Chương Mười Chín
Bố Phương Thương Thương sắp đi “Trường cán bộ Năm Bảy”. Từ đó biết thêm một địa danh: Hà Nam Trú Mã Điếm. Nghe như một nơi ngựa đẹp chạy thành đàn. Phản ứng đầu tiên là tự nhủ phen này không ai quản thúc nữa, phản ứng thứ hai là ông thật may mắn, những việc tốt đẹp Mao Chủ Tịch đề xướng đã không thiếu phần ông, chuyến đi này tiền đồ thênh thang. Lờ mờ còn nhớ hôm đó trong doanh trại khá náo nhiệt, căng biểu ngữ, làm liên hoan. Biểu ngữ viết toàn những lời tâng tụng những người đi trường cán bộ, càng khiến tôi cảm giác đó là một chốn lí tưởng, ngưỡng mộ bọn trẻ được đi cùng cha mẹ về đó; Bọn chúng cũng đang hớn ha hớn hở, bộ dạng như sắp đi du lịch.
Nhà tôi chỉ có một tấm phiếu ăn liên hoan, theo quy luật tuần tự thưởng thức dịp may, lần trước đi xem biểu diễn ở Đại Lễ đường Nhân dân là Phương Siêu đi, lần này đến phiên Phương Thương Thương. Tiệc bày ở nhà ăn số hai, người lớn không ai đến, toàn trẻ con các nhà. Trên dãy bàn là những đĩa gà, cá kho nguyên con, giò lợn hầm, thịt viên, long lanh một chai bia và một chai rượu nho khai vị, xung quanh lũ trẻ thèm thuồng ngồi chật cứng. Các vị lãnh đạo ban ngành mới về trong doanh trại ngồi cô đơn trên bàn chủ tịch, giống ngày mồng Một tháng Sáu, một vài người lớn đến liên hoan với thiếu nhi. Họ là một số cấp tá mới được cất nhắc gần đây, trông qua như một nhóm tiếm quyền, chúng tôi cũng không quá thành kiến, nhưng các tướng trong doanh trại đều dẹp sang hai bên cả khiến chúng tôi hơi lo đẳng cấp của doanh trại vì thế bị hạ thấp. Chỗ chúng tôi thực ra tồn tại mối quan hệ phong kiến dựa dẫm cá nhân, mỗi doanh trại cũng giống một sơn trại, vị thế lớn bé của trại chủ ảnh hưởng đến vị thế của một đứa bé trong mắt những đứa khác. Ai cũng so sánh. Có lúc điều đó quả thực có thể quyết định địa vị xã hội của một người.
Các lãnh đạo mới lại phát biểu những lời chuẩn bị sẵn như mọi khi, mở giọng lãnh đạo, tựa như bọn họ sắp cử bọn trẻ con đi thực. Bọn trẻ cũng rất chăm chú, đáp lại bằng những tràng vỗ tay, trên mặt quả thực hiện ra nét tự hào và cảm giác trách nhiệm. Mọi người đều quen thuộc với các loại hoạt động trang nghiêm. Anh nghiêm chỉnh tôi cũng nghiêm chỉnh, chưa cần phải xét xem ở đây liên quan gì đến tôi. Linh tinh một hồi, bất chợt thấy bảo được ăn, Phương Thương Thương ra tay hơi muộn, tay sờ lên con gà, hai chân đã biến mất, quay mặt sang gắp thịt viên, cũng chẳng còn viên nào, vội vàng tìm chân giò, cũng chỉ còn lại một lớp bì mỡ. Kiểu ăn liên hoan nếu muốn ăn tử tế tốt nhất không được lơ đễnh, phản xạ phải nhanh, ra tay phải dứt khoát, để chậm một bước thì mọi bước đều phải đi sau, như chạy ngắn, chỉ mười giây thế cuộc đã được định đoạt. Kịp ăn thì gì cũng có, không kịp ăn chỉ còn cách lượm đồ thừa.
Phương Thương Thương cụp mắt, mặt thất thần, một tay chống bàn, tay kia điên cuồng vung đũa vào mọi đĩa, đũa đến đâu miệng đến đấy, nuốt nhanh như chớp, cứ thế, lúc vụn cá lúc vụn thịt lúc mẩu da gà, lúc chỉ bén tí nước thức ăn, chẳng có miếng gì. Không ngừng nhịp, không quan sát, không phân biệt, không do dự, cứ thế ăn, cho đến lúc đũa gõ vào đĩa coong coong, một vùng trống vắng, bấy giờ mới ngước mắt lên, thở ra một hơi, buông lỏng cơ bắp toàn thân, cảm thấy mình cũng hòa được vốn. Tinh thần thoải mái hơn lên, thảnh thơi nhìn phải nhìn trái, xem xem những ai ban nãy giao tranh với cánh tay mình. Nghỉ một hơi, lại chiếm lấy hai đĩa, đơm một chén cơm chan nước thịt, nuốt chửng, mới thấy no, căng, tức, bụng nặng trịch, ngẩng đầu lên cũng hơi khó khăn.
Giữa đó, các lãnh đạo có đến chúc rượu, rất thân tình nói những câu thú vị với mỗi bàn. Lũ trẻ cắm cúi mải làm việc, chỉ ờ à lấy lòng mấy tiếng, đầu cũng chẳng ngẩng hẳn lên được đàng hoàng. Lúc đó rượu vẫn còn nguyên trong cốc thủy tinh, mọi người sợ thiệt đều nếm thử, mím môi nhấp một ngụm nhỏ. Tất cả công nhận bia là nước đái ngựa. Rượu nho vừa chẳng giống nước đường đỏ, cũng không giống xi-rô ho, một ngụm qua cổ họng lạnh lạnh, sau đó thực quản, dạ dày đều nóng hổi.
