Frankenstein ở Baghdad

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương sáu: NHỮNG SỰ KIỆN KỲ LẠ
1

❊ ❊ ❊

Hai xe thùng cảnh sát đến, chặn lối vào đường 1. Năm cảnh sát Iraq có vũ trang và một quân cảnh Mỹ bước ra. Họ dồn người đứng xem ra sau hai xe thùng. Con đường đã trống trải từ sáng, và nhiều người dân ghé cặp mắt mệt mỏi, câm lặng nhòm qua những cửa sổ mắt cáo bằng gỗ của lối kiến trúc mashrabiya[1] cũ kỹ ọp ẹp nhìn xuống đường. Tất thảy tĩnh lặng khi một cảnh sát chụp ảnh.

Vài phút sau tay cò nhà đất Faraj hổn hển đến nơi, hàm râu dày đung đưa theo từng bước đi. Dưới tay y là một chiếc cặp táp nhỏ bên trong cất mớ tài liệu và giấy tờ hành chính cho những chuyến thăm tới các văn phòng chính phủ.

Tay người Mỹ lập tức xáp đến Faraj và hỏi y về một trong những căn nhà - ai sống ở đó và liệu y có biết gì về một vụ việc xảy ra bên ngoài hay không. Một người Iraq mặc đồng phục cảnh sát phiên dịch những câu hỏi của tay người Mỹ sang tiếng Ả Rập và nhìn Faraj lúc này trông khá đờ đẫn với ánh mắt buộc tội. Dù cũng thuộc dạng có máu mặt trong khu, y vẫn khiếp vía trước người Mỹ. Y biết họ hoạt động với tính độc lập đáng kể và không ai có thể bắt họ chịu trách nhiệm về những gì đã làm. Đột ngột như gió đổi chiều, họ có thể ném anh xuống hố đen. Faraj mấp máy đôi môi khô giải thích rằng y sở hữu căn nhà đó, hay nói đúng hơn là y thuê từ chính phủ trong vòng mười lăm năm, và y trả tiền thuê đều đặn cho luật sư ở Cục Tài sản Đóng băng. Vừa nói y vừa lấy vài văn bản ra khỏi cặp và, với bàn tay run rẩy, đưa cho cảnh sát.

Tay người Mỹ để mặc y nói. Gần đó là thi thể của bốn người ăn xin được phát hiện trong tư thế ngồi thẳng đơ trên đường. Gã này quay lại Faraj hỏi y có biết họ không. Faraj gật đầu. Y cảm thấy máu trong huyết quản chảy lạnh toát. Thật là một khỏi đầu ngày mới tồi tệ. Ai đã giết những người ăn xin tội nghiệp này? Có phải tai ương từ trên trời giáng xuống đã khiến họ chết ngay tức khắc trong khi đang ngồi trong tư thế này hay không?

Mỗi người ăn xin đều túm cổ người đối diện. Nom như một cảnh tượng hay hoạt cảnh sân khấu kỳ dị nào đó. Quần áo của họ nhếch nhác tả tơi, đầu chúi về phía trước. Nếu Hazem Abboud nhìn thấy cảnh này và chụp ảnh, anh ta nhất định sẽ giành giải thưởng quốc tế.

Càng lúc càng nhiều người xem tụ tập hai đầu đường, và những cái đầu e dè bắt đầu thận trọng ngó ra từ sau những bức mành mashrabiya. Tay người Mỹ không thích có quá nhiều người xem. Gã vẫy tay thúc giục đám cảnh sát Iraq khẩn trương lên. Họ lấy số điện thoại của Faraj và bảo y ghé qua sở cảnh sát Saadoun nếu có thông tin về vụ án hay tìm ra nhân chứng nào. Faraj thở phào nhẹ nhõm, đoạn gãi mớ râu dày. Y lấy chuỗi tràng hạt ra, thu hết can đảm tiến gần hơn đến chỗ thi thể mấy người ăn xin, nhìn họ vẻ khinh miệt.

Mấy người cảnh sát đeo găng tay cao su trắng vào và bắt đầu gỡ những bàn tay đang túm cổ nhau ra. Họ nhanh chóng mang các thi thể tới xe, và tất cả rời đi.

Mọi người bỗng ào ra đường vây quanh Faraj hỏi về vụ việc. Y vẫy tay xua họ đi, quất chuỗi tràng hạt dài màu đen vào mấy thằng bé, rồi đi thẳng.

Phía trên, từ cửa sổ gỗ của một căn nhà cũ bỏ hoang đối diện với nơi những người ăn xin ngồi xổm, có một kẻ ăn xin khác lén lút theo dõi chuyện đang diễn ra. Gã cũng ở chính nơi này vào đêm hôm trước khi tội ác xảy ra, uống một mình, đã nốc nửa chai arak Asriya thì nghe thấy tiếng cãi nhau nơi con đường tối. Ban đầu gã lờ đi bởi chắc đây chỉ là một cuộc cãi vã quen thuộc trong cơn say khướt của đám ăn xin quay về những căn phòng tồi tàn vào cuối đêm mà thôi. Họ đã thóa mạ lẫn nhau và chợt nhớ ra tình cảnh tồi tệ mình đang lâm vào, và họ hiểu ra rằng vấn đề nằm ở sinh vật tình cờ xuất hiện trước mặt họ, kẻ vẫn thường cùng hội ăn xin với mình.

Cuộc cãi vã tiếp tục và tiếng chửi rủa càng lúc càng to, hòa lẫn cùng tiếng thở hổn hển, rên rỉ và la hét vì đau. Gã ăn xin say xỉn thò đầu ra ngoài cửa sổ, nhưng chẳng trông thấy gì. Rồi, trong ánh đèn pha của một chiếc ô tô rẽ tít đầu đường, gã thấy năm dáng hình nắm tay nhau di chuyển theo vòng tròn.

Vào buổi tối cùng cái hôm xác mấy người ăn xin được phát hiện, kẻ ăn xin say khướt được đưa tới văn phòng của Faraj. Gã bắt đầu bép xép, và lời đã nhanh chóng đến tai Faraj, kẻ coi gã là cơ hội tiềm năng để tăng thêm quyền thế của y. Gã đàn ông vẫn chưa hoàn toàn dứt khỏi cơn say. Thực ra, lúc nào gã cũng say và chẳng có lẽ nào lại tin những gì gã nói, nhưng tận dụng một chút cũng chẳng hại gì.

