Vụ nổ xảy ra sau khi Elishva, bà lão mà mọi người thường gọi là Umm Daniel, hay mẹ của Daniel, lên xe buýt được hai phút. Ai nấy trên xe đều quay lại xem chuyện gì xảy ra. Họ sững sờ chứng kiến cuộn khói bốc lên bên trên đám đông, sừng sững đen đặc, từ bãi đỗ xe gần quảng trường Tayaran ở trung tâm Baghdad. Đám thanh niên đổ xô tới hiện trường vụ nổ, xe cộ lao vào nhau hay vào dải phân cách. Cánh tài xế sợ hãi và rối loạn: còi xe inh ỏi và tiếng người la hét nã vào đầu họ.
Hàng xóm của Elishva ở đường 7 sau đó kể lại rằng bà đã rời khỏi quận Bataween để cầu nguyện tại nhà thờ Thánh Odisho, gần trường Đại học Công nghệ, Chủ nhật nào bà cũng đi như vậy, thế nên vụ nổ mới xảy ra - nhiều người dân địa phương tin rằng, với năng lực tâm linh của mình, Elishva có thể ngăn chặn chuyện xấu xảy ra khi bà ở cùng họ.
Ngồi trên xe buýt, không màng mọi sự trên đời, tuồng như kẻ điếc hay thậm chí không có mặt ở đó, Elishva không nghe thấy vụ nổ lớn đằng sau bà khoảng hai trăm mét. Cơ thể gầy guộc của bà co quắp bên cửa sổ, và bà nhìn vô định ra ngoài, nghĩ về vị đắng trong miệng và cảm giác u ám mà bà không thể rũ bỏ suốt mấy ngày nay.
Vị đắng có lẽ sẽ biến mất sau khi bà dự Thánh lễ. Nghe thấy giọng con cháu trên điện thoại, nỗi sầu muộn của bà sẽ nguôi ngoai được phần nào, và ánh sáng sẽ trở lại trong đôi mắt mờ đục của bà. Cha Josiah vẫn thường đợi điện thoại di động reo rồi bảo Elishva rằng Matilda gọi đấy, hoặc nếu Matilda không gọi đúng giờ, Elishva vẫn đợi thêm một tiếng nữa rồi nhờ vị linh mục gọi cho Matilda. Việc này lặp đi lặp lại mỗi Chủ nhật ít nhất đã hai năm nay. Trước đó, các con gái của Elishva có gọi lúc này lúc kia đến điện thoại bàn của nhà thờ. Nhưng từ khi người Mỹ xâm lược Baghdad, tên lửa đã phá hủy đường liên lạc qua điện thoại, và điện thoại bị cắt hàng tháng trời. Thần chết lởn vởn quanh thành phố như dịch hạch, và các con gái của Elishva cảm thấy tuần nào cũng cần phải kiểm tra xem bà mẹ già có ổn không. Ban đầu, sau vài tháng khó khăn, họ nói chuyện qua điện thoại vệ tinh Thuraya mà một quỹ từ thiện của Nhật Bản trao cho vị linh mục trẻ người Assyria[1] ở nhà thờ. Khi mạng không dây được đưa vào sử dụng, cha Josiah mua điện thoại di động, từ đấy Elishva nói chuyện với các con qua đó. Các thành viên của giáo đoàn sẽ đứng xếp hàng sau Thánh lễ để nghe giọng con trai con gái mình đang tản mát tứ phương. Thường thì những người từ vùng phụ cận Karaj al-Amana - giáo dân Công giáo các dòng khác và cả người Hồi giáo nữa - đều đến nhà thờ để gọi điện thoại miễn phí cho người thân ở nước ngoài. Khi điện thoại di động trở nên phổ biến, họ dần dần bớt phải dùng nhờ điện thoại của cha Josiah, nhưng Elishva vẫn bằng lòng duy trì nghi thức gọi điện ngày Chủ nhật từ nhà thờ.
