Trông Lên Rất Đẹp

Lượt đọc: 21 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Sáu

❊ ❊ ❊

Chương Mười Sáu

Năm đó tôi bảy tuổi, chưa xong lớp một. Thế giới trong mắt tôi chỉ là hai trạm xe công cộng: Mộ Công Chúa và Đường Thúy Vy. Tôi tưởng cả thiên hạ là những doanh trại quân đội kế tiếp nhau, đàn ông là lính, đàn bà là cô giáo và bác sĩ, trẻ con lớn lên đều vào quân đội.

Tôi là đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong, cầm cờ nghi thức của lớp, cán sự học tập, chi đội phó, “anh ba”. Thành tích học tập rất cao.

Tôi không yêu bố mẹ mình, nhận thức về gia đình rất mờ nhạt, quen với cuộc sống tập thể, tự rửa mặt, tự đánh răng, tự tranh cơm giành cá. Có thể nói tôi rất tự lập, rất nhạy bén với “thời tiết” xung quanh, rất biết tự vun vén cho mình.

Thần tượng của tôi là cô Hồ, người tình trong mơ là Trần Nam Yến, Trần Bắc Yến và Ngô Địch. Nhưng tôi chưa một lần “gồng” lên. Người thứ nhất chỉ có tương tư, ba người sau cũng chỉ từng đuổi đánh.

Không ai khó dễ với tôi, tôi cũng chẳng có việc gì khó khăn gấp gáp. Trừ cú đá bay của cô Lý, tất cả hiểm nguy và thử thách sinh tử đều chỉ diễn ra trong giấc ngủ và tưởng tượng. Những gian khổ trong giấc ngủ làm phong phú thêm tình cảm của tôi, khiến tôi ngoài nhỏ trong lớn, nhưng cũng già dái non hột.

Tôi theo chủ nghĩa cộng sản, thứ đó rất cụ thể, gần giống một tòa nhà trung tâm mua sắm lớn, có những hàng ăn năm màu bảy sắc, có cửa hàng tự chọn và khu vui chơi giải trí. Mỗi hoàng hôn tan học, nhìn đường Phục Hưng lấp lánh vàng trải dài tít tắp về hai phía đông tây, lại tưởng tượng tòa nhà đang xây dựng ở một đầu nào đó, đời tôi nhất định đón được ngày tòa nhà khánh thành đưa vào sử dụng.

Suốt năm ấy, quê nhà tôi - cả dẫy Mộ Công Chúa - là không khí thanh bình thịnh trị.

Thời đó cả thế giới còn chưa có khái niệm hiệu ứng nhà kính, mùa đông Bắc Kinh rất lạnh, tuyết lớn bay dày, chúng tôi thường bước trong tuyết ngập đầu gối để đến trường. Trong lớp không có lò sưởi, chỉ có một cái bếp đốt than cục cháy được một lúc thì tự tắt. Tôi ngồi cuối lớp, chân đi giày bông vẫn rét, giậm liên tục. Từ đó, gót chân tôi năm nào cũng đóng sẹo đông. Cửa sổ lớp học đóng băng dày cộp, mái hiên rủ xuống vô số trụ băng sáng lấp lánh như những thanh trường kiếm. Chúng tôi thường đập những đầu nhọn của trụ băng để ăn như cà-rem.

Tai tôi cũng bị sẹo đông, ước ao lớn nhất là có chiếc mũ che kín hai tai. Tôi có chiếc “mũ xe tăng”, một sản phẩm dân sự mô phỏng kiểu quân trang dành cho trẻ em. Tên “mũ xe tăng” là cách gọi nhầm của bọn trẻ. Trên trán gắn đôi mắt kính chắn gió để trang trí, trông giống mũ phi công hơn. Người ta gọi đó là mũ da, thực ra là nhựa giả da, bên trong lót nhung, đội vào cũng không xấu lắm, còn có dáng am hiểu kĩ thuật, nhưng không ấm.

Áo bông của tôi có hoa. Nghĩa là đã chần vá nhiều chỗ bằng những mảnh vải đủ màu. Áo anh tôi mặc chật để lại. Áo choàng với quần cũng do anh mặc chật để lại, tay áo, ống quần nối từng khoanh vải có màu gần gần nhau, trông giống đầu tẩy của cây bút chì. Những chỗ hay cọ xát như khuỷu tay, đầu gối và hai mông cũng chần vải dày đặc đường chỉ. Để đến thời nay, không cần hóa trang, cứ thế mặc mà đi ăn xin, chắc chắn có người bố thí. Trong trí nhớ, chiếc áo mới duy nhất tôi có làm bằng vải nhung sọc, có ba túi. Chẳng nhớ màu gì, có những chiếc cúc to đùng bằng mi-ca. Vải nhung rất dày, lăn lộn bò toài không rách, có thể phát cho đại đội trinh sát làm áo tập. Tôi nghĩ có lẽ đó là một phong trào nghèo khổ thời bấy giờ. Áo quần lam lũ rách nát biến thành vẻ đẹp đạo đức. Báo chí bôi vẽ lên rộn ràng. Thời đó nhân dân cả nước thi nhau nghèo khổ. Tất anh rách, tôi khắp người không được một tấm áo lành, xem ai bần cùng hơn ai. Mốt mà lại, kiêu hãnh vì nghèo. Tôi vẫn thuộc loại xa xỉ tốn kém, còn có áo khoác, bên trong còn có quần đùi, may ô. Tôi từng thấy cảnh thảm hại hơn nhiều. Cạnh hồ Ngọc Uyên Đàm có một trường tiểu học La Đạo Trang, học sinh là con cái công xã nhân dân tứ kì. Mùa đông đến bọn họ chỉ mặc độc chiếc áo bông màu đen. Tan học về cả một đám đen lui nhui như lũ quạ. Mỗi lần đọc đến câu thơ nổi tiếng của chủ tịch Mao “bàn tay đen vung ngọn roi bá quyền”, trước mắt lại hiện ra cảnh các bạn tiểu học La Đạo Trang. Biết rồi không sao, không biết cứ tưởng một vụ bạo loạn.