Y tuôn một tràng chửi rủa vào mặt gã ăn xin, mạt sát gã và tất thảy đám đệ tử lưu linh trên đời. Y cầu Chúa quét sạch chúng cùng hành vi ghê tởm của chúng khỏi đất nước này. Y chỉ trích chính phủ, nói rằng chính phủ sợ người Mỹ và đã không áp dụng luật sharia[2] để cứu người dân khỏi tai ương này. Khi Faraj tuôn ra tràng chửi rủa khủng khiếp ấy, gã ăn xin say khướt nom như một con chuột bơ vơ, sợ hãi.

Faraj hỏi gã ăn xin đã nhìn thấy gì, và gã nhắc lại rằng, một tiếng sau khi cảnh sát kéo đi, gã đã loan tin với người dân trong khu: rằng một trong năm người đàn ông là một gã đáng sợ với cái miệng rộng.

“Nhưng chỉ có bốn người thôi mà!”

“Không, năm. Cả bốn người đều muốn túm cổ người thứ năm, nhưng cuối cùng lại thành ra túm cổ lẫn nhau.”

“Cái quái gì mà vô lý thế?”

Faraj chậm rãi nhấp một ngụm trà và nhìn gã ăn xin vẻ miệt thị. Cùng lúc đó một người khác cũng đang uống trà - chuẩn tướng Sorour Mohamed Majid, Trưởng Cục Theo dấu và Truy nã. Một trợ lý của chuẩn tướng bước vào phòng ông và đặt hồ sơ “bốn người ăn xin” lên bàn. Chuẩn tướng đặt cốc trà đen xuống đĩa lót, cầm hồ sơ lên, lật ra kiểm tra xem vụ này có thuộc trách nhiệm của cơ quan ông hay không. Đó là bản tóm tắt một báo cáo của cảnh sát trình bày rằng bốn người ăn xin chết vì siết cổ lẫn nhau.

2

Mahmoud và Ali Baher al-Saidi rời khỏi tòa soạn trên chiếc Mercedes đen của Saidi. Thi thoảng Saidi rủ Mahmoud ra ngoài, và Mahmoud thì chẳng có nhiều lựa chọn về chuyện đi hay không. Saidi sẽ gọi Mahmoud, vừa nghe tiếng đã thấy ông đứng ngay ngoài cửa, cầm chiếc cặp da đen chuẩn bị lên đường.

“Chúng ta phải đi làm mấy việc vặt, và tôi muốn cậu đi cùng tôi,” Saidi thường nói vậy, và Mahmoud sẽ tò mò muốn tìm hiểu xem ý ông là gì qua cách diễn đạt bí ẩn ấy. Saidi nghiện lối diễn đạt như vậy, những câu nói với cái lưỡi câu lôi kéo những kẻ khác đi theo mình. Ông không bao giờ cho ta biết toàn bộ câu chuyện chỉ trong một câu: ông sẽ hé lộ từng chút từng chút một. Khi đi cùng Saidi, Mahmoud có thể sẽ đi vào Vùng Xanh và bị lục soát kỹ lưỡng. Hoặc họ sẽ đi thang máy với những quan chức cấp cao quen mặt. Có lần anh gặp bộ trưởng Bộ Kế hoạch trong thang máy và thấy ngài bộ trưởng cùng cười với Saidi ra sao. Ồ, họ là bạn! Nhiều phụ nữ bắt tay Saidi - phiên dịch viên, công chức, nhà báo, người làm việc trong quốc hội. Mahmoud nhìn mình trong những tấm gương ở khắp mọi nơi, nhưng cái anh thấy chẳng có nghĩa lý gì. Tất cả những gì anh thấy là Saidi và mạng lưới quan hệ của ông.

“Chúng ta đi đâu đây ạ?” Mahmoud hỏi khi họ lên xe của Saidi. Ánh ngày đang nhạt dần, bầu trời dần chuyển sắc đen. Mahmoud đã phải hủy cuộc hẹn với gã bạn Hazem Abboud. Hồi sáng Hazem có mời anh tới một buổi triển lãm ảnh của mấy người bạn làm trong các hãng thông tấn. Có lẽ hôm sau cậu ta sẽ đi, anh tự nhủ.

“Chúng ta sẽ tới gặp một người bạn cũ. Cậu có thể lấy được chút thông tin hữu ích từ ông ấy đấy.”

“Thông tin về cái gì ạ?”

“Tôi đã thuyết phục ông ấy một thời gian. Có những thứ xảy ra lù lù mà chúng ta chẳng biết gì cả. Cái gì đứng sau tất cả sự bất ổn này? Chúng ta cần khai thác bất kỳ mẩu thông tin nào để làm bẽ mặt người Mỹ và chính phủ,” Saidi nói.

Mahmoud rõ ràng chẳng hiểu gì. Anh vẫn hình dung Saidi là bạn với người Mỹ và chính phủ; vậy tại sao ông lại muốn làm bẽ mặt họ? Anh không dám hỏi. Anh sẽ tìm hiểu khi họ gặp người bạn cũ này, như Saidi miêu tả ông ta. Họ đi vào Karrada và gặp phải cảnh tắc đường gây ra bởi một đoàn xe Hummer của Mỹ. Đám binh lính đứng trên thùng xe chĩa vũ khí vào các xe đằng sau, vốn giữ khoảng cách ít nhất hai mươi mét.

