Tôi gặp Mahmoud Riyadh al-Sawadi ở quán cà phê Baghdadi. Nơi này tập trung đông đảo dân trí thức, nhà văn nhà báo, diễn viên, đạo diễn và nghệ sĩ. Nhũng chiếc ghế băng dài bằng kim loại bên ngoài, trên vỉa hè, không thể đủ cho tất cả mọi người, nhất là lúc sau hoàng hôn, khi cái nóng gay gắt mùa hè dịu lại.
Tôi đang nhấm nháp trà thì nhìn thấy anh ta đang bán chiếc đồng hồ Rolex và máy tính xách tay. Nom anh ta như thể mấy ngày trời chưa tắm gội hoặc thay quần áo.
Anh ta móc từ túi ra một thiết bị nhỏ gắn với một cuộn dây bạc dài mà ta có thể đeo quanh cổ. Tôi phát hiện ra đó là máy ghi âm kỹ thuật số. Anh ta đang nói chuyện với bạn về thiết bị đó, và rồi mấy người bọn họ cười phá lên. Một người bạn của anh ta chỉ vào mấy chiếc ghế kim loại gần bàn tôi đang ngồi. Anh ta tiến lại, và chúng tôi chạm mắt nhau.
Anh ta nói đó là máy ghi âm kỹ thuật số hiệu Panasonic và anh ta muốn bán nó với giá bốn trăm đô la - một trăm cho bản thân cái máy ghi âm còn ba trăm là cho câu chuyện được lưu trong đó. Đó là câu chuyện kỳ lạ nhất anh ta từng được nghe, anh ta nói, mà một nhà văn như tôi có thể tận dụng để viết một tiểu thuyết vĩ đại.
Ngay cả trước khi anh ta mở miệng, tôi đã quyết định mua cái máy ghi âm rồi, không phải vì tôi cần nó, mà như một hành động từ thiện. Tôi thậm chí còn kiên quyết hơn khi nghe về khoản nợ chồng chất mà anh ta phải trả hết trước khi quay về với gia đình ở tỉnh Maysan. Nhưng tôi không trông đợi mình sẽ mua một câu chuyện hoặc trả bốn trăm đô la. Tôi không thể trả một khoản tiền lớn như vậy trong thời gian gấp được.
Tôi thấy tò mò về anh ta. Anh ta không có vẻ gì là bất ổn, một kẻ có vấn đề tâm lý, hay tay lừa đảo. Anh ta thông minh và nói năng gãy gọn. Nhưng anh ta đang gặp khó. Tôi cảm thấy người này xứng đáng được giúp đỡ, vì thế tôi nói, “Tôi sẽ trả ba trăm đô la. Thế là cố hết sức rồi. Hai trăm đô la trả ngay, một trăm còn lại tôi sẽ phải vay chủ khách sạn tôi đang ở.”
“Nhưng tôi cần ngay. Tôi muốn bốn trăm đô la nếu không sẽ không có tiền trả cho bà thiết kế.”
“Bà nào cơ?”
“Người làm thiết kế ở tạp chí. Bà ấy vẫn đang cố lấy cho bằng được lương của mình.”
Cuối cùng anh ta kể về chuyện xảy ra ở tạp chí. Nhân viên phát hiện ra anh ta đang sống ở khách sạn Dilshad, bèn làm loạn lên ở quầy lễ tân, đòi tiền lương.
Tôi trả tiền trà và đi cùng anh ta tới một quán ăn gần đó. Tôi gọi đồ mang đi, rồi chúng tôi tới khách sạn Fanar ở phố Abu Nuwas, nơi tôi đang ở. Chúng tôi cùng uống hai ly whisky tôi cất trong phòng rồi ăn tối.
“Tại sao anh không cứ thế mà rời khỏi thành phố?” tôi hỏi anh ta. “Sao anh không quay về Maysan? Cứ thế mà đi. Anh đâu phải chịu trách nhiệm cho vấn đề đó.”
“Tôi không thể,” anh ta đáp. “Tôi cảm thấy áy náy với họ, mà tôi thì đã kiếm được khối tiền ở cái tạp chí đó rồi. Ý tôi là lương và trợ cấp ấy. Tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm. Tôi không muốn họ nói không hay về mình và xếp tôi vào cùng loại với Saidi và kế toán của ông ta.”