Đi giày, mùa xuân mùa thu chủ yếu là giày vải, hoặc giày đá bóng. Giày vải thường gọi giày lười, có lẽ vì không cần thắt dây, xỏ chân là đi được. Giày vải có loại vải trơn và vải sọc nhung, đế giày chia hai loại nhựa và lốp cao su, đế nhựa còn chia nhựa trắng và nhựa đỏ. Giày vải trơn đế nhựa trắng được lũ trẻ thích nhất, rất khít chân, vừa hẹp vừa mỏng như mỏ vịt. Bọn lớn hơn vài tuổi, đã biết làm điệu hoặc không “răm rắp quy củ” đều thích đi “lười mép trắng”. Giống như gái điếm ngày nay thích tất mạng màu đen, ra phố mang theo một thứ ám hiệu về tình trai gái.

Giày đá bóng về cơ bản là hàng quân dụng. Lũ con trai đi giày đó đá bóng, chạy bộ, đến trường. Nhiều người không thèm đi tất, nên rất hôi. Mùa hè tai nạn trong lớp học là từng đợt mùi chân thối xộc lên từ những chiếc giày đá bóng quân dụng. Cạnh tranh được với giày quân dụng là loại giày “Hồi lực”. Đó là một thứ hàng hiệu, mơ ước của bao nhiêu đứa con trai. Văn hóa cách mạng khiến xã hội náo loạn, loại giày này và mũ lính trở thành mục tiêu cướp giật của đám lưu manh “nhỏ lẻ”. Thường gặp cảnh anh chàng bảnh bao xỏ đôi “Hồi lực” ra đường, trở về chân không, giày đã bị người ta “múc” mất.

Cũng giống áo quần, rất hiếm thấy ai đi giày mới, thời đó người làm giày hình như đều chuyển sang sửa - vá giày. Dưới đôi chân của lũ trẻ vĩnh viễn là những miếng vá tròn tròn như những con mắt vô tri. Gót giày mòn vẹt được đóng nẹp sắt, bước trên phố lóc cóc như vó ngựa.

Giày da chỉ có bọn trẻ hư mới đi. Hồi đó thịnh hành loại “ba mối”, may ghép ba miếng da. Da trên sống lưng bò làm mũi giày, da bụng làm thân, da tốt nhất bo giày, về sau có kiểu gọi những người “vào trong rỗng tuếch ra ngoài hào hoa” là “làm bằng da bò”.

Kiểu giày này cũng xuất phát từ giày quân dụng. Kiểu giày cao cấp nhất, khiến người người ngả mũ kính chào là “bốt tướng”, chỉ cấp cho các tướng lĩnh, cao đến lưng bụng chân. Thứ này rất quý, về nguyên tắc chỉ có trong các nhà tướng lĩnh quân đội, tức cũng chỉ hơn nghìn đôi. Cả xã hội đều thừa nhận, đi loại bốt này nếu không phải con em lãnh đạo cao cấp thì là lưu manh thượng thặng, chỉ có hai loại người này mới có cơ sờ tới thứ giày đó. Thời nay không một nhãn hiệu giày dép danh tiếng nào sánh nổi với “bốt tướng” về ý nghĩa khẳng định địa vị xã hội, nó tương đương một chiếc Limousine Caddilac. Giày cấp tá không bẹt cũng chẳng nhọn bằng, trông kém hẳn, thường thường như kiểu nhẫn bằng vàng, đi vào cố lắm cũng chỉ ngang chiếc Audi.

Sự đổi thay của thời đại có thể được phát hiện ít nhiều qua sự thay đổi của trang phục, khiến con người mỗi khi nghĩ lại cảm thấy như có điềm báo trước. Gió cát mùa xuân vẫn như mọi năm, tối tăm trời đất, từ các cao nguyên phía tây bắc cuồn cuộn kéo về, quân giải phóng bỗng nhất loạt đổi từ màu vàng thành màu xanh. Thay quân phục mới. So với màu vàng ấm áp vốn có, màu lục ngăn ngắt có vẻ sặc sỡ, tươi roi rói, tựa như cả mùa hè đột ngột đến sớm. Thời gian nhảy cóc một bước. Mọi người đều không thể quen ngay lập tức với sự đổi màu đột ngột ấy, trông không giống những đội quân chính quy, mà như đám dân binh mới thành lập hơn.