Với bàn tay nhăn nheo nổi đầy gân, Elishva sẽ áp chiếc điện thoại Nokia lên tai. Ngay khi nghe thấy giọng con, tâm trạng nặng nề tan biến và bà liền cảm thấy nhẹ nhõm. Nếu có quay thẳng trở lại quảng trường Tayaran, bà cũng sẽ thấy mọi thứ vẫn yên bình, như khi bà đi hồi sáng. Vỉa hè sạch sẽ, đám xe cộ bốc cháy đã được kéo đi. Người chết được đưa đi giám định pháp y còn người bị thương thì được đưa tới bệnh viện Kindi. Rải rác kính vỡ, một cây cột đen sì vì ám khói, một cái hố trên mặt đường nhựa, dù bà chẳng thể hình dung nó to chừng nào vì đôi mắt nhòa mờ.
Khi Thánh lễ kết thúc, bà nán lại thêm một tiếng nữa. Bà ngồi trong hội trường kế bên nhà thờ, và sau khi cánh phụ nữ bày biện xong chỗ đồ ăn mang theo, bà tới ăn cùng mọi người, chỉ để có việc mà làm. Cha Josiah cố gọi cho Matilda thêm lần nữa, nhưng không liên lạc được. Có lẽ Matilda đã làm mất điện thoại, hoặc giả điện thoại của con bé bị móc trên phố hay trong một khu chợ ở Melbourne, nơi nó đang sống. Có lẽ nó quên ghi lại số của cha Josiah hoặc vì cái cớ nào đó khác. Vị linh mục không rõ, nhưng vẫn cố an ủi Elishva, và khi mọi người rục rịch ra về, Nader Shamouni, người trợ tế, đề nghị đưa Elishva về nhà trên chiếc Volga cũ. Đây đã là tuần thứ hai không có ai gọi điện. Thực ra Elishva không cần nghe giọng con đến thế. Đó phần nào chỉ là thói quen mà thôi, nhưng có lẽ có điều quan trọng hơn: rằng khi trò chuyện với các cô con gái, bà có thể nói về Daniel. Không ai thực sự lắng nghe bà khi bà nói về cậu con trai mất tích hai mươi năm trước, ngoài các con gái và Thánh George Tử đạo, vị thánh mà bà thường cầu nguyện cho linh hồn ngài và bà xem như thần hộ mệnh của mình. Có thể kể đến con mèo già của bà nữa, Nabu, con mèo cứ rụng lông dần và ngủ hầu như cả ngày. Ngay cả các bà các cô ở nhà thờ cũng dần lảng đi khi bà mở miệng nói về thằng con trai - vì bà cứ nói đi nói lại mỗi chuyện ấy. Mấy bà già hàng xóm cũng vậy. Có những người còn chẳng nhớ Daniel nom ra sao. Hon nữa, nó chỉ là một trong số quá nhiều người chết những năm qua. Elishva đang dần mất đi những người từng ủng hộ niềm tin kỳ lạ của bà, rằng con bà vẫn còn sống, cho dẫu nó đã có một ngôi mộ với một chiếc quan tài rỗng không ở nghĩa trang Giáo hội phương Đông Assyria.
Elishva không còn tâm sự với ai rằng bà tin Daniel vẫn còn sống nữa. Bà chỉ chờ nghe giọng Matilda hoặc Hilda vì chúng nó sẽ chịu đựng bà, cho dẫu suy nghĩ của bà có kỳ lạ thế nào chăng nữa. Các cô con gái biết mẹ mình bấu víu lấy ký ức về cậu con trai quá cố là để có thể tiếp tục sống. Chiều lòng bà một chút cũng đâu hại gì.
Nader Shamouni, người trợ tế, thả Elishva xuống đường 7 ở Bataween, chỉ cách nhà bà vài bước chân. Con phố tĩnh lặng. Cuộc tàn sát đã kết thúc vài giờ trước, nhưng một số dấu vết hủy hoại vẫn còn thấy rõ. Có lẽ đây là vụ nổ lớn nhất trong khu dân cư này. Người trợ tế già ủ dột; ông không nói lấy một lời với Elishva khi đỗ xe cạnh một cột điện. Trên cột dính máu và tóc, chỉ cách mũi và mớ ria dày bạc trắng của ông có vài phân. Ông rùng mình sợ hãi.