Saidi bật đài, và ca khúc của Whitney Houston cất lên. Saidi có vẻ không khó chịu lắm với cảnh tượng trước mắt. Thực ra, ông hiếm khi tỏ vẻ khó chịu với bất cứ thứ gì. Ông tin vào tương lai, như Farid Shawwaf nói. Nhưng giọng Farid nhuốm vẻ mỉa mai, ý là Saidi biết bản thân ông sẽ ở vị trí tốt hơn trong tương lai. Chẳng liên quan đến đất nước hay những gì xảy ra bên trong nó. Mahmoud hoang mang về những điều Farid nói. Anh không muốn nghĩ quá nhiều về quan điểm riêng của cậu ta đối với Saidi hay quan điểm của Saidi về tình hình nói chung. Những việc đó đòi hỏi một mức độ nỗ lực, tập trung và khoảng cách tâm lý mà ngay lúc này Mahmoud không có, hoặc giả anh chỉ đang cố lừa bản thân nghĩ rằng mình không có. Anh biết Farid Shawwaf là kẻ hằn học, khó bằng lòng và luôn tìm cách gieo điều tiếng cho người khác. Cậu ta thậm chí còn không biết ơn đống rắc rối mà Mahmoud phải hứng lấy để cậu ta được tiếp tục ở lại tòa soạn và tránh khỏi việc bị sa thải cùng với Zaid Murshid, Adnan al-Anwar và Maysa, cô gái gầy gò, kẻ đã khóc như mưa khi bị thông báo cho nghỉ việc.

Xe của Saidi tiến vào một cánh cổng đồ sộ hai bên là những bức tường xi măng khổng lồ theo kiểu Mahmoud chưa từng thấy trên đường phố Baghdad. Đêm đã buông, Saidi đã làm một loạt cú rẽ ở Jadriya để tránh tắc đường, vì thế Mahmoud không còn biết họ đang ở đâu nữa. Cổng mở, và họ lái xe dọc theo một con đường dài heo hút với hàng cây bạch đàn hai bên. Họ càng đi xa, không gian càng trở nên tĩnh lặng. Tiếng xe cộ đi lại và còi cảnh sát cứ bặt dần.

Đến cuối đường họ rẽ vào một đường nhánh, Mahmoud thấy xe cảnh sát đỗ cạnh một chiếc Hummer của Mỹ và mấy xe dân sự. Một người mặc đồng phục vẫy họ vào chỗ đỗ.

Mahmoud và Saidi ra khỏi xe và được một người mặc trang phục dân sự hộ tống vào một tòa nhà hai tầng. Saidi quay sang Mahmoud. “Ừm, cậu không có cuộc hẹn nào hay gì phải không?” ông nói với nụ cười quen thuộc. “Hôm nay chúng ta sẽ ăn trưa cùng nhau.”

Họ đi vào một văn phòng lớn, và ngay khi bước vào, Mahmoud đã ngửi thấy mùi xịt phòng hương táo. Một người đàn ông da sáng thấp lùn với một mảng hói nhẵn bóng, vận đồ dân sự và nhai gì đó, đứng lên sau bàn làm việc. Ông và Saidi cười thành tiếng và ôm nhau; rồi ông bắt tay Mahmoud, sau đó tất cả cùng ngồi xuống chiếc xô pha bằng vải lông ở trước bàn làm việc của người đàn ông. Mahmoud biết được rằng ông này là chuẩn tướng Sorour Mohamed Majid, Trưởng Cục Theo dấu và Truy nã. Nhưng truy nã cái gì, Mahmoud tự hỏi. Anh nghĩ có lẽ mình sẽ tìm ra trong cuộc gặp gỡ này.

Saidi đã nói cuộc gặp sẽ ngắn thôi, nhưng cuối cùng lại kéo dài tới hơn hai tiếng đồng hồ. Chủ đề nói chuyện rất rộng, và thỉnh thoảng họ lại cười đến chảy cả nước mắt. Mahmoud cũng cười theo; anh không hề lấy đó làm phiền. Anh chẳng có kế hoạch gì khác; anh tự quyết được việc của mình. Tất cả những gì anh phải làm sau đó chỉ là trở về căn phòng khách sạn thảm hại ở Bataween. Nhưng anh thèm một điếu thuốc ghê gớm, mà người đàn ông chỉn chu với căn phòng thơm mùi táo này không có vẻ gì là hoan nghênh người hút thuốc cả. Bản thân Saidi cũng không châm lấy một điếu. Mahmoud biết được từ cuộc gặp rằng chuẩn tướng Majid là bạn cũ của Saidi. Họ học trung học cùng nhau, nhưng năm tháng đã chia tách họ. Giờ họ gặp lại, có lẽ là một phần của nhiệm vụ chung: phục vụ một Iraq mới.

Chuẩn tướng Majid từng là thượng tá trong cơ quan tình báo của quân đội Iraq cũ, và vì vai trò mới này, ông được miễn khỏi luật loại trừ người đảng Ba’ath cũng như được thăng cấp tới một vị trí nhạy cảm hiếm khi được nhắc đến công khai. Ông chịu trách nhiệm về một đơn vị thông tin đặc biệt do người Mỹ thành lập và đến giờ vẫn nằm chủ yếu dưới sự giám sát của họ. Nhiệm vụ của đơn vị này là theo dõi những hành vi phạm tội khác thường, các truyền thuyết đô thị và lời đồn mê tín dị đoan nảy sinh quanh những vụ việc nhất định, rồi tìm xem chuyện gì thực sự xảy ra, và quan trọng hơn, là dự đoán những tội ác trong tương lai: đánh bom xe, hay ám sát các quan chức và các yếu nhân. Cơ quan này đã phụng sự tốt trong lĩnh vực này hơn hai năm qua. Họ hoạt động bí mật, và thông tin họ có được trong tay được sử dụng một cách gián tiếp. Cục Theo dấu và Truy nã chưa bao giờ được nhắc đến công khai, để giữ vai trò bí mật của nó và bảo vệ những người làm việc bên trong tổ chức.

Mahmoud không hiểu tại sao Saidi lại sắp xếp cho anh thu thập tất cả những thông tin này. Tại sao Saidi lại tin tưởng anh đến mức đưa anh đi cùng trong những nhiệm vụ bí ẩn này? Đây không phải lần đầu tiên, và cũng chẳng có vẻ là lần cuối cùng. Anh đã dành hai tháng qua rong ruổi cùng Saidi trên chiếc Mercedes đen của ông, đi từ nơi này đến nơi khác. Anh biết, và anh nghĩ Saidi cũng biết, rằng những vụ ám sát gần đây nhắm đến không chỉ những nhân vật quan trọng mà là bất kỳ ai như Saidi, những người ăn vận bảnh bao và lái một chiếc xe bóng bẩy. Có kẻ sẽ ám sát ông một ngày nào đó. Bất cứ ai ở cùng ông vào thời điểm ấy có thể sẽ chết cùng. Câu chuyện về Mahmoud al-Sawadi và những giấc mơ thăng tiến trong sự nghiệp sẽ đột ngột chấm hết.