Bây giờ tôi mới chợt phát hiện quân hàm quân hiệu của họ đã bị tước mất từ bao giờ. Trên mũ không còn chiếc quân hiệu nền xanh viền vàng, tròn như nắp chai bia Năm sao nữa. Trên phù hiệu cũng không còn những ngôi sao bạc để phân biệt cấp bậc thành phần, già trẻ gái trai đều ba miếng màu đỏ. Không hiểu nghĩ thế nào mà trang điểm cho quân đội như thế. Những người này là để đi đánh nhau, bây giờ trông xa như rặng dương liễu xanh ngắt, nhìn gần như một đội đưa thư, còn ai sợ nữa? Vả lại, thời đó khắp đầu đường cuối ngõ, trên phố dưới quê đều mong đi lính để được ăn mang ra dáng con người. Một đất nước lớn như thế, dân đông như thế, chỉ nói sĩ diện cũng phải sắp xếp đàng hoàng, có mặt có mày hẳn hoi. Không thể nào cả nước đều như rùa đất một lượt.

Quân đội thay trang phục, tạo tiền đề cho mốt mới trong tương lai. Quân phục tràn ngập cả nước cố nhiên có nguyên nhân từ mong muốn gửi gắm lòng trung thành đáng thương lẫn những ham muốn tàn bạo khát máu của đám hồng vệ binh mới nổi. Nhưng ở chỗ chúng tôi, điều đó vẫn chẳng tượng trưng cho điều gì, chỉ là một cách để nhà nhà tiết kiệm thêm ít tem phiếu vải. Bao nhiêu là đồ tốt: vải ka ki bền chắc, nỉ, lụa ép, vv… đều nhét đáy hòm thật tiếc. Thứ thịnh hành thực thụ là sự bần hàn và thiếu thốn, trẻ con hễ lớn lên chỉ có thể nhặt quần áo bố mẹ mà mặc. Rất nhiều con cái gia đình công nhân quanh năm chỉ mặc quần áo lao động của cha mẹ. Đó là loại vải xanh thô rất chắc chắn, có thể nhập nhằng đánh lận giả vờ là vải bò, ở đây gọi là “vải lao động”. Con nhà viên chức mặc áo đại cán kiểu Trung Sơn, trông ra tí vẻ này nọ.

Học sinh lớp năm lớp sáu[1] trong trường rất nhiều người mặc quân phục đến lớp, tay áo xắn lên, rộng thùng thình, cơ thể nhỏ bé nhìn đằng trước chỉ thấy bốn cái túi. Không ít áo cũ còn nguyên dấu phù hiệu, cấp hiệu vừa gỡ bỏ khỏi cầu vai và ve áo, chỗ vải hình chữ nhật đó mới hơn các chỗ khác. Thái độ người mặc còn chưa tự tin lắm, hơi ngượng ngùng khi bị người khác nhìn vào. Chỉ thế thôi, nhưng trông họ như có ít nhiều sức mạnh. Toàn trường tập thể dục, nhìn từ xa cũng được một đám lớn, vàng rượi, chẳng làm gì cũng thấy sôi nổi hơn lên.

Thuở đó, phần lớn thời gian của tôi là đọc sách. Tôi đọc Đại Lâm và Tiểu Lâm, Bí mật hồ lô quý của Trương Thiên Dực, đọc Robinson của De Foe, một vài mẩu truyện cổ Grim và truyện cổ Andersen. Sách mượn của Ngô Địch và các học sinh năm trên cùng ở trong lớp phụ. Xem xong tôi hay kể lại cho các bạn trong lớp, chỗ không nhớ thì bịa, các bạn đều cảm thấy tôi kiến thức đầy đầu.

Truyện cổ Grim và Andersen theo tôi đều rất tàn nhẫn, cô bé quàng khăn đỏ bị mụ già sói ăn thịt mất, cô bé bán diêm chết ngoẻo vì đói. Tôi không hiểu họ viết thế có ý gì, chủ đề nằm ở đâu? Đau thương là thứ tình cảm bị tôi chối bỏ, không phù hợp với ước mơ khỏe khoắn của tôi, chỉ cảm thấy bí bét, yếu hèn. So ra, tôi càng thích Trương Thiên Dực với những tình cảm đơn giản, phân biệt phải trái, xấu tốt, có nội dung giáo dục rõ rệt. Chúng rất thống nhất với điều được học trên lớp. Những nội dung “phi con người” trong câu chuyện cũng chẳng sao: anh em hại nhau, có tiền = sa đọa, tất thảy tôi đều bỏ qua, coi như một sự sắp đặt cần thiết cho kịch tính, chẳng cần phải nhọc lòng ngẫm nghĩ.

Thực tình mà nói, với tôi truyện cổ tích của thầy Trương lắm khi giống một bản thực đơn. Tôi đang lớn lên, rất dễ đói bụng, hay để ý Đại Lâm và bọn xấu nuốt được những gì thơm ngon. Cái hồ lô quý có thể hóa ra cả bàn tiệc thịnh soạn rất ám ảnh tôi, dù biết đó là thứ tội lỗi nhưng không thể nào đừng nghĩ tới. Cô chủ nhiệm lớp Một-Ba của Trương Yến Sinh vừa thấp vừa béo, đeo đôi kính to đùng nên có biệt hiệu “cô mèo”. Mỗi khi nghe bọn trẻ hét: cô mèo thích ăn cá, cả ngày chỉ ăn một miếng bánh trứng, một miếng bánh trứng…, tôi liền tưởng tượng ra miếng bánh trứng sao mà thơm ngon thế.