Elishva ra khỏi xe của người trợ tế và vẫy tay tạm biệt. Men theo con phố, bà có thể nghe tiếng bước chân thong thả của mình trên đường rải sỏi. Bà đang tính xem sẽ đáp gì khi mở cửa ra và Nabu ngước lên như hỏi, “Thế nào? Đã có chuyện gì?”
Quan trọng hơn, bà đang tính sẽ trách Thánh George. Đêm hôm trước Người đã hứa bà sẽ nhận được tin tốt lành hoặc không thì tâm trạng bà sẽ an yên và thử thách dành cho bà sẽ kết thúc.
2
Mẹ Salim là hàng xóm của Elishva, cái người tin rằng Elishva có sức mạnh đặc biệt và bàn tay của Chúa luôn đặt trên vai bà cho dẫu bà ở đâu. Mụ có thể kể ra hàng đống sự vụ làm bằng chứng. Dù đôi khi mụ cũng có chỉ trích hay nghĩ xấu về bà lão, nhưng sau đó mụ lại nhanh chóng dành sự tôn trọng và ngưỡng mộ cho bà. Khi Elishva sang chơi và ngồi cùng mấy người hàng xóm trong bóng râm của khoảnh sân cũ nhà Mẹ Salim, Mẹ Salim lại trải chiếu cho bà, đặt gối tựa bên tay phải và tay trái bà, rồi rót trà cho bà dùng.
Có những lúc mụ cũng cường điệu và nói tồng tộc trước mặt Elishva rằng nếu không nhờ có những người dân ấy, những người có baraka - sức mạnh tâm linh - thì khu dân cư này sẽ bị nguyền rủa và bị trái đất nuốt chửng theo mệnh lệnh của Chúa. Nhưng niềm tin ấy của Mẹ Salim thực giống như làn khói phả ra từ ống shisha trong những cuộc chuyện phiếm buổi chiều: nó bốc lên từng làn, cuộn lại thành những đám mây trắng uốn lượn rồi tan biến vào không khí, chưa bao giờ vượt quá khoảnh sân nhà.
Nhiều người cho rằng Elishva chỉ là một bà già điên khùng lú lẫn, bằng chứng là bà không nhớ nổi tên mọi người - kể cả những người bà đã biết cả nửa thế kỷ. Đôi khi bà đờ đẫn nhìn họ, như thể họ thình lình hiện ra từ chốn khỉ ho cò gáy nào đó.
Mẹ Salim và mấy người hàng xóm tốt bụng khác xót xa khi Elishva bắt đầu kể những câu chuyện kỳ lạ từng xảy đến với bà - những câu chuyện mà không người có lý trí nào lại tin. Người khác thì giễu cợt, nói rằng Mẹ Salim và mấy bà kia chỉ buồn vì một người trong số họ đã đi về phía bờ biển tăm tối hoang vu, tức là cả nhóm bọn họ cũng hướng về cùng một phương.
3
Có hai người tin chắc rằng Elishva không có năng lực đặc biệt gì hết mà chỉ là một bà lão dở điên dở khùng mà thôi. Người đầu tiên là tay Faraj môi giới nhà đất, chủ đại lý bất động sản Rasoul trên con phố buôn bán chính ở Bataween. Người thứ hai là Hadi gã buôn đồ cũ, sống trong căn nhà tạm sát vách nhà Elishva.
Suốt mấy năm qua Faraj hết lần này đến lần khác tìm cách thuyết phục Elishva bán ngôi nhà cũ, nhưng Elishva đều thẳng thừng từ chối, không một lời giải thích. Faraj thật không hiểu tại sao một bà già như thế lại muốn sống một thân một mình trong ngôi nhà bảy phòng chỉ với một con mèo. Y tự hỏi, tại sao bà ta lại không bán nhà và chuyển đến sống ở một ngôi nhà nhỏ hơn, thoáng đãng sáng sủa hơn, và dùng số tiền dư để sống thoải mái cho đến hết đời?