Đó là một quan điểm kỳ lạ, với một liều lượng lớn chủ nghĩa lý tưởng. Nhưng điều đó khiến tôi ngưỡng mộ. Suốt bữa tối, tôi đeo tai nghe để nghe một chút nội dung trong máy ghi âm, mà Mahmoud nói nó dài hơn mười tiếng đồng hồ. Tôi thực sự cảm thấy phấn khích.
Tôi đưa cho anh ta bốn trăm đô la, và chúng tôi nhất trí sẽ gặp nhau vào hôm sau. Tôi muốn lái xe đưa anh ta về khách sạn, nhưng anh ta bảo mình đi bộ cũng được. Một phần trong tôi biết rằng anh ta sẽ không bao giờ xuất hiện nữa. Anh ta đã đóng tốt vai của mình và cuối cùng đã moi được số tiền mà anh ta muốn từ tôi. Anh ta lừa tôi. Nhưng chẳng phải chúng ta vẫn luôn làm vậy sao? Hôm nay anh ta lừa tôi còn ngày mai tôi sẽ lừa người khác, cũng với ý tốt thôi, và cứ thế cứ thế.
Tôi đang bận viết cuốn tiểu thuyết mang tên Hành trình bất định và sau cuối nên không muốn gác lại để theo đuổi câu chuyện dang dở trong máy ghi âm. Nhưng một buổi sáng tôi nhận được email từ một người tự xưng là “trợ lý thứ hai”, bảo rằng anh ta biết tôi qua bạn bè chung và anh ta tin tưởng tôi nhưng đồng thời cũng không muốn tiết lộ danh tính, để bảo vệ cả hai chúng tôi.
Trong mấy ngày liền “trợ lý thứ hai” này gửi cho tôi cả núi tài liệu, nói rằng anh ta nghĩ chúng nên được công khai. Nội dung là về những hoạt động của một cơ quan chính phủ mang tên Cục Theo dấu và Truy nã, và tôi cảm thấy phấn khích làm sao khi phát hiện ra rằng những tài liệu này liên quan đến các khía cạnh trong câu chuyện mà Mahmoud đã kể với tôi.
Với chai Black Label trên chiếc bàn nhựa ngoài ban công, tôi ngồi xuống thong thả uống đầy khoan khoái. Tôi quên mất cuốn tiểu thuyết và hít hà mùi của cây cối mà làn gió đêm ẩm ướt lùa tới từ phía sông, và nghe lại, qua loa của chiếc máy ghi âm kỹ thuật số, lời thú tội của Mahmoud và những câu chuyện của tên tội phạm Không Tên.
2
Ngày giam giữ đầu tiên, Mahmoud al-Sawadi bị thẩm vấn suốt nhiều giờ liền. Họ không lấy được nhiều thông tin từ anh lắm.
“Tôi chỉ là một nhân viên bình thường thôi. Saidi trả lương cho tôi,” Mahmoud nhắc đi nhắc lại, và họ có cảm giác anh nói thật. Họ không đánh anh, như anh từng lo - họ chẳng làm gì hại đến anh cả. Anh trải qua một đêm với một người bị giam khác, đến đầu giờ sáng hôm sau thì được gọi đến ký một biên bản. Họ trả lại cho anh ví, điện thoại di động và mấy món đồ cá nhân khác, rồi dẫn anh ra cửa, nói rằng anh cần hợp tác và trình báo với chính quyền bất cứ thông tin mới nào anh có về Saidi.
Tất cả những chuyện này chỉ là khởi đầu cho chuỗi bất hạnh của Mahmoud. Anh đã mất một công việc tuyệt vời. Anh đã đợi được trả lương vào cuối tháng để có thể trả nợ cho khách sạn. Và giờ thì anh không thể nhận công việc của một biên tập viên bình thường ở một tạp chí hay tờ báo khác, vì anh đã quen với quyền lực và sức ảnh hưởng của một trưởng ban biên tập, ấy là còn chưa nói đến phong cách sống mà anh cũng dần quen vì học theo Saidi. Anh đã đặt quá nhiều niềm tin vào Saidi rồi.