So với bọn người xấu, tôi ăn uống quá đơn giản. Gà vịt thịt cá nói chung là không biết tới, càng đừng nhắc gì sơn hào hải vị, căn bản không hiểu nghĩa nó là gì. Mỗi ngày ăn cải bắp với đậu phụ quả thực cũng không có lợi cho việc bồi dưỡng khí phách nam nhi, chúng khiến người ta yếu nhược, thiển cận. Có ai lại muốn sống một lần trên đời mà không hề ăn thơm uống cay, cứ thế nhạt nhẽo như kiếp cừu. Ăn một bữa ngon lành luôn là khâu quan trọng trong khái niệm về hạnh phúc của tôi. Ở mức độ nào đó, điều này hạ thấp nhân cách, nhưng tôi càng không muốn kiểu thà chết không chịu khuất phục. Địch bắt được không cần phải dùng mĩ nhân kê, chỉ cần “Cưu sơn thết yến kết bằng hữu”, tôi nghĩ không khéo sẽ bằng lòng - đến với những nội tâm sâu kín của kẻ thù.

Truyện cổ tích của thầy Trương ảnh hưởng đến tôi đại khái như sau: bọn xấu toàn ăn ngon. Muốn ăn ngon chỉ có làm người xấu. Càng thêm hiểu những nỗi niềm uẩn khúc khi thấy nhiều kẻ nhắm mắt đưa chân làm người xấu.

Truyện Robinson cho tôi ấn tượng là ông đó quá xui xẻo. Cho một vạn lạng vàng tôi cũng không bao giờ lênh đênh trên biển.

Một chiều, tôi kể chuyện cho cả lớp nghe. Những ngày gần đây cô giáo toàn đi họp buổi chiều, lại không cho chúng tôi nghỉ học. Bài tập làm xong hết, tôi liền bị mọi người kéo lên bục giảng kể câu chuyện mới đọc, cũng là một kiểu tự giải trí của đông đảo quần chúng.

Tôi kể đến đoạn Robinson đi vào hang, nghe thấy bên trong vọng ra tiếng thở rất lớn, sợ đến mức tóc “dựng đứng” cả lên. Tôi vò đầu tóc mình rối tung, mượn cái mũ bộ đội của Dương Trọng ngồi ngay bàn đầu đội hờ rồi nói với mọi người: Kiểu thế này này.

Cô Chu bước vào lớp cắt ngang câu chuyện, yêu cầu mọi người tập trung trước nhà khánh tiết của sư đoàn cảnh vệ nghe truyền đạt nội dung quan trọng.

Tôi còn nhớ mình hỏi cô Chu: Có quay lại không ạ?

Cô Chu nói không phải quay lại nữa, bảo chúng tôi đeo cặp sách theo người.

Rất nhiều bạn vừa xếp cặp vừa hỏi với sang bàn tôi: Ai thế, ai ở trong thế?

Lúc đó tôi biết câu trả lời, nhưng đến hôm nay thì đã quên, không thể nhớ được ai đã ở trong cái hang ấy.

Buổi chiều hôm đó nắng to, ra khỏi lớp mặt đã đẫm mồ hôi. Trên sân vận động láo nháo tiếng bọn trẻ con. Thầy thể dục miệng ngậm còi, thổi liên hồi kì trận.

Những lá cờ đội bay phấp phới, dưới bầu trời trong xanh rộng lớn trông như những vật có sự sống đang chuyển động. Nhìn ra xa thấy trập trùng đồi núi mọc đầy tùng bách như hàm râu quai nón của mặt đất. Có mùi tanh tanh ẩm ướt theo gió ùa tới, đó là mùi nước hồ Bát Nhất đằng sau dốc đồi, chỉ hít vào cũng thấy trong lòng mát đi ít nhiều.

Con đường nhỏ bên ngoài hàng rào mù mịt bụi, từng hàng từng hàng người san sát, nhìn toàn thấy đầu. Vết bánh xe lúc trời mưa khô lại thành từng đường rãnh lớn, mỗi bước lại sụt mấy bọng đất, khiến lòng cấn cái khó chịu. Hai bên là tường và dải bóng hẹp đổ xuống đất, hàng cỏ xanh ẩn dưới bóng râm chỗ chân tường trĩu rủ những bông cỏ đầy lông. Một nữ sinh bị đạp tụt mất giày, một hàng học sinh xếp đều như phím đàn ác-coóc-đê-ông, nhưng phát ra hàng loạt âm thanh không được hài hòa cho lắm.

Sư đoàn cảnh vệ với trường tiểu học chỉ cách nhau một bức tường, đi ra đó không xa. Mùa đông chúng tôi thường sang nhà khánh tiết bên đó sinh hoạt đội, nghe báo cáo, xem phim, trong thâm tâm đã coi đó là nơi sinh hoạt thường xuyên của trường mình.

