồi.

Hadi đi men theo đường với chiếc bao đựng lon rỗng vắt vẻo trên vai. Khi tới khách sạn Sadeer Novotel, thường thì gã đi sang phía bên kia đường để tránh bị bảo vệ quát, nhưng lần này, gã quên béng, tâm trí còn mải nghĩ về cái xác trong kho ở nhà. Gã định làm gì chứ? Gã đã hoàn thành nhiệm vụ gã đặt ra cho mình rồi. Gã có nên thuê xe chở cái xác đến chỗ pháp y? Hay gã nên mang nó ra đường một đêm nào đó và bỏ nó lại nơi quảng trường hoặc trên phố để cảnh sát đến hoàn thành công việc của mình?

Khi đi qua trước cánh cổng kim loại lớn của gara khách sạn, gã nhận ra mình đã rơi vào thế khó xử. Cách dễ giải quyết duy nhất là về nhà, dỡ cái xác ra, trả nó về hiện trạng ban đầu - chỉ là dỡ các bộ phận ra thôi. Rồi đem mấy bộ phận đó vứt rải rác khắp đường phố, nơi gã đã tìm thấy chúng.

Trong khi đó, run rẩy vì cái lạnh, tay bảo vệ nghĩ xem có nên duỗi chân duỗi cẳng ra không. Anh ta bước ra ngoài bốt canh gác, về phía cổng, rồi bám lấy những thanh chắn giá lạnh của cánh cổng mà nhìn sinh vật với chiếc bao khả nghi đi qua. Anh ta nghĩ không cần phải xua gã đi làm gì.

“Chính mắt anh đã thấy tất cả phải không?” Hadi quay sang hỏi Mahmoud.

“Phải, khi ấy tôi đang đứng cùng mấy người bạn bên kia đường thì thấy cái xe rác đi về phía cổng khách sạn.”

“Anh nhìn thấy? Đấy, chứng tỏ tôi đâu có bịa ra. Anh chàng này chính là nhân chứng.”

Khi đi qua cánh cổng được khoảng hai mươi thước, Hadi thấy chiếc xe rác lao qua gã về phía cổng, suýt nữa húc gã xuống đường. Giây lát sau nó phát nổ. Hadi, cùng chiếc bao bố và bữa tối, bị hất tung lên khỏi mặt đất. Với bụi đất và sức công phá của vụ nổ, gã chơi vơi trong không trung, lộn nhào rồi đập mạnh xuống lớp nhựa đường. Có lẽ phải mất cả phút gã mới nhận thức được chuyện gì vừa xảy ra. Gã thấy mấy người trẻ tuổi chạy về phía mình. Phóng viên Mahmoud al-Sawadi là một trong số họ và đã đỡ Hadi dậy. Khói bụi bao trùm khắp nơi. Sợ thất đảm, Hadi dợm bước đi. Những người đỡ gã trước đó hét với theo, cho rằng có lẽ gã đã bị thương mà vẫn chưa cảm thấy, nhưng gã bắt đầu chạy. Rõ ràng gã đang bị choáng.

Bóng tối buông xuống. Xa xa Hadi nghe thấy tiếng xe cảnh sát, cứu thương và cứu hỏa. Đám khói bụi tản ra thành làn sương mỏng sáng lên dưới ánh đèn pha xe cộ. Mahmoud và những nhân chứng khác, choáng váng và hoảng loạn, đi men theo đường, nghiền nát dưới chân những mảnh kính vỡ không nhìn thấy, những mẩu kim loại nhỏ và những vụn vỡ khác mà vụ nổ gây ra.

5

Hadi gồng mình nhấc bước. Hai cánh tay và xương chậu gã đau dữ dội, trán và gò má bị rách do ngã xuống lớp nhựa đường. Gã tập tễnh đi, lê bước khó nhọc. Nếu suy nghĩ sáng suốt, gã đã bắt taxi về Bab al-Sharqi. Nhưng thực ra, gã chẳng nghĩ gì sất. Như thể ai đó đã ấn một cái nút và thế là gã bắt đầu bước đi, không hơn, và có lẽ khi hết năng lượng gã sẽ đổ sụm xuống.