Mahmoud bán những món quần áo và giày dép đẹp nhất cho một tay chuyên mua bán quần áo cũ ở Bab al-Sharqi và chấp nhận thanh lý chỗ đồ còn lại cho bạn bè. Trước khi bán nốt điện thoại cho một người bạn, anh gọi ba cuộc cuối cùng. Cuộc đầu tiên là cho anh trai Abdullah, báo rằng anh sẽ quay về Maysan.
“Sao chú lại quay về thế? Chú không hạnh phúc ở Baghdad à?”
“Không, em nhớ nhà. Baghdad nội chiến đến nơi rồi. Em lo có ngày mình chết vì bom xe không chừng.”
“Nhưng công việc của chú ở đó mà. Cố cẩn thận là được.”
“Những người chết mỗi ngày, họ vẫn luôn cẩn thận đấy thôi,” Mahmoud nói.
“Anh không hiểu, Mahmoud à. Chú biết là tay bạn chú giờ là quan chức cấp cao trong tỉnh mà. Nó có thể vẫn nhớ chú và gây phiền hà cho chú đấy.”
“Cậu ta không nhớ ra em đâu. Giờ cậu ta quan trọng quá rồi, làm sao bận tâm tới em. Bài báo của em thành lịch sử cổ đại rồi.”
“Tùy chú vậy, em trai,” Abdullah nói. “Chú biết là cả nhà nhớ chú mà.”
“Được rồi, em sẽ về. Đừng gọi cho em vào điện thoại này nữa - em sắp bán nó rồi. Khi nào về em sẽ kể cho anh nghe chuyện xảy ra ở đây.”
“Về nhà an toàn.”
Cuộc gọi thứ hai là cho gã bạn Hazem Abboud, tay này bảo anh là tuần sau mới về Baghdad. Anh ta đang bận chụp ảnh với đơn vị quân sự Mỹ và có thể email cho Mahmoud mấy bức ảnh cho tạp chí.
“Tạp chí nào?” Mahmoud nói. “Chẳng còn tạp chí nào nữa đâu. Tôi muốn gặp cậu trước khi quay về Maysan.”
Hazem sững sờ. Họ nói chuyện khoảng ba phút, nhưng khi thấy rõ là không thể gặp được bạn mình, Mahmoud bèn tìm số khác để gọi tiếp. Con số 666 hiện ra trên màn hình, anh liền ấn nút gọi và áp sát điện thoại vào tai. Một giọng nữ mềm mại vang lên: “Số điện thoại quý khách vừa quay không họp lệ hoặc đã ngừng hoạt động. Xin hãy…”
Anh muốn nghe giọng cô và gặp cô trước khi rời Baghdad. Anh không tin những gì Saidi hoặc Sultan đã nói - họ nói dối và cô làm hoen ố hình ảnh cô mà thôi. Anh biết mình có cơ hội với cô. Nếu anh nghe thấy giọng cô bây giờ, thay vì cái giọng tự động kia, anh sẽ tìm một cái cớ hợp lý để ở lại Baghdad, cho dù anh có phải quay lại sống trong khách sạn Orouba, với những căn phòng ngột ngạt, ẩm ướt, dẫu phải làm việc ở bất kỳ tờ báo hay tạp chí nào, bất chấp đồng lương họ trả bao nhiêu. Cô là người duy nhất có thể mang lại cho anh hy vọng và khiến anh hành động hơi điên một chút - sự điên rồ và hy vọng mà anh thật sự cần lúc này.
Anh gọi lại cho cô, và lần nữa lại nghe thấy giọng tự động. Anh cảm thấy cay đắng xiết bao, như thể màn đêm đã phủ xuống anh, một màn đêm chẳng bao giờ kết thúc. Anh mở mặt sau của điện thoại và tháo pin ra để lấy thẻ SIM. Anh lắp pin vào chỗ cũ rồi sập lưng điện thoại lại. Rồi anh mang điện thoại đến cho người bạn nhận mua. Anh nhét thẻ SIM vào túi, lấy cái máy ghi âm kỹ thuật số ra để tìm cách bán đi.