Saidi có thể là kẻ ngốc hoặc người hùng, kẻ mù mờ với những gì xảy ra quanh mình hoặc một người phiêu lưu gan dạ. Mahmoud thì thích nhìn nhận mình như một kẻ ngốc hơn, ít nhất là trong mối quan hệ với bản thân nếu không phải với những người khác, bởi những bước ngoặt trong đời anh đến vì những thứ ngớ ngẩn, chứ không phải nhờ lên kế hoạch hay sự thông minh sáng suốt. Việc anh đến Baghdad, chẳng hạn thế, là do một sai lầm lớn mà anh đã gây nên hồi còn ở Amara.

Một thanh niên lực lưỡng đặt một cái khay cùng mấy cốc trà bầu bầu lên chiếc bàn kế bên họ. Mahmoud thoát khỏi cơn mơ màng. Chuẩn tướng Majid vẫn tiếp tục từ chối hé lộ cho Saidi bất cứ thông tin nào có thể công bố.

“Chúng tôi có các nhà phân tích trong lĩnh vực cận tâm lý, chiêm tinh học, những người chuyên giao tiếp với linh hồn và djinn[3], cùng các nhà tiên tri,” chuẩn tướng nói.

“Anh có thực sự tin vào mấy thứ đó không?”

“Có ích đấy. Anh không biết là chúng tôi phải giải quyết bao nhiêu chuyện kỳ bí đâu. Mục đích là để có thêm sự kiểm soát, cung cấp thông tin về những nguồn bạo lực và kích động thù hận, và để ngăn chặn một cuộc nội chiến.”

“Nội chiến?”

“Chúng ta đang ở giữa một cuộc chiến thông tin. Một cuộc nội chiến thông tin. Và một số nhà tiên tri của tôi đang nói rằng trong vòng năm hoặc sáu tháng tới sẽ có một cuộc chiến thực sự.”

Tim Mahmoud đập loạn khi nghe những gì Majid nói. Đầu anh quay cuồng như động cơ phản lực. Anh cố tiêu hóa cơn lũ khái niệm kỳ lạ này nhưng không thể. Anh lặng ngắt, nắm chặt quai cốc trà nhưng không uống. Anh cảm giác như thể mình chỉ là một đôi tai không hơn.

“Tôi có nên mua cái máy in ép mà tôi đã nói với anh không? Liệu tôi nên hay không nên mở rộng hoạt động của mình?” Saidi hỏi.

Chuẩn tướng Majid đứng lên tắt hết điện thoại di động vừa mới bắt đầu đổ chuông cả loạt. Ông nhìn Saidi ở đằng xa qua mép cặp kính. “Tôi nghĩ là không nên,” ông đáp. “Hiện giờ tôi sẽ gạt việc đó qua một bên.”

Saidi không gặng hỏi thêm. Ông quay lại việc cố thu thập thông tin để đưa lên báo. Chuẩn tướng Majid cầm một tập hồ sơ trên bàn lên ve vẩy. “Đây là hồ sơ về bốn người ăn xin bị bóp cổ chết mấy ngày trước ở Bataween. Họ bóp cổ lẫn nhau. Hành động này gửi đến một thông điệp. Có những người đang cố truyền tải gì đó. Chúng tôi chưa có nhiều thông tin, nhưng anh có thể theo vụ này bằng cách giữ liên lạc với đồn cảnh sát Saadoun.”

Saidi nhìn Mahmoud như thể muốn nói anh hãy nhận nhiệm vụ này đi. Rồi ông quay lại nhìn chuẩn tướng vẫn đang đứng bên bàn. Từ chỗ xô pha, Saidi hỏi ông về những câu chuyện tương tự, nhưng chuẩn tướng nói ông không thể tiết lộ thêm gì. Ngừng một lúc, chuẩn tướng lại quay trở về đứng giữa phòng.

“Có những báo cáo về những tên tội phạm bị bắn nhưng không chết,” ông lên tiếng. “Một số báo cáo từ nhiều nơi khác nhau ở Baghdad. Đạn xuyên vào đầu hay người của tội phạm, nhưng hắn vẫn cứ bước đi mà không hề chảy máu. Chúng tôi đang cố đối chiếu những báo cáo này vì tôi không nghĩ đó chỉ là lời phóng đại hay thêu dệt.”

Ông tới bên mép bàn nhấn chuông. Trước khi tay thanh niên lực lưỡng có thời gian phản ứng, chuẩn tướng Majid nhìn người bạn cũ và mỉm cười. “Anh đến vì cái máy in, không phải sao?” ông nói. Và rồi, như thể nhận ra những thông tin mật của mình có thể dẫn tới rắc rối, ông nói thêm: “Nếu anh định viết bài cho tạp chí, ai mà tin anh chứ?”

Hai ông già phá lên cười, và Mahmoud nhận thấy mình cũng cười cùng họ.

3

Buổi tối, nằm trên giường trong căn phòng ở khách sạn Orouba, Mahmoud bật máy ghi âm lên và nói vào đó:

“Lạ thật… Saidi giễu cợt những trách nhiệm kỳ quái của bạn ông ấy. Ông giễu cợt djinn và trò bói toán, nhưng rồi lại xin lời khuyên về việc mua một cái máy in. Ông ấy chắc hẳn đã có được chút thông tin dựa trên các phỏng đoán. Ông ấy không tranh luận. Mà chỉ mặc nhiên thừa nhận những gì người kia nói. Chắc hẳn ông ấy thường nhận được thông tin tương tự, vì thế ông ấy cảm thấy an toàn khi di chuyển quanh Baghdad. Ông ấy không sợ đi ra ngoài công khai, chẳng phải vì dũng cảm mà bởi ông ấy biết mình sẽ không chết.

“Ông ấy nói về nội chiến như thể đó là một bộ phim người ta chờ đợi xem ở rạp. Họ phá lên cười. Vì thế chắc hẳn mọi chuyện sẽ không quá tồi tệ. Nếu ở gần Saidi, mình có thể chắc chắn rằng mọi chuyện sẽ không tệ đi, ít nhất là với mình.