Đó là một khu vực không người, nhà khánh tiết trơ trọi, cô độc như một lâu đài cổ giữa bãi trống, nhiều con đường đổ về đó. Từ xa thấy một vòng cây dương cây liễu cao lớn đứng bao bọc, tiếng ve râm ran. Sân trước tòa nhà lát gạch, hắt màu sáng trắng dưới nắng chói chang, bước lên thấy mắt lóa, chân bỏng rẫy. Sư đoàn này lúc nào cũng rất yên tĩnh, không biết bộ đội giấu hết đi đâu, đáng lẽ phải thường xuyên thấy lính tráng tập luyện mới đúng. Dương Trọng vừa về đến khu nhà mình liền ra dáng phong độ, chỉ dẫy nhà có cửa sổ phía xa bảo là nhà mình. Nhà bạn có súng không? Cả lớp hỏi. Chỉ có súng ngắn, cậu trả lời. Có được đến nhà bạn xem một tí không? Mọi người nài nỉ. Mẹ mình không cho, cậu ta cự tuyệt thẳng thừng.

Từng hàng từng hàng quạt trần quay tít trên nóc nhà tối tăm, vòm nhà lờ mờ, không nhìn rõ hoa văn trang trí và hình dạng những cái chụp đèn. Một quầng tròn bỗng hiện rõ đường nét, cánh quạt lúc mờ lúc tỏ rồi cứ thế rõ dần, nặng nề dần, phân rõ ba chiếc, dừng lại một cách chậm rãi. Rất nhiều cánh tay nho nhỏ thò lên từ ghế ngồi, chỉ về phía đó: Dừng rồi.

Trên sân khấu rất sáng, mặt người đậm đà rõ nét như được bôi màu. Bục phát biểu chạm hình ngôi sao Bát Nhất trông đã cũ xỉn, hiệu trưởng đứng phía sau, chỉ nhô được cái đầu nho nhỏ lên, giống một chú lùn. Tiếng thầy rất chói tai, dội đến từ phía trước, từ bên phải lẫn bên trái tựa như thầy có ba đầu sáu tay. Mỗi một chữ đều rất rõ ràng, nhưng gộp lại vẫn chẳng hiểu. Cô Hồ tươi tắn xách phích nước bước ra từ cánh gà, rót nước cho hiệu trưởng, bước chân như Tiểu Hoa đán[2] trong Kinh kịch, vô cùng nhẹ nhõm.

Cô Chu ngồi phía đằng kia đang chấm bài tập, chân gác đầu gối, tay đánh dấu vèo vèo lên chồng bài tập để trên đùi.

Đám học sinh ở dẫy tôi ngồi đều ngủ khì, đầu gục xuống một hàng ngay ngắn như tưởng niệm tập thể. Tôi ngáp liên tục, nhìn ngang nhìn ngửa, răng hàm vòm họng bị mọi người nhìn thấy hết cả.

Trần Nam Yến ngồi dãy trước cũng quay lại, miệng ngáp, nhíu mày nhăn mặt rất xấu xí.

Hình như tôi cũng ngủ thiếp đi, bởi vì tôi đi ra khỏi cổng nhà khánh tiết, đứng dưới nắng tay che trên mắt nhìn bốn xung quanh. Tôi đến bên hồ Bát Nhất, xuống nước bơi lội, không cần học cũng bơi được, tay chân ngọ nguậy như đang bò trên một cái bong bóng lớn. Trần Nam Yến cũng đang ở dưới nước, đứng yên không dám bơi, tôi nói với cô: Chị nhìn em này, chị nhìn em này. Trong lòng tự thấy mình thông minh, không cần học mà cái gì cũng biết. Nhưng có điều không thấy mát, sau lưng nóng toát mồ hôi. Bơi lội thế thì thú vị gì nữa.

Tôi chợt tỉnh, ngáp sái cả mồm, cảm thấy cả hội trường mọi người đều nói lao nhao. Âm thanh tạm dừng, chẳng hiểu bọn họ đang hò hét cái gì. Cô Hồ mặt mũi tươi cười hạnh phúc đứng ngay giữa sân khấu, hai tay khoanh trước ngực như một ca sĩ thực thụ. Trấn tĩnh một lát, cảm thấy xương cốt nhức nhối, nhăn nhó quay sang hỏi Trần Bắc Yến ngồi bên cạnh: Bạn chọc hông tớ phải không?

Cô Chu bảo làm đấy. Trần Bắc Yến đáp.

Tôi nhìn sang cô Chu, chỉ thấy cô đang nhắm mắt, mím môi ra sức lắc lắc đầu, trông giống rùng mình lúc đi tiểu.

Các bạn đều tỉnh táo, nhìn lên sân khấu. Hiệu trưởng cũng đang đứng bên cạnh cô Hồ như hát song ca nam nữ, trông cũng vui vẻ hào hứng.

Cô Hồ đột ngột hét lên: Đảng Cộng sản muôn năm!

Giờ thì hiểu rồi. Tôi cũng vội vàng siết chặt nắm tay, giơ lên quá đầu, gằm mặt hét nhỏ: Đảng Cộng sản muôn năm!

Tư tưởng Mao Trạch Đông vĩ đại bách chiến bách thắng muôn năm!

Chúng ta thề cống hiến trọn đời thực hiện đến cùng Đại Cách mạng văn hóa vĩ đại của giai cấp vô sản mà chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân đề xướng!