Mahmoud đã kể cho tôi nghe mọi chi tiết trong suốt hai ngày qua, tôi cũng đã nghe bản ghi âm trong thiết bị kỹ thuật số đó. Tôi ngỡ ngàng trước việc giọng nói trong bản ghi âm, được cho là của người đàn ông mà Mahmoud gọi là Frankenstein, lại trầm sâu, như của một phát thanh viên nổi tiếng. Tôi nghi ngờ rằng toàn bộ câu chuyện này là bịa đặt, nhưng một tuần sau, trong một phòng bệnh ở bệnh viện Kindi, tôi lại nghe thấy giọng nói đó, khi tôi ngồi kế bên giường của một ông già gọi là Bố Salim. Lão kể thêm cho tôi những chi tiết thú vị liên quan tới câu chuyện của gã Frankenstein này. Tôi không dám chắc trăm phần trăm những giọng nói đó là của cùng một người, nhưng câu chuyện thì hoàn toàn thu hút tôi, và tôi bắt đầu tìm kiếm thêm những nguồn khác để chứng thực nó.
Mahmoud đã bán toàn bộ tài sản và trả lương cho nhân viên tạp chí al-Haqiqa. Anh gói ghém một túi nhỏ, cái mà từ đầu anh đã mang theo từ Maysan, và thanh toán nợ ở khách sạn Dilshad.
Đất nước này sắp không thể chống chọi thêm những làn sóng bạo lực nữa rồi. Rời đi cũng là điều dễ hiểu, và đó là việc nhiều người bạn của Mahmoud cũng làm. Farid Shawwaf sẽ quay về ngôi làng nhỏ gần Ishaqi, phía Bắc Baghdad; cậu ta sẽ từ bỏ, ít nhất là tạm thời, vầng hào quang của truyền hình vệ tinh và những bộ com lê bảnh chọe. Zaid Murshid đi Hilla. Adnan al-Anwar thì đến Najaf, nơi có gia đình mình cùng mấy ông cậu sinh sống. Do đặc thù công việc của một nhiếp ảnh gia báo chí gắn với các đơn vị quân sự Mỹ, Hazem Abboud không thể quay về thành phố Sadr ở Baghdad, và anh ta cũng không thể tìm thấy khách sạn Orouba còn đứng đó, hoặc Bố Anmar, cuối cùng đành phải thuê chung phòng với một tay bạn nhiếp ảnh gia trong một khách sạn rẻ tiền khác.
Bố Salim rời khỏi bệnh viện Kindi trên đôi nạng. Các con lão đến để đưa lão xuất viện. Họ không đưa lão về căn nhà trên đường 7 mà tới nhà của một trong mấy đứa con rể, cho đến khi xây sửa lại xong xuôi mặt trước nhà lão.
Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia khảo cổ đã yêu cầu tạm ngưng việc lấp cái hố mà vụ nổ để lại, do bức tường xuất hiện giữa cái hồ được tạo ra từ đường ống nước uống và nước thải bị vỡ. Một số người cho rằng đó là một phần bức tường của Nhà Abbas[1] và là khám phá quan trọng nhất của ngành khảo cổ Hồi giáo tại Baghdad trong nhiều thập kỷ. Những người khác thì mạnh mồm nói, khá là táo tợn, về “những ưu điểm của chủ nghĩa khủng bố”, nhờ đó mới có khám phá quan trọng này. Nhưng chính quyền thành phố Baghdad đã mặc kệ hết thảy và khiến tất cả ngạc nhiên bằng cách cho xúc đất lấp đầy cái hố lớn. Người phát ngôn chính quyền thành phố phát biểu, “Chúng tôi không làm nửa vời. Chúng tôi sẽ bảo tồn những gì còn lại này cho các thế hệ tương lai, và các thế hệ ấy có thể tự mình đánh giá cách xử lý của chúng tôi. Nếu họ quyết định phá hủy toàn bộ quận Batavveen thì đó là việc của họ, còn giờ thì chúng tôi phải lát lại đường đã.”
Bố Salim có thể đã được xuất viện, nhưng còn một người khác ở đường 7 phải nằm lại lâu hơn - tay buôn đồ cũ Hadi. Những vết băng trên tay và mặt gã đã được tháo, nhưng gã chưa thể nhấc mình ra khỏi giường. Gã nằm đó, tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với gã và ngôi nhà của gã, thứ có lẽ đã sập vụn và trở thành một đống đổ nát thực sự. Nhưng đó có thực là nhà gã không? Đến khi ra viện, có lẽ gã sẽ phát hiện ra rằng Faraj tay cò nhà đất đã san phẳng nó, xây lại và đăng ký dưới tên y.