“Saidi là người Hồi giáo, còn bạn ông ấy là người đảng Ba’ath. Nhưng Saidi là một người Hồi giáo ly khai. Quan điểm của ông ấy đã thay đổi trong thời gian ra nước ngoài sinh sống. Còn người bạn chuẩn tướng của ông ấy là một người đảng Ba’ath ly khai. Ông có mối thâm tình với Saidi và là bạn cũ, nom bọn họ có vẻ thân nhau. Nhưng tại sao Saidi lại giễu cợt Majid? Ông ấy giễu cợt mùi táo mà chiếc máy khử mùi trên tường cứ khoảng mỗi phút lại phun ra chút xíu, nói rằng người đảng Ba’ath ưa mùi táo. ‘Vũ khí hóa học mà họ thả xuống Halabịa có mùi táo,’ ông vừa cười vừa nói.

“Nghe mà phát buồn nôn. Chúa ơi. Nhưng tại sao ông ấy lại để mình chứng kiến tất cả? Mình đã hỏi Bố Anmar về bốn người ăn xin, và ông ta đã xác nhận chuyện đó. Ai nấy trong vùng đều đã nghe chuyện, người dân địa phương sợ hãi và cảnh giác, vì kẻ sát nhân đã giết mấy người ăn xin, những kẻ khi sống thì vô danh song chết rồi thì trở nên nổi tiếng. Hắn đã bóp cổ họ, và rồi, bằng một thao tác kỳ dị và phức tạp nào đó, hắn đặt tay họ vòng quanh cổ nhau.”

Mahmoud tắt máy ghi âm đi. Anh nhớ lại lời giải thích của Saidi: “Có một số điểm nhất định trên vai, lưng và cột sống, mà nếu ta châm cứu vào, tất cả cơ bắp trong cơ thể sẽ căng lên và cứng dơ lại. Có lẽ đó là những gì đã xảy ra với bốn gã điên đó.”

“… bốn người ăn xin,” Mahmoud sửa lại. Sau đó anh hỏi Saidi liệu có nên theo đuổi vụ này hay không.

“Còn những vụ khác đáng giá hơn nhiều. Thôi bỏ đi,” ông đáp.

Mahmoud cứ nghĩ đi nghĩ lại mãi những cuộc trò chuyện thú vị anh đã nghe, nhất là trong bữa trưa. Đó là một bữa trưa cao cấp mà chuẩn tướng Majid chuẩn bị để chào đón những nhà báo ghé thăm. Bàn ngồn ngộn đồ ăn thức uống, thứ gì cũng có trừ rượu. Mahmoud biết được rằng chuẩn tướng muốn giữ hình ảnh vẹn nguyên trong mắt các đảng phái của liên minh cầm quyền. Ông ở một vị trí nhạy cảm. Ngay lúc ông giám sát những người bình thường, thì cũng có những kẻ khác giám sát và báo cáo về ông với các đảng phái trong chính phủ, vốn không có cái nhìn thiện cảm với ông vì quá khứ của ông cũng như vì ông từng phục vụ chế độ cũ. Nhưng họ phải chấp nhận ông vì năng lực của ông được thừa nhận và bởi người Mỹ ủng hộ và bảo vệ ông trước những hành vi bạo lực bốc đồng liều lĩnh từ các đối tác Iraq của họ.

Saidi và chuẩn tướng đã nói qua tất cả những vấn đề của đất nước, và không như những người có quyền lực, họ có vẻ biết giải pháp là gì. Có sự ngu dốt và tầm nhìn thiển cận trong số những kẻ cầm quyền mới. Giải pháp luôn sẵn đó. Mọi vấn đề đều có thể giải quyết trong nửa giờ đồng hồ, ít nhất là trên lý thuyết, nếu người ta thực sự quyết tâm giải quyết chúng.

Nhưng giờ có hai thế lực đối đầu, Mahmoud ngẫm nghĩ - một bên là người Mỹ và chính phủ, bên kia là những kẻ khủng bố và dân quân chống chính phủ đủ loại. Thực tế thì “khủng bố” là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả những ai chống chính phủ và người Mỹ.

Mahmoud bật lại máy ghi âm và đua sát lên môi. “Chẳng phải cả hai người đó, theo cách này theo cách khác, đều làm việc với người Mỹ sao?” anh nói. “Tại sao họ lại muốn gây ấn tượng với mình rằng họ là những người yêu nước đến vậy? Cái mớ bòng bong này là gì? Ôi! Lần sau Saidi rủ mình đi cùng thì mình phải từ chối mới được, lần nào chuyện đó cũng làm mình quay cuồng. Công việc của mình ở tòa soạn kết thúc lúc ba hoặc bốn giờ chiều. Đó cũng là lúc mối quan hệ của mình với Saidi kết thúc. Mình có công việc ở tạp chí của ông ấy, chứ không phải trong đời ông ấy.”

Buổi sáng, Mahmoud khoác lên mình hai món quần áo sạch cuối cùng và nhét quần áo bẩn vào một cái túi to để mang tới tiệm giặt là Akhawain kế bên khách sạn khi anh ra ngoài. Anh xuống sảnh và ngạc nhiên thấy Hazem Abboud ngồi cùng Bố Anmar và Luqman, người Algeria duy nhất giữa cả đống người Iraq và là người trọ lâu năm trong khách sạn Orouba. Rất khó phát hiện Luqman là người Algeria vì ông ta nói giọng Iraq quá chuẩn. Tất cả quây quần quanh bàn, tán gẫu bên món kem đặc, bánh ngọt và trà đặc. Veronica, người phục vụ phòng đẫy đà, cùng cậu con trai tuổi thiếu niên đang thoăn thoắt đi từ phòng này sang phòng khác với cây chổi lau sàn và cái xô, làm công việc dọn dẹp hằng tuần.

Có phải Hazem đã qua đêm ở khách sạn này không? Mahmoud chào anh ta, Luqman và Bố Anmar, và họ mời anh cùng ăn sáng với họ. Anh ngồi xuống với một cốc trà nóng, nhớ lại vài trao đổi bí ẩn tối hôm trước. Anh uống một ngụm trà lớn, như thể muốn xóa đi những ký ức khó chịu đó.