Thế này thì chết mất, chúng tôi lấy đâu ra “công lực” để hét trọn một câu khẩu hiệu dài thế, trong đó có những mấy từ mới nghe lần đầu. Thế là mọi người loạc choạc, mạnh ai nấy đọc như cả lớp đang học thuộc lòng, hơi ngọng nghịu, ở giữa loạn xà ngầu một mớ, cuối câu vút lên cao:

Chúng ta thề cống hiến, trọn đời thực hiện đến cùng Đại Cách mạng văn hóa vĩ đại của giai cấp, vô sản mà chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân đề xướng…

Hét đến cuối càng mù mờ, chỉ nắn cho âm phát ra nghe giông giống. Dù sao thì một hai nghìn người à uôm à uôm cũng chẳng ai để ý.

Tiếp theo là hát. Cô Hồ giơ hai tay lưng chừng, hơi kiễng chân, cứng đơ người như con rối. Âm nhạc nổi lên, người cô bỗng sống động, hai tay nhịp nhàng đưa ra đưa vào, trông giống ra hiệu vỗ tay, lại cũng giống muốn ôm ai đó, khoảng giữa là một vật gì đó khiến hai tay cô không chạm vào nhau được.

Chúng tôi thót bụng, tì vào lưng ghế phía trước lắc lư hát thật to: Đi giữa biển khơi nhờ thủy thủ, vạn vật nảy nở nhờ mặt trời, giọt sương tắm mát mâm lúa nhỏ, làm cách mạng nhờ tư tưởng Mao Trạch Đông…

Vừa hát vừa nhìn nhau cười, cười thầy hiệu trưởng trên sân khấu. Ông cũng đang đánh nhịp, một tay vung lên vung xuống như thể chụp ruồi bay trước mặt. Cô Hồ là phụ nữ trẻ tuổi, hoạt bát vui đùa cũng bình thường. Còn hiệu trưởng đã đứng tuổi, trên sân khấu vừa hát vừa múa trông hơi kỳ quặc. Ông đứng khá gần mi-crô, thỉnh thoảng chòi một câu đột ngột lớn oang oang, tất cả âm đều lạc điệu, phía dưới học sinh cười rần rần.

Đại Cách mạng văn hóa - ghê gớm thật, nghe qua như thể có một buổi biểu diễn văn nghệ đặc biệt khác lạ. Văn hóa - chẳng phải chính là văn nghệ, ca hát hay sao? Đại - tức là toàn bộ, tất cả đều tham gia, Cách mạng - tức là mới, lần đầu tiên, những thứ già cũ bỏ đi. Chuyến này đoàn văn công bận phải biết.

Bác biết gì không mà cũng hớn ha hớn hở thế - tôi chỉ muốn hét lên với thầy hiệu trưởng đang giật đùng đùng trên sân khấu, trông hơi nhố nhăng. Chương trình còn chưa bắt đầu, bác đã vui đến thế, hay là giả vờ?

Bạn nói gì thế? Tôi ngoảnh đầu hỏi Trần Bắc Yến đang đứng bên cạnh lầm bà lầm bầm.

Tớ nói là chủ tịch Mao Trạch Đông của chúng ta sao mà giỏi thế - Trần Bắc Yến gào lên giữa muôn vàn tiếng hát, một mình chủ tịch đề ra tất cả chủ trương.

Đương nhiên, tôi nói với Trần Bắc Yến vẻ thán phục. Chủ tịch siêu thật.

Cá không thể xa nước, tôi ngâm nga hát, nhanh nhẹn gạt chân các bạn để chen ra ngoài.

Đi đâu? Cô Chu vừa hát vừa chìa một chân ra ngáng đường tôi.

Số một, tôi chỉ chỉ xuống dưới, không nhịn được ạ.

Cô Chu thả tôi đi. Tôi vừa đi vừa hát, qua chỗ tiền sảnh không bóng người, chui vào nhà vệ sinh sặc mùi hóa chất lẫn mùi khai, đứng trước bệ tiểu, cởi cúc quần, vừa đợi vừa lấy hơi hát nốt câu cuối trong khoan khoái: “… tư tưởng Mao Trạch Đông như mặt trời không bao giờ lặn.”

Bấy giờ mới ngậm mồm lại, cúi xuống tập trung chú ý để tiểu.

Ra rồi, chúng ùa ra dào dạt, tôi cảm thấy hạnh phúc.

Bọng nước tiểu này thật to, đái mãi, hết rồi lại ra tiếp dòng nữa, ngắt dòng rồi lại tiếp tục tuôn ra, chỉ cần thoải mái, thoải mái, thật thoải mái là nó một hai ba bốn, hai hai ba bốn, tiếp tục ba hai ba bốn, bốn hai ba bốn. Đúng lúc trong buồng đại tiện vang lên tiếng dội nước. Một phụ nữ trung niên béo tốt đứng dậy, mắt nhìn thẳng đơ, thản nhiên kéo quần. Tôi hoảng hồn, nhưng chưa lùi ra được, quay người nói: Đây… đây không phải nhà vệ sinh nam ạ?

Vệ sinh nữ. Người phụ nữ gạt cánh cửa ngăn bước ra, cúi đầu rón rén như sợ đánh rơi vật gì, cứ thế thận trọng đi dần ra ngoài.

Tôi cũng hết nước tiểu, chạy ra cửa xem biển, rõ ràng đề nhà vệ sinh nam, lòng đùng đùng nổi giận, đuổi theo người kia hét: Cô vào nhà vệ sinh nam.

Bà kia bình thản bước chân ngỗng, chẳng thèm quay đầu lại: Đây không phân nam nữ.