Nhưng trước tiên gã phải khỏe lại đã; rồi giải quyết các vấn đề khác sau. Đó là những gì Hadi cứ tự nhủ với bản thân, để xoa dịu mình, cho dù gã không thể chịu nổi việc phải nằm suốt như thế này và cố gắng ngồi dậy ra khỏi giường trong tuyệt vọng.
Một buổi tối, buồn đi tiểu, gã lại cố ra khỏi giường thêm lần nữa. Các bệnh nhân gần đó đã ngủ cả, y tá trực thì ở đâu không biết. Gã rướn mình ngồi dậy và nhúc nhắc bàn chân vẫn đang bị băng bó. Rồi gã chầm chậm đặt chân xuống sàn, chạm vào lớp gạch lạnh lẽo bằng mũi ngón chân. Trong vài phút, gã đã xoay xở đứng lên được. Gã bắt đầu đi về phía trước, bám vào mấy giường gần đó cho khỏi ngã. Rồi gã đặt tay lên tường và men chầm chậm về phía nhà vệ sinh.
Ngay khi vào nhà vệ sinh, gã liền chú ý đến hình phản chiếu của mình trong chiếc gương trên bồn rửa. Ngọn lửa đã làm gã biến dạng hoàn toàn. Gã đã nhận ra ‘điều này từ những ngày trước, khi gã tỉnh lại khỏi cơn hôn mê và thấy vết nham nhở trên da sau khi được tháo băng, nhưng gã đã hy vọng khuôn mặt mình sẽ đỡ hơn. Gã là một sinh vật đáng sợ, và dù cho có hồi phục hoàn toàn, gã cũng không bao giờ trông như trước được nữa. Trong cơn choáng váng, gã chùi tay dọc theo bề mặt gương để chắc chắn đó là gương thật rồi rướn người để săm soi sự biến dạng của mình. Gã muốn khóc, nhưng tất cả những gì gã có thể làm là nhìn trừng trừng. Nhìn gần hơn, gã phát hiện ra một điều sâu sắc hon: đó không phải khuôn mặt của tay buôn đồ cũ Hadi; đó là khuôn mặt của kẻ mà gã thuyết phục mình tin rằng chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú mà thôi. Đó là khuôn mặt của Vô Danh.
Hadi bật ra một tiếng thét kinh hoàng, làm giật mình những bệnh nhân đang ngủ trong phòng bệnh. Chân bị bó bột, gã trượt xuống lớp gạch nhà vệ sinh và ngã ngửa ra phía sau, đập đầu vào cạnh của bệ toilet và bất tỉnh.
4
“Khuôn mặt ta cứ thay đổi suốt,” đêm đó Vô Danh nói với nhà chiêm tinh già. “Chẳng có gì ở ta kéo dài lâu, ngoại trừ khao khát được tiến lên. Ta giết chóc để mà tiến lên.” Đó chỉ là sự biện hộ của hắn mà thôi. Hắn không muốn mất mạng mà không hiểu tại sao mình lại chết và rồi hắn sẽ đi đâu sau cái chết, vì thế hắn níu lấy cuộc sống, có lẽ còn hơn cả những người khác, hơn những người đã cho hắn mạng sống và những bộ phận cơ thể - vì sợ hãi, chỉ thế thôi. Họ không đấu tranh để giữ mạng, vì thế hắn xứng đáng được sống hơn họ. Cho dù biết rằng mình không thể thắng được hắn, nhưng ít nhất họ cũng nên chống trả chứ. Chẳng vinh dự gì khi đầu hàng trong một cuộc chiến, và đó là một cuộc chiến oanh liệt! Đó là cuộc chiến bảo vệ mạng sống của mình, cuộc chiến duy nhất đáng để chiến đấu trong cuộc đời này.
Nỗi sợ Vô Danh tiếp tục lan nhanh. Ở thành phố Sadr người ta nói về hắn như về một Wahhabi, tại Adamiya thì như về một người Shiite cực đoan. Chính phủ Iraq miêu tả hắn như một đặc vụ nước ngoài, trong khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ nói rằng hắn là một kẻ gian xảo có âm mưu làm suy yếu dự án của Mỹ ở Iraq.
Nhưng dự án nào có thể đến mức đó cơ chứ? Theo chuẩn tướng Majid được biết, bản thân con quái vật là dự án của họ. Chính những người Mỹ đứng đằng sau con quái vật đó.