Mahmoud quay sang Hazem hỏi anh ta qua đêm ở đâu, anh ta đến khách sạn khi nào, và cuộc triển lãm ảnh ra sao. Nhưng Bố Anmar đã ngắt lời anh. “Thưa ông Sawadi,” anh ta nói, “tôi sẽ cẩn thận khi ra ngoài - cảnh sát ở khắp nơi đấy. Một người đàn ông mới bị giết sáng nay.”

4

Người đàn ông ấy không ai khác mà chính Bố Zaidoun, lão thợ cắt tóc già chỉ toàn da bọc xương. Họ tìm thấy lão gục xuống trên chiếc ghế nhựa trắng trước tiệm cắt tóc từng thuộc về lão - lão đã giao lại cho thằng con trai út nhiều năm trước khi lão không còn tự đứng vững được nữa. Trông lão có vẻ như đang ngủ, ít nhất là với những ai nhìn thấy lão từ xa, nhưng chuôi chiếc kéo bằng thép không gỉ lòi ra từ đầu xương ngực lão, nơi hõm cổ. Kẻ nào đó đã lẻn vào tiệm khi thằng con trai ra ngoài uống trà chỗ chiếc xe đẩy góc phố, nơi đường nhỏ giao với đường chính, và cầm kéo đâm lão già bấy giờ đã chìm đắm vào thế giới tưởng tượng do bệnh mất trí giai đoạn cuối.

Có những người từ lâu đã mong đợi lão gặp kết cục như vậy. Bố Zaidoun sẽ không chết yên ổn trên giường: công lý thiêng liêng không cho phép điều đó. Báo cáo pháp y cho biết lão chết vì đau tim. Có lẽ kẻ thủ ác đã giết một người đã chết. Lũ con trai của lão già chấp nhận lời giải thích đó, không còn hơi sức đâu mà theo đuổi mối thù.

Khi tay cò nhà đất Faraj nghe tin Bố Zaidoun bị giết, y thốt lên, “Tội nghiệp! Xém chút nữa đã được gặp Đồng chí Tối cao rồi.” Y nói với vẻ mỉa mai, kéo dài từ “đồng chí” với nụ cười nhăn nhó.

Những người khác nhớ lại sự nghiệp dài hơi của lão già, nhớ lại rằng lão phải chịu trách nhiệm cho việc đưa quá nhiều thanh niên ra trận. Lão đã hoạt động trong các tổ chức của đảng Ba’ath, kiên trì bám theo tất cả những kẻ đào ngũ hoặc tìm cách trốn tránh huấn luyện quân sự. Lão hẳn đã tham gia bố ráp vài ngôi nhà, và lão chẳng thiếu kẻ thù, nhưng không ai biết kẻ nào đã giết lão. Rõ ràng đó không phải ngẫu nhiên. Tại lễ truy điệu, mọi người cố hết sức tôn vinh những phẩm chất của Bố Zaidoun - rằng lão đã giúp đỡ người khác và dang tay hỗ trợ những người đang gặp khó khăn và rồi, xét cho cùng, cái tiếng đảng viên nhiệt huyết, tàn nhẫn chỉ được áp dụng trong những năm đầu Chiến tranh Iran-Iraq mà thôi. Đó là cách mọi người muốn nhớ về lão; cái chết mang lại phẩm giá cho người chết, có lẽ vậy, và để khiến người sống cảm thấy day dứt đến độ buộc phải tha thứ cho người đã khuất.

Có ít nhất một người không có ý định lượng thứ cho Bố Zaidoun. Công lý đến muộn không có ích gì. Nó phải xảy ra ngay bây giờ. Sau này là thời khắc cho sự trả thù, cho nỗi thống khổ triền miên giáng xuống bởi một vị thần công bằng, thống khổ bất tận, bởi trả thù là phải như thế. Nhưng công lý phải thực hiện tại đây trên trái đất này, với sự có mặt của các nhân chứng. Elishva đã có cảm giác mơ hồ về điều này khi Mẹ Salim bạn của bà bàng hoàng kể bà nghe chuyện lão già độc ác đó bị ngã như thế nào. Bản thân Mẹ Salim cũng từng thề sẽ ngã một con cừu ở trước cửa nhà nếu Chúa giáng sự trả thù xuống Bố Zaidoun, nhưng giờ mụ đã quên tiệt. Đã hơn hai mươi năm kể từ khi Salim, con trai cả của mụ, tử trận nơi sa trường. Nhưng Elishva thì không quên. Mẹ Salim còn có ba đứa con khác và một ngôi nhà rộn ràng sự sống, trong khi Elishva già nua chỉ có một con mèo xơ xác, vài bức ảnh và đống đồ đạc cũ. Khi nghe chuyện Bố Zaidoun bị giết, bà đã tạ ơn Chúa và nhớ lại một trong những lời thề trang nghiêm của mình - rằng bà sẽ thắp hai mươi cây nến hồng trên bàn thờ Đức Mẹ Đồng trinh ở nhà thờ Armenia, và bà sẽ chỉ rời khỏi bàn thờ khi nến đã cháy hết và hai muôi sợi bấc chìm xuống lớp sáp nóng chảy. Thế rồi nỗi đau lòng vì mất con sẽ chấm dứt: bà sẽ thấy sự công bằng của Chúa, và Người sẽ xứng đáng với những lời tạ ơn của bà.

Nếu bà hỏi cha Josiah, cha sẽ bảo bà cầu xin sự tha thứ cho Bố Zaidoun - điều bà sẽ không bao giờ làm. Nếu bà hỏi Chúa hay Thánh George Tử đạo hoặc bóng ma con trai bà, họ sẽ bảo bà không cần phải cầu xin sự tha thứ cho Bố Zaidoun. Bà được toàn quyền tìm kiếm sự trả thù bởi nó sẽ làm mạnh mẽ thêm lòng tin của bà và cho tinh thần mỏi mệt của bà nguồn năng lượng cần có để tiếp tục sống.