Mẹ nó chứ! Tôi giận run, sư đoàn cảnh vệ thế mà loạn, có còn luật pháp nữa không?

Học sinh toàn trường túa ra, tất cả cửa mở toang, vô số đứa trẻ phóng chạy, tựa như trong nhà sụp nóc đến nơi. Tôi theo dòng người trôi ra khỏi nhà khánh tiết. Bên ngoài cũng trẻ con đầy sân, tranh nhau tản ra. Tôi nhìn thấy các bạn trong lớp tốp năm tốp ba tháo lui tứ phía. Tôi đứng trên bậc cấp tìm Trần Bắc Yến, chắc cô ấy cầm cặp sách của tôi, bọn trẻ số 29 đi qua đứa thì bợp đầu tôi, đứa thì gõ trán. Tôi đánh nhau với chúng, khăn quàng đỏ bị kéo tuột ra. Bay một chân đá vào đít Cao Dương, tiếp đất chưa vững bị Trương Yến Sinh gạt một cái, loạng choạng hai tay gần như chống xuống đất, đầu đâm luôn vào mông Lý Bạch Linh đang xuống bậc thềm.

“Ghét!” Cô ta mắng. Vừa định đạp tôi, nhận ra là người cùng khu liền ngoắt người bỏ đi.

Em về không? Trần Nam Yến vừa bước ra hỏi tôi.

Em đợi em gái chị, bạn ấy cầm cặp sách của em.

Thế thì bọn chị đi trước. Cô và Dương Đồng kề vai bước đi, lúc nào cũng chân phải trước, hai chân bước rất nhanh theo từng bậc cấp. Dương Đan đứng sẵn dưới đón chào, ba người kéo tay nhau ra về.

Phương Siêu và Trương Ninh Sinh đi ra từ một cửa khác, không nhìn thấy tôi, nhảy cóc như chuột túi vượt qua nhiều bậc cấp một lúc, trông chẳng khác gì bay.

Vu Sảnh Sảnh và Hứa Tốn đi ra, biết tôi đang đợi Trần Bắc Yến liền đợi cùng.

Tôi bảo chẳng cần, bọn họ nói không sao, họ muốn thế.

Trần Bắc Yến và Ngô Địch đi ra, lưng đeo cặp của tôi, vắt chéo trên cặp cô ấy, trông như nữ nhân viên môi trường.

Đây rồi, cô ta vừa gặp tôi đã oang oang, chờ mãi cũng không trở về, tưởng rơi xuống lỗ xí rồi.

Trần Bắc Yến đột ngột tròng dây cặp vào cổ tôi suýt nghẹn thở.

Giết người à. Tôi hét. Có kẻ ám hại cán bộ cách mạng.

Cậu đeo giúp cái. Tôi trồng cặp sách lên cổ Hứa Tốn, cậu ta túm lấy vứt luôn ra đất.

Tôi lăm lăm nhìn Vu Sảnh Sảnh, ngoằng một cái móc cặp sách vào cổ Ngô Địch, chạy xa mấy bước chỉ tay nói: Không đeo thì vứt đi.

Nhưng tớ chỉ mang được cho cậu đến cổng doanh trại các cậu thôi. Ngô Địch cũng khoác chéo cặp sách, một tay đỡ lấy vừa đi vừa nói. Sao mà nặng thế.

Bọn tôi năm đứa vừa đi vừa đùa nghịch, đi một lúc xung quanh chẳng còn ai. Hàng cây bách hai bên vừa cao vừa rậm, chặn cả tầm nhìn. Quay lại đã không thấy bóng nhà khánh tiết nữa, nhà khách Kinh Tây lại có vẻ khá gần.

Đây là chỗ nào? Mọi người cảm thấy hơi lạc đường, nhưng trời còn rất sáng, cũng chẳng sợ, kệ xác, cứ đi tới trước.

Sao thối thế, mùi gì không biết. Đi thêm một đoạn ngắn, phía trước xuất hiện từng dãy nhà thấp lè tè, không khí nồng nặc hôi tanh, còn có những âm thanh khác lạ tựa như cái gì đó đang ư ử, hơn nữa số lượng rất đông đảo, một lũ rất buông tuồng rất trơ tráo.

Trần Bắc Yến sải bước về phía trước, cặp sách va lịch bà lịch bịch, dẫn đầu nhóm trèo lên một gò nhỏ. Tôi cho rằng đó là một đống phân.

Lợn. Cô bé hét lên.

Cả lũ chúng tôi vụt lao lên, ai nấy mắt mũi hớn hở phấn khích.

Trong những gian nho nhỏ nửa lợp ngói nửa lộ thiên hơi giống kiểu một phòng khách một phòng ngủ, chúng tôi nhìn thấy hình hài ban đầu của những miếng thịt kho và thịt băm viên, cũng là những khuôn mặt sinh động, đầy đủ mắt mũi mồm, chân hơi nhỏ một chút, cổ hơi ngắn một chút, người hơi béo một chút, bước đi không hay ngẩng đầu. Cũng là một vùng cư dân lớn, sống cuộc sống tập thể như chúng tôi. Trong mỗi nhà có mẹ, con và một số họ hàng trưởng thành, phần lớn là da đen, cũng không ít da trắng, tất cả sống thanh bình hòa thuận.