Phương Thương Thương mắt ngà ngà, khoác vai một đứa đi về nhà 42, vừa đi vừa hát khúc trong “Đột phá Ô giang”: Tôi hút đủ một mồm mì trắng a… a… a… Tôi hạnh phúc như thần tiên ơ… ơ…. ơ…
Bước lên bậc thang bắt đầu ợ, vào cửa ợ biến thành nấc, cái này liền cái kia, khiến Phương Thương Thương nằm ngồi không yên, tinh thần lộn xộn. Bố mẹ và anh đang ăn cơm, có thịt rán, cà sợi xào và cá sốt. Cả nhà ngồi quanh mấy đĩa thức ăn, vừa ăn vừa trò chuyện nhẹ nhàng. Bố nói với cậu mấy câu gì nghe không rõ, chỉ nhớ thái độ rất ôn hòa, trên mặt thoáng nét cười, tay trái cầm đũa, miệng bóng lên dưới ánh đèn, tiếng nói rõ ràng vướng víu vì vật gì đó trong mồm. Sau đó bố đi luôn, mỗi tháng viết về một bức thư, nét chữ trôi chảy liền nhau, nét của cây bút máy màu xanh da trời.
Joker đỏ là một chuẩn tướng Mỹ đứng với một thượng tá, một trung tá, ba người nói chuyện; Joker đen là một thiếu tá Mỹ cùng một thượng úy một thiếu úy.
Át rô là hàng không mẫu hạm, K rô là tàu ngầm nguyên tử, Q rô là tuần dương hạm hạng nặng, J rô là tàu khu trục, 10 rô là chiến hạm chở xe tăng.
2 chuồn là trực thăng vũ trang rắn hổ mang, 3 chuồn là máy bay do thám ban đêm, 4 chuồn là máy bay chiến đấu mang tên lửa, 5 chuồn là máy bay F-5B, 10 chuồn là máy bay vận tải hạng nặng, K chuồn là B-52 nổi tiếng.
2 cơ là súng cạc-bin và súng máy, 3 cơ là thiết giáp chở quân Bradley, 4 cơ là xe tăng phóng lửa, 5 cơ là pháo tự hành, 6 cơ là xe tăng chiến đấu hạng nặng M-l, Q cơ là súng phóng lựu 133 ly, K cơ là súng Ca-nông 156 ly, Át cơ là pháo nguyên tử 280 ly.
2 bích là súng phóng tên lửa đất đối không M-43 Mắt đỏ, 3 bích là tên lửa không đối không AIM-9X, mấy bích là tên lửa chống tăng TOW, mấy bích là tên lửa đất đối đất Pơ-xing 1, mấy bích là gì không nhớ nữa. Quá nhiều “chim cò” của Mỹ vừa to vừa thô vừa đen, có gai, biết bay, đầy hăm dọa, rất khó phân biệt.
Nói chuyện này vì hồi đó trong doanh trại xuất hiện loại bài Poker nhận biết vũ khí Mỹ, đại khái vốn để phát cho các chiến sĩ chơi. Vì phái lãnh đạo bị đánh đố thích chơi bài, mang bài theo cũng trở thành căn cứ đấu tố tư sản với phong kiến, là tượng trưng cho sinh hoạt hủ bại, cả nước không được chơi, cửa hàng không được bán. Kết quả là mọi người vẫn muốn chơi, trăm phương nghìn kế kiếm tìm. Đống bài quân dụng tồn kho dần dần lọt vào tay lũ trẻ chúng tôi.
Mặt sau là hình quân hàm quân hiệu các loại binh chủng của Mỹ, đủ màu đủ sắc rất nhiều. Mặt trước là những bức ảnh màu chụp vũ khí, nhiều trang còn có hình nền là lính Mỹ dăm ba thằng nghiêng ngả thờ ơ, bên dưới còn ghi chú một vài thông số kĩ thuật: số lượng quân, tầm hoạt động, mức ngập nước, tầm tấn công, tốc độ bay, tải trọng lớn nhất, vv…
Ngoài dùng để chơi “tiến lên”, “tá lả”, còn có thể chơi hai người với nhau. Căn cứ vào tính năng vũ khí để thắng bài nhau.
Chơi thế khá vui, hai trang bài mở ra, vũ khí tốt hơn thắng. Hàng không mẫu hạm ăn hết các loại chiến hạm, chỉ có tàu ngầm nguyên tử là khắc tinh của nó; máy bay bình thường và các vũ khí trên bộ nó cũng thắng được, nhưng tên lửa xuyên lục địa thì không đánh nổi, hai máy bay chiến đấu của 4 chuồn, 5 chuồn và B-52 K chuồn cũng không đánh được, coi như hòa. Tàu ngầm nguyên tử thua J rô tàu khu trục, bởi vì J rô có trang bị thủy lôi có thể chống tàu ngầm. Trong quân chuồn hình như còn một loại máy bay chống tàu ngầm, đã quên mất là mấy.
Trong các con chuồn, máy bay chiến đấu F-5E rất khó đối phó, tất cả máy bay đều thua nó, chỉ có 2 bích là súng phóng tên lửa đất đối không M-43 mới bắn hạ nổi. Yếu kém vô dụng nhất là dãy bài Cơ với hỏa lực lục quân, trừ người cùng phe ghép thấy Chuồn và Bích còn lại vũ khí gì cũng thua. Đương nhiên, chuẩn tướng với thiếu tá mà ra thì mọi vũ khí đều thuộc về họ, lúc đó thì phải dùng 2 cơ, M-16 chuyên dùng để đánh Joker.
Trang bị quân sự hùng hậu của quân đội Mỹ khắc sâu thêm ấn tượng của chúng tôi về đất nước này, giai cấp công nhân Mỹ rất giỏi giang, đáng tiếc giác ngộ còn thấp, nếu họ làm xong mấy vũ khí này lén đưa sang cho chúng tôi thì thực sự không còn phải sợ gì ai nữa, chúng tôi có thể lập tức bắt tay vào giải phóng toàn thế giới.