Faraj chưa bao giờ nhận được câu trả lời thỏa đáng. Còn Hadi, tay hàng xóm, là một gã độ ngũ tuần nhếch nhác, chẳng mấy thân thiện, lúc nào cũng bốc mùi rượu. Có lần gã từng ngỏ lời đề nghị Elishva bán cho mình những món đồ cổ đầy khắp nhà bà: hai cái đồng hồ treo tường lớn, những chiếc bàn gỗ tếch đủ kích cỡ, thảm và đồ đạc, tượng Đức Mẹ Đồng trinh và Chúa Hài đồng bằng ngà và thạch cao. Có hơn hai mươi bức tượng như vậy, bày khắp nhà, cùng nhiều món đồ khác mà Hadi chưa có thời gian thăm dò.
Trong mớ đồ cổ đó, có những món có niên đại từ những năm 1940, Hadi từng hỏi Elishva, “Sao bà không bán đi, đỡ phải phủi bụi cho cực thân?”, mắt như muốn lòi ra khỏi tròng khi nhìn thấy cả đống đồ đó. Nhưng bà già chỉ tiễn gã ra cửa và đẩy gã ra đường, đóng cửa lại sau lưng gã. Đó là lần duy nhất Hadi nhìn thấy bên trong nhà bà, và ấn tượng để lại trong gã là ấn tượng về một bảo tàng kỳ lạ.
Hai gã đàn ông quyết không bỏ cuộc, nhưng vì tay buôn đồ cũ không phải lúc nào cũng tề chỉnh, nên hàng xóm của Elishva không cảm thông cho được. Faraj tay cò nhà đất thì đã mấy lần tìm cách đi cửa sau với hàng xóm của Elishva để có được cái gật đầu của bà; có người còn buộc tội Veronica Munib, người hàng xóm Armenia, là đã nhận tiền của Faraj để thuyết phục Elishva chuyển đến sống cùng Mẹ Salim và chồng mụ. Faraj chưa từng mất hy vọng. Hadi, ngược lại, bám Elishva như đỉa để xin xỏ cho đến khi cuối cùng gã cũng mất hứng và chỉ ném những cái nhìn hằn học về phía bà hễ khi nào bà đi qua gã trên đường.
Elishva không chỉ từ chối lời đề nghị của hai gã đàn ông này, bà còn đặc biệt căm ghét họ, chỉ muốn tống khứ cả hai xuống địa ngục vĩnh viễn. Trên khuôn mặt họ, bà thấy hai kẻ tham lam với tâm hồn vấy bẩn, như những tấm thảm rẻ tiền bị dây mực không thể nào giặt sạch vậy.
Bố Zaidoun cắt tóc cũng được cho vào danh sách những kẻ Elishva căm ghét và nguyền rủa. Elishva đã mất Daniel vì lão: lão là thành viên đảng Ba’ath, kẻ đã túm cổ áo con trai bà và lôi nó vào cõi vô định. Nhưng nhiều năm rồi người ta không còn trông thấy Bố Zaidoun. Elishva không còn chạm mặt lão, và không ai nhắc đến lão trước mặt bà nữa. Từ khi rời khỏi đảng Ba’ath, lão phải chịu sự giày vò của đủ loại bệnh tật và không có thời gian đâu để tâm đến bất cứ việc gì xảy ra trong khu dân cư.
4
Faraj đang ở nhà khi vụ nổ kinh thiên động địa xảy ra ở quảng trường Tayaran. Ba tiếng sau, khoảng mười giờ sáng, y mở cửa văn phòng thì phát hiện thấy những vết nứt trên tấm kính cửa sổ trước cỡ lớn. Y nguyền rủa vận đen của mình, dù đã thấy những cửa sổ kính vỡ vụn của nhiều cửa hàng khác cùng khu. Nói đâu xa, y thấy Bố Anmar, chủ khách sạn Orouba bên kia đường, đứng bối rối trên vỉa hè, trong chiếc áo chùng dài, những mảnh kính từ khung cửa sổ cao vương vãi quanh chân.