5

Hai người đàn ông trẻ tuổi ngồi đối diện Hadi trên chiếc ghế băng gã hay ngồi ở quán cà phê của tay người Ai Cập Aziz. Trông mập mạp, ria mép mỏng, cả hai đều vận sơ mi hồng và quần đũi đen, như thành viên của một đội hay câu lạc bộ thể thao nào đó. Họ cắt tóc ngắn và để tóc mai ngang tai, cười liên tục và kể chuyện tiếu lâm. Sáng hôm đó kể từ lúc đến ngồi trước mặt Hadi, họ đã uống bốn tách trà. Một trong hai người đặt một máy ghi âm kỹ thuật số nhỏ lên giữa chiếc bàn gỗ. Cả hai nhìn Hadi. “Kể bọn tôi nghe chuyện cái xác đi,” họ đồng thanh.

“Ý các anh là chuyện về Vô Danh.” Hadi nhất quyết sửa lại, dùng cái tên mà gã đặt cho tác phẩm của mình. Đó không hẳn là một các xác, vì “xác” thì ám chỉ một người hay sinh vật cụ thể, mà nó thì không thể áp dụng trong trường hợp của Vô Danh. Hadi có thể kể chuyện dông dài, gã cũng thường làm thế, nhưng nhìn thấy cái máy ghi âm kỹ thuật số là gã đâm căng thẳng, còn tâm trạng ở khu dân cư lúc này thì bất ổn và hoang mang. Aziz mang đến một cốc trà tươi đặt trước mặt Hadi. Anh ta nháy mắt hai lần với gã, một cử chỉ mà Hadi hiểu ngay lập tức. Aziz cảm thấy bất an với hai thanh niên này. Họ đến từ Mukhabarat, hoặc tình báo quân sự, hoặc một cơ quan an ninh nào đó, và không nghi ngờ gì là cuộc gặp này sẽ kết thúc bằng việc Hadi bị bắt.

“Vô Danh đã chết, tôi rất tiếc phải nói như thế,” Hadi nói.

“Chết như thế nào?” một người hỏi. “Không, kể cho bọn tôi nghe từ đầu đi - anh tạo nên cái xác như thế nào?”

“Tôi nói với các anh rồi. Hắn chết rồi.”

Đoạn Hadi đứng lên gọi Aziz đến lấy cốc trà tươi đổ lại vào trong ấm. Gã bước ra khỏi quán cà phê, để lại hai người đàn ông trẻ tuổi bối rối. Họ cố thuyết phục Aziz nói, nhưng môi anh ta đã bị dán keo. Họ ở lại thêm nửa tiếng nữa, thì thầm to nhỏ với nhau. Nụ cười tươi của họ đã biến mất. Họ cho Aziz năm nghìn dinar, hơi nhiều so với giá cả tất cả các loại trà ở đây, rồi đi.

Đến trưa, Hadi quay lại quán cà phê. Gã ngồi vào chỗ quen thuộc, với một khay com đậu mua từ quán của Ali al-Sayed bên cạnh. Hadi ngồi đó ăn, còn Aziz sau khi rửa xong mấy cái cốc và đĩa sau quầy thì đến ngồi đối diện Hadi, nét mặt nghiêm trọng.

“Sao thế ông anh?” anh ta hỏi. “Ông nên quên câu chuyện vớ vẩn của ông đi.”

“Tại sao? Có chuyện gì?”

“Có chuyện gì! Họ đang tìm kiếm cái gã đã giết bốn người ăn xin và Bố Zaidoun với cả cái tay sĩ quan được phát hiện bị bóp cổ trong căn phòng của gái mại dâm ở nhà Mẹ Raghad đấy.”

“Thế mấy chuyện đó thì can gì tới tôi?”

“Những câu chuyện của ông sẽ đẩy ông vào rắc rối đấy. Khi người Mỹ tóm ông, ông không biết họ sẽ đưa ông đi đâu đâu. Chỉ có Chúa mới biết họ sẽ định tội gì cho ông.”

Tim Hadi đập thình thịch, nhưng gã vẫn ăn cho hết bữa trưa. Không thông báo với Aziz, gã tự đưa ra quyết định riêng là không nhắc gì đến chuyện cái xác nữa. Aziz kể gã nghe câu chuyện người ăn xin say đã kể - về một tên tội phạm giết bốn người ăn xin và trông hắn gớm guốc thế nào, với cái miệng như vết cắt chạy ngang mặt. Anh ta kể gã nghe những gì Mẹ Raghad và mấy cô gái làng chơi cũng nói - về một kẻ nhảy bổ vào bọn họ trong bóng tối mà bóp cổ tay sĩ quan đang ngủ trong phòng một trong các cô kia. Cơ thể đó dinh dính, như thể nó lấm máu hoặc nước cà chua. Khi nó nhảy lên mái nhà, mấy thanh niên đã dùng súng trường nã đạn vào nó. Thời nay ai ai cũng có vũ khí. Họ bắn nhiều phát, nhưng đạn chỉ xuyên qua cơ thể đó. Nó không ngừng chạy, chỉ nhảy từ mái nhà này sang mái nhà khác cho tới khi mất dạng. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới. Câu chuyện có thể đã kết thúc như những gì Mẹ Salim kể lại, hoặc có khi vẫn tiếp diễn. Mụ khẳng định rằng khi đang ngồi trên bậc cửa ngoài đường mụ đã thấy một người dáng vẻ kỳ dị mặc áo khoác quân đội bạc phếch và quấn kín khăn buộc đầu đến nỗi người ở xa không thể thấy mặt. Hắn cúi gằm xuống đất, đến từ hướng tiệm cắt tóc của Bố Zaidoun. Hắn đi qua mụ, và mụ liếc được một phần khuôn mặt hắn - đó là thứ ghê rợn nhất mụ từng nhìn thấy. Thật khó tin rằng Chúa lại tạo ra một khuôn mặt như vậy; chỉ nhìn thôi đã đủ khiến tóc tai ta dựng ngược. Gặp ai mụ cũng kể về kẻ kỳ dị ấy và khẳng định rằng hắn đã giết lão già Bố Zaidoun. Nhưng một tối, các con trai của Bố Zaidoun đã đến nhà nói chuyện phải quấy với mụ, dọa rằng nếu mụ cứ tiếp tục bô bô chuyện này thì sẽ không yên. Bố bọn họ chết vì đau tim, họ nói.