Thời đó, chúng tôi dùng cùng một thái độ phê phán nghiêm khắc đối với chủ nghĩa đế quốc Mỹ lẫn chủ nghĩa xét lại của Liên Xô, hơn nữa còn có xu hướng cụ thể hóa sự xấu xí của con người Mỹ. Xuất hiện trong phim ảnh kịch tuồng là những binh lính Mỹ nhát gan sợ chết, buông tuồng trác táng, hành vi tùy tiện. Hình ảnh điển hình là ngồi trên chiếc xe Jeep, một tay cầm chai rượu tay kia ôm cô gái. Không bao giờ đề cập bọn họ đánh được trận nào hay, chỉ liên tục làm nổi bật ham muốn tình dục mãnh liệt của chúng. Quân Mỹ đến Trung Quốc trong Thế chiến thứ hai thành tựu lớn nhất là cưỡng hiếp nữ sinh Đại học Bắc Kinh - Thẩm Sùng ngay trên phố Đông Đơn, một phát đá chết anh phu xe ở Thựợng Hải; nghe nói còn tổ chức một buổi khiêu vũ đen tối ở Vũ Hán, cưỡng hiếp tập thể gia quyến của mấy cha không quân Quốc dân Đảng. Quảng cáo chiêu binh hải quân của bọn họ viết: hãy đến Trung Quốc, đóng gói phụ nữ gửi về nhà. Một cuốn sách từng bán chạy một thời Từ tuyến đầu Tổ quốc trong đó ghi lại đủ mọi phương thức ngược đãi tình dục thô bạo ghê tởm của bọn Mỹ: chúng dùng dao găm gọt đầu vú của phụ nữ Việt Nam như gọt củ cải, thả mèo vào trong quần phụ nữ, thắt chặt ống quần rồi dùng gậy đánh mèo.
Nghe người lớn đi Triều Tiên về kể, người Mỹ lại cho phép binh lính đầu hàng, mỗi người lính ra tiền tuyến đều mang theo một bản thư đầu hàng viết bằng ba thứ tiếng Trung, Anh và Triều Tiên, đánh không lại liền rút thư ra đặt lên đầu. Một quốc gia kiểu gì thế! Sao có thể làm như vậy… buông thả cho công dân mình đến thế.
Người Mỹ - tức là chủ nghĩa tự do tùy tiện, vô phép vô tắc.
Tuyệt đối không thấy một cảnh quay, một dòng chữ bêu xấu hồng quân Liên Xô nào. Trong những phim Liên Xô cũ vẫn công chiếu, họ đều mặc trang phục đồ sộ nặng nề, tay cầm súng máy, những người đàn ông dạn dày sương gió. Có thể họ không nhanh nhẹn khéo léo, đối mặt với khói lửa ngút trời lảo đảo xông lên, mỗi chiến dịch đều thương vong nặng nề, nhưng tuyệt đối nghiêm túc, một viên đạn một nhát dao đều không hề đùa cợt.
Bạn đứng trước hai người. Một bên là thứ lưu manh, đi đâu cũng chim chim cò cò, một bên là khối thép nguội, giữ niềm tin đến bảo thủ, nóng lên là chiến tới cùng, quyết làm cho ra nhẽ. Bạn sẽ chọn bên nào?
Bài Poker quân sự là báu vật của chúng tôi. Sở hữu một bộ bài mới kiểu đó là ước mơ lớn nhất đời tôi. Sánh với nó chỉ có thể là một hộp bi đủ màu. Hai thứ này có tiền cũng chẳng có chỗ mua. Vài năm sau, bố Thương Thương từ trường cán bộ trở về, lại đi làm trong doanh trại, có một lần đã tặng hai anh em một bộ bài quân sự mới tinh, tới nay tôi vẫn còn nhớ như in cảm giác sung sướng khi sờ tay lên mặt lá bài bóng láng.
Hình như chúng tôi ngày nào cũng trải tờ Nhân dân Nhật báo đầu hành lang chơi cỗ bài quân sự vừa cũ vừa nát, sờ thấy dính tay, trộn bài bật không đều, phải dùng tay rút từng tờ. Đánh “Bốn Mười”, còn gọi là “Trăm điểm” hoặc “Lên cấp”. Không gọi tên, xuất chủ, thua nộp sáu con. Niềm vui của chúng tôi là thi nhau, xem ai leo nhanh hơn, không cần cạnh tranh công bằng, chăm chăm lợi mình hại người. Đánh hay tức là biết gian lận; mắt không liếc xéo vẫn nhìn rõ trọn bộ bài của đối phương, cùng phe báo hiệu cho nhau.
Cao Dương vừa gặp chúng tôi liền nói: Napoléon dữ thật.
Nói câu đó, mặt cậu ta sáng bừng, mắt lướt qua chúng tôi nhìn về phía xa, có lúc còn vươn vai, ấy là cậu ta đọc sách lâu người mỏi, ra ngoài tìm người để tỏ ra mình mới mở rộng thêm kiến thức.
Chúng tôi vừa xuất bài vừa bảo: Trông cái bộ dạng mày kìa.
Cậu ta vừa đến, đề tài của chúng tôi liền chuyển sang lĩnh vực quân sự, thích nhất tranh luận xem ai “gấu” nhất thế giới. Trình độ kiến thức tàm tạm đều cho rằng là Hitle. Cao Dương thuộc diện tìm hiểu khá sâu về lịch sử quân sự thế giới. Hitle “gấu” nhất cũng do cậu ta đề xuất trước tiên, đến khi chúng tôi đều chấp nhận, cậu ra lại đưa ra ý kiến mới: Napoléon.