Đám súc vật đang dùng bữa, cũng không rõ rệt là bữa nào. Chúng kề vai sát cánh trước dãy máng, ăn rất chuyên tâm, chồm chộp choàm choạp vang động một vùng. Những cái đuôi bé tí vung vẩy trên bộ mông tròn trịa, dễ dàng nhận ra đây là thời khắc vui vẻ của chúng. Nhưng trong máng chẳng có gì gọi là ngon lành, mà là thứ gì đó xám xám hôi thối lõng bõng còn hơn cả cháo, rất không xứng đáng để vỗ về những đứa to đùng béo ị. Tôi không ngờ lợn lại dễ nuôi, dễ tính, vô tư không buồn không ghét, chân thành chăm chú với mỗi phút mỗi giờ đến thế. Chúng ỉa phân ngay ra nhà, bãi khô bãi nước, chân và móng chúng xéo qua xéo lại, vài con ăn no uống đủ xong ngủ lăn luôn trên cứt, trần trụi tênh hênh, dáng trông vui vẻ, trong đôi mắt ti hí còn ánh lên chút đắc ý thỏa thuê.

Tác phong khác thường của lũ lợn làm chúng tôi thấy thật ngộ nghĩnh, gần như lập tức thấy khoái đám coi thường thể diện đến độ ngây thơ, thành thật này.

Ngày mai tao sẽ ăn thịt mày, chúng tôi chỉ mấy con béo nhất, hét vào mặt chúng.

Chúng không thèm để mắt đến bọn tôi, cứ thế đi đi lại lại, ăn ăn uống uống, ườn mình phơi nắng. Chúng tôi lượm sỏi ném vào, chúng cũng biết tránh, cũng không vui, kêu lên eng éc, nhưng trước sau chẳng nhìn chúng tôi nửa con mắt, có thể nói chúng cũng có chút lòng tự trọng.

Chúng tôi cứ thế tấn công, mấy cô bé cũng ra sức vừa nhắm vừa ném, cả trại lợn tru tréo ầm ĩ không thôi. Bọn tôi không cho chúng được bình yên như thế, bắt chúng không được ở hiền gặp lành.

Một người lính đi ủng bảo hộ lao động, đeo tạp dề da trông không sạch sẽ hơn lợn là bao, nghe động chạy ra, tay còn cầm xẻng xúc phân, miệng quát lớn: Bọn mày bắt nạt chúng làm gì thế? Chúng vướng gì bọn mày?

Chúng tôi bỏ chạy, vừa chạy vừa tiếp tục ném đá vào chuồng lợn, miệng hét vang: Thối, thối quá.

Người nuôi lợn vẫn quát theo đằng sau: Bắt được chúng mày thì chặt tay.

Chúng tôi xuyên bụi luồn cây, chạy đến vệ đường mới dừng lại, trong lòng phấn khích vô kể tựa hồ mới qua một chuyến thám hiểm, mở rộng thêm tầm mắt, tiếp xúc với nhiều phong tục tập quán xa lạ. Lúc này mặt trời đỏ rực lặn xuống phía tây, chúng tôi nhận ra đã đi quá đảo giao thông Mộ Công Chúa, phía đối diện chính là nhà khách Kinh Tây. Khá nhiều tầng trên tòa nhà đã sáng đèn, trên đường không xe cũng không người, mênh mông và tịch mịch như hoang mạc. Chẳng qua chỉ cách khoảng một bên xe, nhưng chúng tôi đã phát sợ, vừa đi vừa chạy vừa dáo dác. Vu Sảnh Sảnh và Ngô Địch muốn đi tè, nài nỉ chúng tôi đứng đợi. Tôi và Hứa Tốn miệng nói đợi vừa đi vừa lùi ra. Bọn họ ngồi thành hàng trên đất, gọi theo chúng tôi thảm thiết: Đợi với đợi với… Những tiếng gọi kèm theo sự run rẩy trong bóng chiều ngả tối từng giây vọng đến tai chúng tôi rõ mồn một.

Chúng tôi đi đến cổng bắc của doanh trại số 29, năn nỉ chiến sĩ canh gác cho vào. Ngô Địch thấy chúng tôi sắp bỏ rơi, cuống quá khóc òa, chúng tôi dắt cô bé cùng vào trong doanh trại, đưa cô bé ra cổng tây, đứng lại đó nhìn cô một mình đi trên đường Thúy Vy, cái bóng nhỏ bé chạy băng băng giữa những hàng cây dưới bầu trời chạng vạng.

Đàn lợn nhàn rỗi vô tư dưới nắng nóng oi ả là ấn tượng nổi bật nhất của ngày hôm đó. Về sau hễ nhớ hoặc ôn chuyện cũ đều không khỏi nhắc lại “cái hôm xem lợn”.

❀ ❀ ❀

[1] Bậc tiểu học từ lớp một đến lớp sáu.

[2] Tiểu Hoa đán - một loại nhân vật trong kịch nghệ phương Bắc Trung Quốc, bao gồm Kinh kịch: cô gái mới lớn, chưa cưới gả; xuất thân trong gia đình bình thường, hoặc là phận a hoàn, hầu hạ; tính cách vui vẻ; ngoại hình xinh xắn. Ngoài ra còn có những quy định về trang phục và đài từ - ND.

Dịch giả: Nguyễn Xuân Nhật
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Vương Sóc

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.