“Những câu chuyện của ông bắt đầu làm mọi người khiếp sợ rồi đấy. Tốt hơn là ông nên giữ mồm giữ miệng đi,” Aziz cuối cùng cũng nói với Hadi. Thế rồi anh ta đứng lên ghi món cho những vị khách già mới bước vào quán. Hadi ngồi tại chỗ, nhòm qua cửa sổ nhìn xe cộ và khách bộ hành trên con phố náo nhiệt. Gã lấy một điếu thuốc ra khỏi túi, châm lửa, và hút suốt nửa tiếng đồng hồ - gã chưa từng im lặng lâu như vậy. Trong một lúc gã quên mất mấy việc vặt gã thường làm vào buổi chiều. Một hạt giống sợ hãi đã bén rễ sâu trong lòng gã, và gã không thể xóa nó khỏi tâm trí. Bởi chuyện ba xạo có thể trở thành sự thực. Gã nhớ về một giấc mơ từ quá khứ xa xăm. Gã nhìn lại giấc mơ trong con mắt tâm tưởng rồi lại nghĩ về những lời Aziz nói. Gã chắc chắn Aziz đã nghe được thông tin nào đó. Ngoại trừ những gì nói về máu hay nước cà chua, những chi tiết khác khá quen thuộc: cái miệng rộng như một vết cắt chạy ngang hàm, khuôn mặt đáng sợ, những mũi khâu khắp trán và xuống hai gò má, cái mũi to.

Hadi rời khỏi quán cà phê, tạm biệt Aziz, người bạn đáng tin cậy nhất của gã. Tất cả những người khác đều chẳng coi trọng gã: sẽ chẳng ai nhớ nếu gã biến mất, mà đây là thời điểm nhiều người biến mất vô cớ, và gã thì không muốn biến mất. Gã muốn giữ mạng, mua những thứ người ta vứt bỏ, phục chế, rồi bán lại, không màng đến việc tích lũy của cải hay mở rộng hoạt động, bởi như thế thì quá phiền phức, như mang bệnh vậy. Gã thích để tiền trong túi, không hơn, đủ để ngủ với gái bất cứ khi nào muốn và mua rượu. Để ăn uống những gì gã thích, đi ngủ và thức dậy mà không có ai trông chừng và không chịu trách nhiệm với ai.

Gã tới chợ đồ cũ ở Bab al-Sharqi. Gã đã gửi mấy cái đài và máy thu băng Nhật Bản cho một chủ quầy. Tay đó thẳng thừng từ chối mua hết các món đồ của gã nhưng đồng ý cho ký gửi - bán được món gì anh ta sẽ trả tiền cho Hadi, còn thứ nào tồn, anh ta sẽ trả lại bất cứ khi nào Hadi muốn.

Chẳng bao lâu trước khi mặt trời lặn Hadi đã quay về khu dân cư và sững sờ khi thấy đám lính Mỹ, mặc đồng phục với mũ cối và các trang bị khác, đi dọc các con đường, súng trường lăm lăm ngang ngực, nhìn mọi người đầy vẻ nghi ngờ. Gã thấy Faraj trong bộ dishdasha[4] xám, cầm chuỗi tràng hạt đen, đang nói chuyện với người phiên dịch. Gã biết họ đang lục soát vũ khí theo thủ tục - đã có trình báo về một vụ xả súng nghiêm trọng đêm hôm trước. Gã men chầm chậm theo tường, cố không chạm mắt bất cứ tay lính nào. Vào đến nhà, gã đẩy cánh cửa gỗ nặng trịch đang đóng chặt, rồi đợi trong sợ hãi, lắng nghe tiếng động ngoài đường và tiếng gõ cửa yêu cầu lục soát, tiếng những đôi bốt thô nặng đạp cửa xông vào, như cảnh thường chiếu trên ti vi. Gã giết thời gian bằng cách sửa mấy cái bàn gỗ nhỏ. Gã đóng đinh chỗ này chỗ kia, quét véc ni rồi mang ra sân phơi cho khô. Khi mặt trời lặn, gã ra khỏi nhà đến gặp Edward Boulos, tay bán rượu. Edward đã đóng cửa cái quán nhỏ nhìn xuống vườn Umma vì một buổi sớm nọ có kẻ đã ném lựu đạn tay khiến nó bốc cháy. Sau đó hắn chuyển sang bán tại nhà, gã chỉ biết độc cái nghề bán rượu. Hadi mua nửa chai arak rồi đi tậu ít phô mai trắng, ô liu và vài ba thứ khác ở cửa hàng gần đó trước khi về nhà.

Gã dành mấy tiếng buổi tối nhẩn nha uống trong im lặng, ngồi trên giường, với chai arak, một cái ly và đĩa đồ nhắm trên chiếc bàn kim loại cao. Trong bóng tối ảm đạm chỉ được soi tỏ bởi một cây đèn lay lắt bám đầy bồ hóng, gã lắng nghe tiếng hát nhẹ nhàng phát ra từ đài. Giơ cao ly cuối cùng, như thường lệ, tựa như đang ở trong một quán bar ồn ã, gã uống mừng đám bạn nhậu - bóng ma của những người gã biết là đã chết hoặc những kẻ gã chưa từng gặp mặt. Và gã uống mừng bóng tối cùng những gì trong căn phòng bừa bộn nhung nhúc chuột của gã. Dốc cạn ly cuối thì gã nghe thấy tiếng động, gã bèn nhìn hướng ra cửa. Cửa bật mở và sau ngưỡng cửa hiện ra bóng đen của một gã đàn ông cao lớn. Máu trong huyết quản gã đông lại khi gã thấy cái bóng tiến đến.

Ánh đèn vàng hắt lên khuôn mặt của gã đàn ông xa lạ - một khuôn mặt chằng chịt vết khâu, một cái mũi to, và cái miệng như vết thương hở.

❀ ❀ ❀

[1] Yếu tố kiến trúc đặc trưng của các khu dân cư Ả Rập. Nó là một loại cửa sổ có lưới gỗ chạm khắc, thường được lót bằng kính màu.

[2] Luật của người Hồi giáo.

[3] Một dạng sinh thể siêu nhiên trong Hồi giáo, không hẳn thiện, không hẳn ác. Djinn không phải là thiên thần, cũng không phải là quỷ. Tùy trường hợp, djinn có thể ác hoặc thiện, gây tai họa hoặc phù hộ cho con người.

[4] Áo dài nam truyền thống của các quốc gia Ả Rập.

Tất An dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.