Chúng tôi không hiểu Napoléon cho lắm, chỉ biết có đợt ông ta đã chinh phục cả châu Âu, sau tan tành đại quân tinh nhuệ của mình trong tuyết lạnh Mát-xcơ-va, kết cục bi kịch này rất gần với Hitle, đều tổn thất nguyên khí tại nước Nga, sau đó bị dân tộc Ăng-lô sắc-xông đè bẹp. Không thể đánh địch cả hai mặt tại châu Âu, đó là bài học chúng tôi rút ra được. Thảo luận của chúng tôi thuần túy về mặt quân sự, không liên quan đến các vấn đề lịch sử, chính trị, chính nghĩa và phi nghĩa. Trong vấn đề này, thông thường chúng tôi không bao giờ để tình cảm chi phối hành động. Bởi vì chúng tôi đều thấy mình là nhà quân sự, chỉ biết đánh trận, còn về tính chất của chiến tranh thì để các nhà chính trị tranh luận thôi.
Qua phân tích, chúng tôi cho rằng Napoléon vẫn đánh không lại Hitle. Trước lực lượng thiết giáp và máy bay oanh tạc bổ nhào, đại bác và kị binh của Napoléon có hỏa lực quá yếu, tính cơ động và khả năng phòng thủ cũng không đủ. Hơn nữa Hitle dùng chiến thuật thần tốc, Napoléon căn bản không kịp bài binh bố trận, xe tăng mà lên đám ngựa nhất định hồn bay phách lạc. Lục quân của Đức được lũ trẻ chúng tôi phong là lực lượng lục quân mạnh mẽ và có tác phong chuyên nghiệp nhất trên thế giới. Diện mạo trang phục của họ tất cả đều kiêng nể. Mũ sắt như bệ tiểu, mũ kê-pi dựng đứng, quân hiệu chim ưng, bốt dài, tiểu liên đeo ngang, tư thế đứng nghiêm - bị trúng đạn gục xuống tư thế vẫn không đổi, tất cả đều khiến chúng tôi cảm thấy cực kì phong độ. Hình mẫu chiến sĩ lí tưởng của chúng tôi là như thế, mặc quân phục đẹp đẽ, đứng hiên ngang cao lớn ngạo nghễ, vĩnh viễn chẳng thèm nói nửa lời, lúc tấn công xếp thành một đường thẳng, súng kẹp bên hông bắn quét, chết thì lặng lẽ khuỵu xuống, nằm yên một chỗ. So với họ, chiến sĩ quân mình trước khi chết nói quá nhiều, cái này cái kia cái gì cũng không nỡ để lại, cũng lo lắng căn dặn. Người xung quanh cũng quá nhiều tình cảm, nước mắt ngắn dài, nào khóc nào kêu, không coi xung quanh là chiến trường, như thể đang làm đám tang ở nhà, kiểu đó không phải là kiểu hay. Thả phanh tình cảm như thế không hề khiến người ta xót thương thêm chiến sĩ sắp chết, ngược lại cảm thấy anh ta vờ vịt, lắm chuyện. Một chiến binh gục ngã không hé răng nửa lời lại khiến chúng tôi cảm thấy vĩ đại.
Quả lê giòn đến, đừng ngẩng đầu lên, một hai ba… Uông Nhược Hải nén giọng thì thầm.
Q… u… ả… lê… g… i… ò… n… Chúng tôi đồng thanh hô lên.
Cô nuôi Lý đang dắt học sinh lớp bé đi qua nhà 42, nghe tiếng liền nảy lên, tay lôi xềnh xệch một oắt con xông đến, chất vấn: Ai kêu đấy, các cậu đang làm gì?
Có ai kêu đâu ạ. Chúng tôi vờ ngơ ngác không biết.
Đừng tưởng các cậu muốn làm gì thì làm, không ai quản được. Có biết lễ phép nữa không? Cô nuôi Lý giận tái mặt, cánh tay run run. Đứa bé bị dắt theo méo xệch mồm muốn khóc.
Chúng tôi cười: Đánh bài đi chứ, đần ra thế!
Q… u… ả… lê… g… i… ò… n… Cô Lý vừa quay người đi ra đến đường, chúng tôi lại đồng thanh hét.
Chỉ thấy cô Lý xoay tại chỗ hai nửa vòng, nước mắt tuôn ra, giậm chân đi mất.
Mụ ta phát khóc rồi.
Mụ ta biết khóc à, mẹ nó tao không ngờ.
Lý Bạch Linh cưỡi chiếc xe đạp nữ “26” lao đến như bay, vừa xông vào vừa chửi: Mẹ chúng mày lúc nãy đứa nào chửi mẹ tao?
Chúng tôi thu bài, chuồn thẳng lên cầu thang. Từ tầng hai, chúng tôi thò đầu ra hét: Quả lê con!
Lý Bạch Linh đuổi vào hành lang, lộc cộc chạy lên cầu thang: Phải cho mấy thằng chúng mày một trận.
Chúng tôi trốn vào nhà Phương Thương Thương, khóa cửa, chạy vào buồng trong, ngồi lên giường thở hổn hển. Phương Siêu dội nước trong nhà vệ sinh xong bước ra: Bọn mày làm cái gì thế?
Suỵt! - Chúng tôi ra hiệu cậu ra đừng lên tiếng: Chốc nữa có người đập cửa, nhất định đừng có mở.
Bộp, rầm, uỳnh. Lý Bạch Linh đứng bên ngoài đá cửa. Chúng tôi ở bên trong ngầm khoái chí.
Chị ta có đá hỏng cửa nhà mình không nhỉ? Phương Thương Thương hơi lo.
Đá hỏng thì bắt đền. Cả bọn nói.
Chúng tôi ra ban công, vừa ngồi vừa đạp lên chiếc xe đạp cũ hiệu Diamond Đức hễ đạp ngược là phanh của Phương Tế Thành, thi nhau nhại giọng Sơn Đông tuyên bố: Chúng ta đang rất khó khăn - điện báo cho mấy ông già, bảo đem máy bay đến đón tôi.
Tiếp đó nghẹo đầu nghẹo cổ hát, nhà ăn tập thể hùng vĩ sắp mở cửa, hôm nay sẽ có món cơm gì, có đít lợn xào trứng gà luộc…
Lý Bạch Linh vòng ra phía sau dãy nhà, chống nạnh gào: Có giỏi thì chúng mày xuống đây.