Faraj thấy rõ Bố Anmar đang bàng hoàng, nhưng y chẳng quan tâm: y không có thiện cảm với ông ta. Họ là hai cực đối lập, thậm chí là những đối thủ ngấm ngầm. Bố Anmar, như nhiều chủ khách sạn khác ở Bataween, kiếm sống nhờ vào dân lao động, sinh viên và những người dân tỉnh lên Baghdad khám bệnh hoặc mua sắm. Trong suốt thập kỷ qua, do nhiều lao động nhập cư người Ai Cập và Sudan ra đi, các khách sạn đâm ra phụ thuộc vào số khách hàng ít ỏi trú tại đây gần như thường xuyên - cánh lái xe buýt đường dài, sinh viên không thích ký túc xá, những người làm việc trong các nhà hàng ở Bab-al Sharqi và phố Saadoun, trong các nhà máy sản xuất giày và những thứ khác, và ở chợ trời Harj.
Tuy nhiên, phần lớn những người này đều biến mất sau tháng Tư năm 2003, và nhiều khách sạn giờ gần như trống không. Đã thế Faraj còn xuất hiện tại đây, tìm cách giành giật khách, những vị khách mà lẽ ra đã tới khách sạn của Bố Anmar hay một khách sạn khác nào đó trong khu. Lợi dụng tình trạng hỗn loạn và vô pháp của thành phố, Faraj đã thâu tóm được một số nhà vô chủ. Y biến chúng thành nhà trọ, cho thuê phòng với đối tượng là dân lao động tỉnh lẻ hay những gia đình mất nhà cửa ở khu vực lân cận vì lý do xung đột hoặc bởi những mối thù cũ bùng lên trở lại với sự sụp đổ của chế độ.
Bố Anmar chỉ biết cằn nhằn và than trời. Ông ta từ miền Nam chuyển đến Baghdad hồi những năm 70 và không có họ hàng hay bạn bè ở thủ đô giúp đỡ. Trước kia ông ta dựa dẫm vào quyền lực của chế độ. Faraj, ngược lại, có nhiều họ hàng và người quen, và khi chế độ sụp đổ, họ trở thành phương tiện giúp y áp đặt quyền lực, giành lấy sự kính nể của mọi người và hợp pháp hóa việc chiếm đoạt những ngôi nhà hoang, dù cho ai cũng biết y không có giấy tờ chứng minh mình sở hữu chúng hoặc đã từng thuê lại từ chính phủ.
Faraj có thể sử dụng quyền lực đang lên của mình để đấu lại Elishva. Y mới ngắm nhà bà từ bên trong hai lần nhưng đã mê nó ngay lập tức. Có lẽ nó do người Do Thái ở Iraq xây nên, vì mang đúng phong cách họ ưa thích: sân trong được bao quanh bởi mấy căn phòng trên hai tầng lầu, tầng hầm bên dưới một trong các phòng đó thông ra đường. Có những cây cột gỗ được tạo hình rãnh khía chống đỡ ban công tầng trên, và với lan can bằng kim loại, dát gỗ, nó tạo nên một hiệu ứng thẩm mỹ đặc biệt. Ngôi nhà còn có cửa gỗ đôi với chốt và khóa kim loại, cửa sổ gỗ được gia cố bằng những thanh kim loại và lắp kính màu. Sân được lát gạch phẳng phiu còn phòng lát đá đen trắng như bàn cờ. Khoảnh sân hứng trọn nắng trời và từng được phủ bạt trắng, được dỡ ra trong suốt mùa hè nhưng giờ tấm bạt không còn ở đó nữa. Ngôi nhà không còn được như cũ, nhưng vẫn vững chãi và chỉ bị ngấm nước chút ít, không như những ngôi nhà tương tự trên phố. Tầng hầm đã từng được trát lại, nhưng cũng không phải vấn đề gì to tát lắm. Điểm trừ chủ yếu với Faraj là một trong các phòng ở tầng trên đã sập hoàn toàn, và nhiều viên gạch đã long ra bên phía tường giáp với nhà kế bên, đống đổ nát hoang tàn nơi gã buôn đồ cũ Hadi cư trú. Buồng tắm ở tầng trên cũng bị hư hại. Faraj sẽ cần rót ít tiền để sửa sang và khôi phục lại, nhưng cũng đáng làm.