Hadi liên tục nói mình sẽ không chết - gã đã sống sót qua vài vụ nổ rồi. Điều quan trọng nhất với gã là cơ thể gã chưa bị trúng đạn pháo. Tất cả vết thương đều do va đập xuống đất, và không nghiêm trọng.

Về đến nhà - không có cái bao bố hoặc bữa tối mua trong quán; gã đã bỏ lại ở hiện trường vụ nổ - gã đẩy cánh cửa gỗ nặng nề ra nhưng quên không đóng lại sau lưng. Khi nhìn ra xa về phía cánh cửa dẫn vào phòng mình, gã cảm thấy nó còn xa hơn bình thường. Gã bước qua những viên đá lát mít vỡ trên khoảnh sân, sợ rằng mình sẽ ngã xuống chết hoặc ngất đi. Gã muốn đến bên chiếc giường của mình. Khi vào phòng, gã quăng mình xuống lớp nệm và nhanh chóng thiếp vào giấc ngủ sâu, hoặc có lẽ là một cơn hôn mê mà gã đã cố trì hoãn.

Hôm sau tiếng tin tức trên đài đánh thức Hadi dậy. Có lẽ là từ nhà hàng xóm vọng sang, hoặc Mẹ Salim đang ngồi trên hiên đối diện cửa trước nhà gã, ôm chiếc đài nhìn người ta đi qua đi lại, như mụ ta thi thoảng vẫn làm.

Khi Hadi nhấc đầu dậy, gã thấy chiếc gối bị dây đầy nước bọt và những vết máu khô. Ban đầu gã nghĩ chắc mình say quá, nhưng rồi gã nhớ ra vụ nổ. Và cái xác trong kho. Hôm nay chắc là nó thối rữa hơn rồi. Có lẽ người đi qua nhà sẽ ngửi thấy mùi đó.

Hadi ngồi dậy, nhìn ánh sáng thì gã đoán đã gần trưa. Gã rửa mặt; cơn đau dữ dội hơn khi gã cử động tứ chi. Quay một vòng, gã thấy hậu quả mà cơn bão đã gây ra với khoảnh sân lúc gã đi vắng. Mấy miếng lắp ghép bếp và phòng làm việc bị lật úp. Những mảnh gỗ lợp mái bị thổi bay. Trần nhà không còn. Nhìn gần hơn, gã phát hiện nhiều thứ khác cũng đã biến mất.

Cái xác, cũng biến mất. Gã lục tung mọi thứ lên, rồi quay về phòng tìm trong đó xem sao. Tim gã đập càng lúc càng nhanh, và gã quên mất cả cơn đau đang gặm nhấm xương tủy gã. Cái xác có thể đi chỗ quái nào được nhỉ? Gã dừng lại giữa sân, hoang mang sợ hãi. Gã ngước lên bầu trời xanh trong, nhìn những bức tường cao của mấy nhà hàng xóm, rồi nhìn cái mái thấp tè còn lại của căn phòng đã đổ sụp trong nhà Elishva. Một con mèo già xơ xác chằm chằm nhìn gã. Nó meo một tiếng trầm sâu. Rồi nó chầm chậm quay đi và biến mất sau bức tường đổ.

“Rồi sao nữa?”

“Thế thôi. Hết chuyện rồi.”

“Ý anh là thế thôi? Thế cái xác đi đâu hả Hadi?”

“Tôi không biết.”

“Chuyện chẳng hay gì cả, Hadi. Kể cho chúng tôi nghe chuyện khác đi.”

“Nếu anh không tin thì tùy anh. Thôi, tôi xong rồi. Các anh dùng trà đi.”

❀ ❀ ❀

[1] Ngôi sao David, hay Tấm khiên David, được công nhận rộng rãi là biểu tượng cho nhân dạng Do Thái và Do Thái giáo.

Tất An dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.