Chúng tôi dồn đầy một miệng nước bọt, nhất loạt nhổ xuống chỗ cô ta.
Hình như bà già ở nhà thằng bé biệt danh “Tiểu tiền quảng” ở tầng một cầu thang hai rất hay kê ghế đôn ngồi làm thịt gà, nhổ lông gà rừng túm từng túm. Tầng hai trên đầu nhà bà ta, anh em Trương Yến Sinh Trương Ninh Sinh ôm thành ban công nhìn xuống bực bội hỏi đi hỏi lại: “Bà Tiền ơi, nhà bà ăn thịt gà à?”
Ừ. Bà Tiền lần nào cũng xác nhận.
Chúng tôi và tất cả bọn trẻ đang ở ban công nghe thấy đều cười.
Bữa tối bà Tiền thường bê một bát mì ngồi ăn ngoài ban công. Bọn trẻ tầng trên liền nhặt đất trong chậu hoa nhắm bát bà ném xuống, gọi là: thêm ít bột tiêu. Bà lão nhiều khi không phát hiện ra, rắc lên cả đầu vẫn thản nhiên ăn. Có lúc bà chợt nhận ra, nhảy dựng lên chửi, tất cả trẻ con rụt đầu khỏi ban công, cười hì hì.
Bọn trẻ trên các tầng đều luyện tập nhổ đờm xuống ban công tầng dưới. Căn cứ vào hướng gió, tính toán góc độ, cố gắng để đờm rơi trúng thành ban công nhà dưới. Trẻ con nhà dưới mỗi lần thò đầu ra ban công đều phải ngửa cổ lên xem tầng trên có ai không, chỉ sơ suất là khó tránh bị một bãi đờm bay trúng. Một lần Phương Thương Thương nhìn Hứa Tử Ưu tì người trên ban công tầng ba, tưởng lầm là cậu em trai Hứa Tử Lương, một cục đờm bay xuống, đáp trúng lên cái xoáy trắng hếu trên đỉnh đầu. Tiếng chửi mắng vang lên ầm ầm, sau còn tìm lên tận cửa, Phương Thương Thương phải giả vờ “vườn không nhà trống” khá lâu mới tạm yên.
Không rõ tự bao giờ, mọi người bắt đầu đấu cọc tre ngoài ban công. Mỗi nhà lôi một cọc tre buộc màn ra chiến đấu, chọc lên chọc xuống. Tầng dưới thông đồng, tầng trên cũng bắt tay nhau. Sướng nhất là chọc trúng người, không được thì chọc quần áo đang phơi, khều cho rơi hẳn xuống đất. Sáng sớm tỉnh dậy đã thấy mấy que tre tầng dưới thòi lên lờn vờn, ra sức tìm cách khều chỗ áo ba lỗ quần đùi của mọi người trong nhà tôi. Một lần mẹ tôi vừa phơi xong chiếc áo ngắn tay, vừa định quay lưng chiếc áo chợt bay bổng lên rồi lượn ra xa như lá cờ trắng. Bà thất kinh hét lên một tiếng khiến tôi đang ngủ cũng thấy da đầu săn lại. Tôi còn bị khều mất tấm ga giường mới bị tè ướt, thứ đó dính nước vào rất nặng, lũ chúng nó cũng khá công phu, tổng động viên cả tầng hai tầng ba, bốn năm cọc tre cùng phối hợp, khều tác phẩm của tôi ra triển lãm giữa không trung, sau cùng vứt xuống mái ngói của dãy nhà trệt. Tôi cũng không mặt mũi nào đi nhặt, tấm ga bêu ở đó suốt mấy năm. Mỗi lần ra ban công đều không dám tập trung nhìn, lần nào liếc đến nó cũng hoang mang bần thần. Để phạm vi tấn công rộng hơn, cọc tre được nối dài không ngừng, hai ba chiếc buộc vào nhau lêu nga lêu nghêu khiến tôi không khỏi mường tượng chống sào nhảy một phát xuống đất. Có lúc cầm không chắc tuột khỏi tay, trợn mắt nhìn thanh tre đổ nghiêng dần xuống đất, bị bọn trẻ tầng dưới nhanh tay tóm được, coi như bị chiếm đoạt, muốn lấy lại phải đổi bằng bi hoặc bao thuốc lá.
Mái ngói dãy nhà trệt rơi đầy những thứ bọn trẻ vứt xuống, đủ hình đủ dạng: cặp sách cũ, mũ rách, trái cầu lông, vợt bóng bàn, lọ thuốc, bô tiểu, đồ sộ nhất là một chiếc xe mây của trẻ con không hiểu từ đâu cũng bay tới nằm lại đó.
Thường xuyên có cảnh trẻ con làm mất chìa khóa hoặc bị người lớn nhốt trong nhà muốn trốn ra bèn trèo ban công. Ngày nào cũng thấy trẻ con các tầng bò như thạch sùng qua ban công nhà bên cạnh, về sau còn mang tính biểu diễn, đứng nguyên, tay không vịn, đi từ thành lan can nhà mình sang lan can nhà kia. Trương Ninh Sinh, Trương Yến Sinh thường xuyên theo chân anh hai Trương Minh “quân đoàn trưởng” bò qua ban công tầng hai xuống thẳng nhà bà cụ Tiên, thành thạo điên lên được. Thỉnh thoảng, ba anh em còn cồng kênh nhau trèo ngược từ tầng một lên tầng hai, tay bám lan can chân đạp vụt một cái đã lên.