Faraj nghĩ sẽ chỉ mất nửa tiếng đồng hồ để tống cổ một bà già Công giáo vô phương tự vệ, nhưng một giọng nói trong đầu cảnh báo y rằng y đang liều lĩnh phá luật và xúc phạm mọi người, vì thế có lẽ tốt hơn là thăm dò tình cảm của người ta dành cho bà già trước đã. Tốt nhất là đợi đến khi bà ta chết, rồi thì sẽ không có ai ngoại trừ y dám chiếm lấy ngôi nhà, vì ai cũng biết y mê nó ra sao và thừa nhận y là chủ nhân tương lai của nó, cho dù Elishva sống đến bao lâu chăng nữa.
“Lạc quan lên,” Faraj hét với sang chỗ Bố Anmar lúc này đang xoắn vặn tay vẻ suy sụp trước đống tài sản bị hư hại. Bố Anmar giơ tay lên trời đồng tình với sự lạc quan của Faraj, hoặc có lẽ ông ta đang nói “Cầu Chúa mang anh đi” với tay cò nhà đất tham lam, kẻ mà số phận đã đem ra để trêu ngươi ông ta ngày này qua ngày khác.
5
Elishva đẩy con mèo khỏi xô pha và phủi những sợi lông mèo rụng đi. Thực ra bà chẳng nhìn thấy sợi lông nào, nhưng vuốt ve con mèo là bà biết lông nó rụng khắp nơi. Đáng lẽ bà đã không nhìn ra sợi lông nếu nó không ngự ngay chỗ đặc biệt trên xô pha đối diện với bức tranh Thánh George Tử đạo khổ lớn treo giữa những bức ảnh màu xám nhỏ hơn chụp con trai và chồng bà, lồng trong khung gỗ khắc. Có hai bức tranh cùng cỡ khác, một là Bữa tối cuối cùng, bức còn lại là cảnh Chúa Jesus được hạ xuống khỏi thập giá, cùng ba bức tiểu họa sao lại từ những tượng thánh thời trung cổ, vẽ bằng mực đậm song đã bệch đi, mô tả những vị thánh khác nhau, có những vị mà bà còn chẳng biết tên vì chồng bà vốn là người treo tranh lên nhiều năm trước. Chúng vẫn ở đó như thuở ban đầu, bức trong phòng khách, bức trong phòng ngủ của bà, bức trong phòng Daniel giờ đóng kín, và một số bức trong những căn phòng bỏ không khác.
Hầu như tối nào bà cũng ngồi đó, lại tiếp tục cuộc đàm thoại vô vị với vị thánh có khuôn mặt thiên thần. Vị thánh không ăn vận theo kiểu giáo hội: ngài mặc một tấm giáp dày sáng loáng bao bọc toàn thân và đội mũ trụ bằng lông vũ, thòi ra mái tóc vàng lượn sóng bồng bềnh. Ngài cầm cây giáo dài nhọn và cưỡi trên con ngựa trắng vạm vỡ đang chồm lên để tránh hàm răng của một con rồng kinh khiếp đang từ góc bức tranh tiến đến gần, định nuốt gọn con ngựa, vị thánh và tất cả quân trang của ngài.
Elishva bỏ qua những chi tiết cường điệu đó. Bà đeo cặp kính dày cộp lủng lẳng trên sợi dây quanh cổ lên và ngắm nhìn khuôn mặt thiên thần bình thản không để lộ chút cảm xúc ấy. Ngài không giận dữ, tuyệt vọng, mơ màng, hay hạnh phúc. Ngài chỉ đang làm việc phụng sự Chúa.