Người ở các quán cà phê nói rằng trong ngày đã gặp hắn và đua nhau tả xem hắn trông đáng sợ thế nào. Hắn ngồi cùng chúng tôi trong tiệm ăn, vào cửa hàng quần áo, hoặc lên buýt cùng chúng tôi, họ nói. Hắn ở khắp mọi nơi và có tốc độ đáng ngạc nhiên, nhảy từ mái nhà này sang mái nhà khác, từ bức tường này sang bức tường khác lúc nửa đêm, họ nói thêm. Không ai biết kẻ nào sẽ là nạn nhân kế tiếp, và bất chấp mọi sự trấn an từ chính phủ, mọi người ngày càng tin rằng hắn sẽ không bao giờ chết. Họ nắm rõ chuyện đạn xuyên qua người hắn ra sao. Họ biết hắn không chảy máu và không để bất kỳ ai nhìn thấy khuôn mặt hắn dù chỉ thoáng qua. Hình ảnh chung quyết về hắn là bất cứ thứ gì ẩn khuất trong đầu họ, được nuôi bằng nỗi sợ hãi và tuyệt vọng. Đó là một hình ảnh mà có bao nhiêu người khơi gọi lên thì có bấy nhiêu dạng thể.
Dù cho đắm chìm trong câu chuyện này suốt một thời gian dài, ngay cả tôi cũng bắt đầu cảm thấy sợ hãi.
5
Chuẩn tướng Sorour Majid bị buộc phải về hưu. Đó là điều cuối cùng tôi nghe được. Nhưng có vẻ như ông ta không chịu buông tay: ông ta đã tìm việc mới nhờ các mối quan hệ và cuối cùng đã đặt chân trở lại một cơ quan chính phủ, không phải Cục Theo dấu và Truy nã, nó bị giải thể rồi, mà là ở một nơi khỉ ho cò gáy bên ngoài thủ đô, như một nhân viên bảo vệ bình thường ở trụ sở cảnh sát địa phương. Tuy nhiên, ông ta được miễn trừ khỏi sắc lệnh xóa bỏ sự ảnh hưởng của đảng Ba’ath.
Tôi dành nhiều tháng trời đến Bataween để lấp đầy những phần khác của câu chuyện. Tôi ngồi trong quán cà phê của tay người Ai Cập Aziz, anh ta nói đã đến bệnh viện thăm Hadi ba lần. Lần đầu tiên, Hadi hôn mê. Lần thứ hai, Hadi nói chuyện với anh ta qua lớp băng bó. Lần thứ ba, bác sĩ bảo rằng Hadi đã bỏ đi không ai hay biết.
Tôi không tìm cách nói chuyện được với Faraj tay cò nhà đất. Phần lớn thời gian y ru rú ở nhà, việc quản lý văn phòng do một trong mấy thằng con trai y đảm trách. Mẹ Salim thì ngăn không cho tôi gặp lại chồng mụ, sau cuộc gặp đầu tiên đầy thú vị của chúng tôi ở bệnh viện Kindi. Nhưng tôi đã liên lạc được với cha Josiah. Tôi đến gặp ông ở nhà thờ và nghe ông kể những phần của câu chuyện về Elishva, người con trai thất lạc của bà, những cô con gái ở Australia, và người trợ tế Nader Shamouni.
Trong những tin nhắn từ Maysan, Mahmoud al-Sawadi cho tôi biết tin mới nhất liên quan đến Ali Baher al-Saidi, kẻ đang chạy trốn công lý. Khi tôi thấy một bức ảnh của Saidi trên một tạp chí al-Haqiqa số cũ, tôi nhớ ra mình đã gặp ông ta trước đó - tại một hội nghị dành cho giới trí thức ở Nhà hát Quốc gia vài năm trước. Ông ta là người thông minh và có khả năng hùng biện. Hồi đó tôi cảm thấy mình hy vọng những người như Saidi sẽ xông vào chính trường, thay vì để nó cho đám học hành nửa vời và mù chữ.