Hoành tráng nhất là một lần nhà Hình Nhiên đối diện làm mất chìa khóa, nhà cậu ta ở mặt phía đông cầu thang một, không có ban công nhà bên cạnh, Trương Minh trèo ra khỏi cửa sổ nhà hai anh em trọc đầu, tay bám cửa sổ nhà Hình Nhiên đu lên, cứ thế bò qua mấy bệ cửa sổ. Toàn bộ trẻ con đứng dưới đất, xếp thành hàng một dưới chân bức tường sau dẫy nhà trệt, nhìn “Quân đoàn trưởng” không khác gì đi trên dây thép. Hôm đó đã về chiều, hoàng hôn hắt nắng lên bề mặt dãy nhà như sân khấu bất chợt sáng bừng, Trương Minh mặc quân phục, tứ chi sải giữa hai bệ cửa sổ, bất động như bị đóng đinh tại chỗ. Có một tích tắc người cậu ta hơi chao đảo, lũ trẻ đồng loạt “A” lên thất thanh giơ hai tay ra như các tín đồ Hồi giáo thành kính trước đức A-la. Cậu ta dùng sức cánh tay đu cả người qua, chúng tôi tưởng sẽ rơi xuống đất hóa ra đã sang được bên kia, cả lũ mắt tròn xoe tưởng nhìn nhầm. Qua cơn sợ hãi, tiếng vỗ tay rộ lên. Trương quân đoàn trưởng quay xuống chào kiểu lính Mỹ, ngón trỏ và ngón giữa kẹp bên thái dương đưa nhẹ về phía trước. Phía dưới chúng tôi nhất loạt giơ tay phải: Hailơ Hitle.
Từ sau đó, đi qua nhà 42 thường thấy một đứa trẻ ngồi kẹt trên bệ cửa sổ tầng bốn, một mình rầu rĩ nhìn “vạn trượng sâu thẳm” phía trước. Phương Thương Thương đã vài lần định thử, kẹp chân vào lan can với tay sang cửa sổ nhà hai anh em trọc đầu, lập tức thấy chóng mặt, đất phía dưới chòng chành, vội thụt trở lại xuống ban công. Bàn chân chạm đất rồi tim đập thình thịch, trán căng thẳng, cảm thấy dẫu sao có đất vẫn hơn. Một lần khác buổi trưa, cậu ta ôm một chiếc ô, lén lút xuống hành lang tầng hai, trèo qua cửa sổ hành lang ra tấm ô-văng trước lối vào cầu thang, căng ô nhảy xuống. Một thoáng không biết thân thể ở phương nào, rơi xuống đất chân gập mạnh bệt mông, cái ô lộn ngược lên như bông hoa nở - thộn mặt cụp tai khập khiễng leo cầu thang lên nhà. Cả đời không dám hé với ai.
Hình như Trương quân đoàn trưởng còn nuôi một con béc-giê, tên Mực thì phải. Một lần, lũ cầu thang một và hai chúng tôi lập một đội chơi cướp thành với đội của cầu thang ba bốn. Đó là một trò khá dữ dội, trực tiếp đối kháng sức mạnh, mỗi đội vẽ một cái thành hình vuông trên đất, góc trong cùng vẽ một khoanh tròn làm sở chỉ huy. Hai bên tấn công nhau, trừ cấm đánh vào mặt và bụng, còn lại mọi thủ đoạn đều được, bên nào giẫm được lên sở chỉ huy đối phương trước là thắng. Cũng hơi giống trò bóng bầu dục của Anh, chỉ có điều không dùng bóng, đấu nhau chủ yếu tập trung vào người. Trò này thường xuyên khiến người chơi nổi khùng. Hôm đó, quân đoàn trưởng khùng với Hoàng Khắc Minh cầu thang bốn, hai bên “thượng cẳng tay”, xem ra đều đã từng học võ, ra đòn rất lão luyện. Lao vào là đánh vỗ mặt, được vài hiệp mũi quân đoàn trưởng rỉ máu. Quân đoàn trưởng Trương vừa đi về nhà vừa nói: Mày đợi đấy!
Ban đầu Hoàng Khắc Minh không sợ, tiếp tục chơi bời ồn ào. Không đầy ba giây anh ta bỗng vụt bỏ chạy. Chúng tôi vội vã quay đầu nhìn, quân đoàn trưởng Trương vừa ra khỏi cửa cầu thang hai, một con béc-giê to tướng đã băng ra giữa đường, nhăm nhăm xông về phía chúng tôi. Hoàng Khắc Minh chạy trối chết vòng quanh sân vận động, vừa chạy vừa ngoái đầu nhìn. Chẳng mấy chốc con chó đã đuổi sát sau lưng, ngoác mõm táp gót chân Hoàng Khắc Minh. Tôi chưa bao giờ thấy bước chân người lại có thể sải dài đến thế, gân cơ phải dài lắm không thì chắc rách cả háng. Hoàng Khắc Minh chạy không kém gì một vận động viên da đen ưu tú, đếm ra tới sáu cái chân, tít như chong chóng. Con chó bay cả người lên chồm tới…
Vĩnh biệt Mực, nó bị treo lên một cành liễu lớn, giống một gái điếm chân trần trụi, áo da lột xuống đến ngực. Quân đoàn trưởng Trương cùng Trương Ninh Sinh và Cao Tấn đang dùng dao gọt bút chì lột da con chó, ai nấy tay be bét máu. Cứ thế lột dần từng tí. Bố quân đoàn trưởng xông ra như mãnh hổ chặn đường, nện hai anh em Trương quân đoàn trưởng và Trương Ninh Sinh suốt từ nhà Trương Dực Tường (tức nhà cách li của vườn trẻ) về tận dãy nhà 42, trên đường lại nạp thêm Trương Yến Sinh, đánh cả ba thằng con, tấn công mọi bề: một bạt quân đoàn trưởng lộn nhào về trước, một đạp Trương Ninh Sinh lăn dúi dụi, một bàn chân nữa Trương Yến Sinh ngã chúi mặt xuống đất. Trương quân đoàn trưởng - Ninh Sinh - Yến Sinh cứ thế lăn lăn lộn lộn về đến nhà số 42, ngoạc mồm ra không phải khóc mà để gào - thứ âm thanh Võ Tòng lúc đả hổ đã phát ra. Bọn trẻ chúng tôi đều đi theo xem, cách một quãng xa, thỉnh thoảng đồng thanh kêu khẽ: Không được hành hung.