Elishva không tìm thấy sự ủi an nào trong suy đoán trừu tượng. Bà xem vị thánh bảo hộ như người thân của mình, một thành viên của một gia đình bị chia cắt và ly tán. Ngài là người duy nhất bà còn lại, ngoài chú mèo Nabu và bóng ma của đứa con trai, Daniel, mà một ngày nào đó nhất định sẽ trở về. Người khác nhìn vào nghĩ bà sống một mình, nhưng bà tin rằng mình sống chung với ba thực thể, hoặc ba bóng ma, với rất nhiều sức mạnh và sự hiện hữu khiến bà không cảm thấy cô đơn.
Bà cảm thấy giận dữ vì vị thánh bảo hộ không đáp ứng một điều ước nào trong ba điều ước mà bà đã xin từ ngài sau biết bao đêm khẩn cầu, nài nỉ, khóc than. Bà không còn nhiều thời gian trên cõi đời này, và bà muốn một dấu hiệu của Daniel từ Chúa - liệu thằng bé có còn sống và quay về không, hay nấm mồ thật hoặc phần còn lại của nó ở đâu. Bà muốn đời ba điều ước mà vị thánh bảo hộ đã cho bà, nhưng bà đợi màn đêm buông xuống vì lúc ban ngày bức tranh chỉ là bức tranh, vô tri vô giác, hoàn toàn tĩnh lặng, nhưng đến đêm một cánh cổng sẽ mở ra giữa thế giới của bà và một thế giới khác, và Chúa sẽ giáng thế, hiện thân trong hình ảnh vị thánh, thông qua vị này nói với Elishva, con chiên tội nghiệp bị đàn bỏ rơi và suýt nữa rơi xuống vực sâu của kiếp trầm luân vô đạo.
Đêm đó, bên ánh đèn dầu, Elishva có thể thấy những gọn lăn tăn trên bức tranh cũ sau lớp kính mờ, nhưng bà cũng thấy cả đôi mắt vị thánh và khuôn mặt mềm mại, tuấn tú của ngài. Nabu kêu meo meo cáu kỉnh khi rời khỏi phòng. Cánh tay dài của vị thánh vẫn cầm cây giáo, nhưng giờ mắt ngài nhìn Elishva. “Ngươi quá nóng vội, Elishva,” ngài nói. “Ta đã nói với ngươi là Chúa sẽ chấm dứt nỗi khổ hạnh của ngươi và mang đến cho ngươi sự bình yên, hoặc ngươi sẽ nhận được tin vui. Nhưng không ai có thể bắt Chúa hành động vào một lúc nhất định nào cả.”
Elishva tranh cãi với vị thánh suốt nửa giờ, đến khi khuôn mặt đẹp đẽ của ngài trở lại trạng thái vốn có, ánh nhìn mơ màng kiên định và bất động, dấu hiệu cho thấy ngài đã mệt mỏi với cuộc nói chuyện vô ích. Trước khi lên giường, bà nói lời cầu nguyện quen thuộc trước cây thánh giá gỗ lớn trong phòng ngủ và kiểm tra xem Nabu đã ngủ nơi góc tấm thảm nhỏ bằng da hổ hay chưa.
Ngày hôm sau, sau khi ăn sáng và rửa bát đĩa xong, bà ngạc nhiên nghe thấy tiếng ầm ầm khó chịu của những chiếc trực thăng Apache của Mỹ bay trên đầu. Bà ngước lên thấy con trai, Daniel, hoặc tưởng tượng là nhìn thấy. Đó là Danny, như bà vẫn gọi nó hồi bé - cuối cùng lời tiên tri của vị thánh bảo hộ đã trở thành sự thật. Bà gọi nó, và nó liền đến chỗ bà. “Lại đây nào, con trai. Lại đây nào, Danny.”
❀ ❀ ❀
[1] Một sắc tộc tôn giáo.