“Trợ lý thứ hai” tiếp tục gửi qua email cho tôi những tài liệu từ Cục Theo dấu và Truy nã, đặc biệt là tài liệu về những cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành. Tài liệu cuối cùng anh ta gửi cho tôi là về lời thú tội của một chiêm tinh gia tập sự, rằng cậu ta đã hại chết tiền bối của mình trên một con phố Baghdad bằng cách điều khiển tên tội phạm Không Tên qua gọi ý từ xa và khiến tên tội phạm cắt lìa đôi bàn tay của nhà chiêm tinh già để lắp vào cơ thể hắn. Nhưng chiêm tinh gia tập sự kiên quyết phủ nhận chuyện cậu đã tạo ra tên tội phạm này từ đầu. Cậu ta chỉ lợi dụng được hắn mà thôi. Cậu ta muốn diệt trừ tên tội phạm, nhưng tiền bối của cậu đã can thiệp. Rằng đó là lý do then chốt cho bất đồng giữa họ.
Tôi vừa viết câu chuyện này vừa lo lắng không yên, sợ rằng nhỡ đâu cửa phòng khách sạn bỗng mở ra và tôi sẽ bị bắt. Cuối cùng, chuyện đó cũng đến. Tôi đang viết dang dở phiên bản chương mười bảy của câu chuyện thì bị bắt và đưa đi thẩm vấn trước một nhóm sĩ quan Mỹ và Iraq. Họ tỏ ra lịch sự và dễ chịu. Họ cho tôi nước và một cốc trà và cho phép tôi hút thuốc. Họ không gây khó chịu gì cho tôi cả. Họ hỏi tôi về những tài liệu tôi nhận được, tôi đã làm gì với chúng, và trợ lý thứ hai này là ai. Nếu anh ta là thứ hai, vậy thì suy ra phải có người thứ nhất, và hai kẻ bọn họ ắt hẳn là trợ lý cho ai đó. Có phải họ là trợ lý của tôi không? Có phải tôi đang điều hành mạng lưới nào đó không? Tôi có những mối liên hệ trong nước hay ngoài nước nào? Quan điểm chính trị của tôi là gì?
Tôi bị giam giữ vài ngày trong khi các chuyên gia của họ đọc bản thảo tiểu thuyết dang dở của tôi. Rồi một sáng họ triệu tập tôi. Họ không nói nhiều lắm. Tôi thấy một bản cam kết được viết sẵn trên bàn thẩm vấn. Họ bảo tôi không cần đọc mà cứ ký đi. Tôi cảm thấy bất an và muốn kháng cự, nhưng sợ rằng họ sẽ đưa tôi trở lại phòng giam. Tôi lẳng lặng ký bản cam kết. Họ trả lại cho tôi đồ đạc cá nhân nhưng không kèm theo bản thảo tiểu thuyết. Có vẻ như tôi không được phép viết lại nó.
Họ trả tự do cho tôi mà thậm chí không buồn nhìn kỹ tấm thẻ căn cước mà tôi trình ra. Đó là thẻ giả, một trong vài món đồ giả tôi luôn sẵn trong mình để có thể qua được nhanh hơn các điểm kiểm tra an ninh mà những bè phái dân quân đang đánh nhau tại Baghdad đôi khi dựng lên.
Đội thẩm vấn không nghiêm túc lắm, tôi nghĩ trên đường về khách sạn. Nom như hình thức mà thôi. Tôi ngồi trước máy tính và viết lại từ đầu. Tôi viết luôn tay suốt mấy ngày liền, cho đến khi nhận được một email khác từ trợ lý thứ hai - thông điệp cuối cùng tôi nhận được từ anh ta. Nó bao gồm bản báo cáo cuối cùng từ hội đồng thẩm vấn.
Tôi đọc nhanh và liền đâm sợ hãi. Họ đang chuẩn bị bắt tôi lại lần nữa. Tôi có cảm giác rằng lần này họ sẽ đối xử khác với tôi.
Tôi vội vã thu dọn đồ, trả hóa đơn khách sạn, rồi chuồn về nhà. Trên đường đi tôi nhớ ra tấm thẻ căn cước giả của mình. Tôi lấy nó ra khỏi túi và ném ra ngoài cửa xe taxi. Tôi cho rằng, như trong trường hợp Frankenstein mà họ đang cố bắt giữ, những người truy đuổi tôi sẽ không bao giờ gặp lại tôi nữa.
❀ ❀ ❀
[1] Triều đại Hồi giáo thứ ba của người Ả Rập.