Dọc đường một vài người các gia đình cũng không chịu được, đứng trước cửa cầu thang kêu: Anh Trương, không được đánh tiếp nữa, đánh nữa bọn nhỏ thành tật mất.
Câu trả lời của bố nhà họ Trương là: Cút mẹ mày tất cả!
Bố Cao Tấn hay tin vội đến, nhìn cảnh tượng quá bi hùng, lập tức túm cổ thằng con thưởng luôn hai tát tai. Dường như ra tay còn quá chậm nên vẫn bị dư luận chỉ trích: Anh xem xem con trai anh làm gì thế này. Áp lực ghê gớm từ loại dư luận đó khiến tất cả người lớn đi làm về đều trở nên tích cực, ào ào dâng lên như ong vỡ tổ, nhà nào túm con người nấy, hình thành một quang cảnh hùng vĩ gần giống cuộc chiến tranh nhân dân, cũng có thể gọi là sĩ quan bắt cướp. Tất cả người lớn đều nổi giận, quát tháo hoặc truy đuổi. Tất cả trẻ con đều run như cầy sấy, bị đánh hoặc ôm đầu tháo thân. Trong khoảnh khắc trước nhà 42 nháo nhác tơi bời.
Lúc này mới thấy cái lợi của sự không cha. Đám trẻ có bố đi trường cán bộ hoặc về địa phương phởn phơ ra mặt, nhìn ngang nhìn ngửa, sung sướng một cách độc ác, đứng xếp thành hai hàng tiễn biệt lũ trẻ không may mắn bằng đang thất thểu như bị nắm “chim” lôi về nhà.
Hình như trong doanh trại chúng tôi chẳng có nhà nào không đánh con. Đặc biệt là mấy nhà quê quán Sơn Đông. Đương nhiên Tứ Xuyên, Đông Bắc cũng chẳng tốt đẹp gì. Bố Trương Ninh Sinh khá nổi tiếng, bố Vương Hưng Xuân, Vương Hưng Khải cầu thang tôi cũng rất nổi tiếng, cầu thang hai bố “thằng mèo đêm” cũng rất hay đánh, còn cả bố Lý Linh dưới tầng ba, tương đối kín đáo, toàn chỉ đánh trong nhà, không bao giờ giải quyết ngoài đường. Rất hay nghe thấy tiếng Lý Linh gào đọc Mao tuyển: phải đấu văn không đấu vũ lực. Nổi tiếng cầu thang ba là bố Giang Nguyên, Giang Lực. Cầu thang bốn có bố Trương Vân với Hoa Cương. Bố Hoa Cương và bố Vương Hưng Xuân càng nổi tiếng hơn bởi: không chỉ đánh con mình, có lúc hăng hái đánh cả con nhà người khác.
Một kẻ khác thỉnh thoảng cũng thích làm bố người ta là bố Uông Nhược Hải cầu thang ba. Cả nhà chỉ mình nó là con trai, bên trên toàn chị. Trương Yến Sinh với Uông Nhược Hải là kẻ thù, thấy nhau là đụng độ.
Đánh mãi đánh mãi Trương Minh, Trương Ninh Sinh phải ra mặt, bên kia chị cả chị hai của Nhược Hải cũng kéo xuống, mở rộng cục diện ác đấu.
Trương quân đoàn trưởng là kẻ có tập tành, tay chân cơ bắp, nhưng cũng không nhất định chiếm nổi ưu thế, liên tục bị hai cô gái đè đầu, ôm cứng, vừa kêu vừa nhảy, chỉ với bốn bàn tay thay nhau cào, mặt đầy vết máu. Trương Ninh Sinh đứng cạnh hăng hái xông tới xông lui, nhảy lên vả vào mặt hai cô chị. Hai cô gái mặt bị tát đỏ hồng chẳng thèm đếm xỉa, vẫn chăm chú vào Trương Minh, đau không chịu nổi nữa mới ngoác mồm chửi um.
Đây là chuyện thường xảy ra vào giờ cơm tối, trước nhà toàn là những người ra nhà ăn mua cơm, rất nhiều người xúm lại xem. Bố Uông Nhược Hải vừa xuất hiện liền xông vào giúp con gái. Có một lần ông đứng trước mặt Trương Ninh Sinh, tay đã vung lên nửa chừng thì bố Trương Ninh Sinh xuất hiện. Chú họ Uông thuận thế quay ngược một trăm tám mươi độ, cú tát tai rơi xuống mặt Uông Nhược Hải bấy giờ đang đứng sau lưng.
Chiêu này tất cả trẻ con chúng tôi về sau đều học được. Nhắm đằng trước vung tay lên, gót chân phải khẽ xoay bất thần tấn công vị đang đứng sau lưng mải nhe răng cười, đưa đẩy câu hát Kinh kịch: “đánh nó… i… i… i… không kịp… phòng…”
Cứ như trẻ con trong doanh trại chúng tôi đều là oan gia, ngày nào cũng đánh, nhiều người chơi với nhau không sao, hễ chỉ có hai đứa gặp nhau là đánh. Tôi cũng tự dưng “kết oan gia” với một thằng sinh năm năm mươi chín bên cầu thang bốn, thường gọi “Đại thập khánh”[1], hễ gặp là đánh nhau. Chật vật lắm mới quật đổ người ta, cưỡi lên xong không dám xuống, hai tay giữ bàn tay người ta, chân đè cánh tay, đít ngồi lên ngực, cứ thế giữ, rảnh ra là nhổ nước bọt vào mặt, rảnh nữa thì tát vào mặt. Nhưng về sau thì không biết ai cưỡi được ai nữa.
Hỏi: Khuất phục chưa? Khuất phục thì xuống, không thì cưỡi vĩnh viễn.
Nhớ có một lần tôi cưỡi “Đại thập khánh” từ trưa đến tận giờ cơm tối. Hắn ta nhất quyết không “khuất phục”, còn nghẹo đầu ngủ một lát, bảo ở dưới này dễ chịu.
Bọn trẻ đi nhà ăn ghé qua đều hỏi tôi: vẫn chưa khuất phục à?
Tôi cũng mệt, nằm bò ra trên người “Đại thập khánh” nghỉ ngơi, cảm nhận được nỗi trống vắng của kẻ vô địch thiên hạ, “độc cô cầu bại”, đôi ba lần khuyên hắn ta: Mày nhận khuất phục đi, phải ăn cơm rồi.
“Đại thập khánh” không hề nể mặt, bị đè đến nỗi thành ra bất khuất: Không khuất phục, không bao giờ, không thèm ăn cơm.
Về sau “Đại thập khánh” lớn vọt lên, xương cốt bọc thêm mỡ, đánh nhau lần nữa đổi thành tôi bị đè xuống dưới - tay đè tay, cánh tay oằn dưới hai cái chân nặng nề, mặt hứng “cam lộ” rỏ thành dòng từ miệng nó, chảy tiếp, trên da xuống hai lỗ tai - mẹ nó mới biết thế nào là cảm giác. Tôi cũng không khuất phục, mồm nói cứng, tay chân bủn rủn, mặt ướt lép nhép, nằm trên mặt đất, ngửa mặt nhìn trời, lòng nghĩ đời này sống sao nổi.
Họ Diệp gọi là Diệp lục, họ Giang gọi là Giang mai, họ Thái gọi Thái thịt, họ Dương gọi Dương cương, họ Chân gọi là Tiểu chân chúa, họ Ngô gọi là Ngô nếp già, đó là đặt tên theo họ. Còn có kết hợp hình dáng tướng mạo để đặt tên: kẹo viên, chó đói, mèo, lợn già, bạch diện, thằng đen, thùng mỡ. Một số nhà anh em gọi theo thứ tự: Mao lớn, mao nhị, mao tam. Có gọi theo tính cách: thằng bịa, lừa bắc. Còn có những tên chẳng biết vì sao có, thuận miệng gọi thế là gán luôn cho: Phạm rùa, chủ Trương, Nhiệm phun.
Biệt hiệu của tôi cũng thuộc loại trên: Tiểu Mai, chẳng hiểu nghĩa làm sao, tên do Nhiệm phun đặt.
Còn lại các tên khác là tự chuốc lấy. Hàn Lập Khắc thích học theo phim Thanh Tùng Lĩnh trong đó Tiền Quảng nói một câu: Đi, nướng tao hai cái bánh đường. Kết quả mọi người đều gọi nó “bánh đường”, liên lụy cả bố nó cũng bị gọi là “lão bánh đường”, em nó Ngũ Khắc mới sinh đã bị gọi là “mẩu bánh đường”.
Con trai trong doanh trại hầu hết đều có biệt hiệu. Dần dần thành ra quy ước biệt hiệu của người nào áp dụng cho cả nhà người đó. Anh em thì dùng một, hai, ba ghép thêm vào, chị em thì thêm “mẫu” vào đằng trước, mẫu Diệp lục, mẫu Giang mai. Các ông bố đều được thêm “lão”: Lão kẹo viên, lão mèo, lão thùng mỡ… Mẹ thì ghép hai chữ thành “Lão mẫu”, vv…
Thô bỉ thì có thô bỉ, nhưng về cơ bản không có ý bôi nhọ hay làm nhục, thằng gọi thằng bị gọi đều thản nhiên như nhau, chưa nghe nói ai vì biệt hiệu mà nóng máu. Nhưng một số chị em người ta tự dưng phải nhận mấy tên gọi linh tinh thì bực bội vô cùng. Người lớn nói chung đều không biết bọn trẻ gọi họ sau lưng là cái gì, tới tới lui lui vẫn một vẻ hiên ngang hoành tráng.
Nghe nói đây là truyền thống tốt đẹp của riêng doanh trại chúng tôi, theo phân tích, vì doanh trại chúng tôi nhỏ, chỉ có vài trăm trẻ con, không so được với bên hải quân lớn bé cả thảy mấy nghìn đứa. Chúng tôi nước nhỏ dân ít, thuộc tình cảnh như kiểu I-xra-en, các cường quốc nhăm nhe xung quanh nên phải chân thành đoàn kết, tất cả chơi với nhau.
Những đứa rất rất lớn, ý tôi muốn nói học sinh cấp ba, cũng chẳng chơi với bọn tôi. Trông mọi người đều như đang có việc quan trọng, cũng không giống bọn chúng tôi hay trêu mèo dọa chó. Bọn những đứa rất lớn không phân biệt doanh trại gì, quan hệ với nhau rất tốt. Bọn nhỏ chúng tôi với bên hải quân ngày ngày đánh nhau, bọn họ vẫn qua lại bình thường, cũng rất hay thấy những trẻ rất lớn rất lớn của hải quân đi bên chúng tôi, không đứa nào dám chọc vào. Tất cả đều rất kính nể những trẻ rất lớn rất lớn này. Có lúc bọn trẻ doanh trại này gặp một bọn chỗ khác không quen biết bèn đem tên những trẻ rất lớn rất lớn ra trao đổi, tựa như phương diện quân ba và bốn lần lượt nhắc Chu Mao với Trương Quốc Đào, bên nào cũng có người “trợ”, “gốc gác” đàng hoàng, thế là yên ổn, bắt tay chào nhau ai đi đường nấy. Những bậc bề trên đôi khi không biết ảnh hưởng của mình đang che chở cho không ít bọn trẻ này được gọi là “Tróc bản”, nghĩa là dê đầu đàn.
Dê đầu đàn ở doanh trại tôi là một cựu học sinh lớp mười tên là “Cẩm Kiệt”. Nghe nói từ đây ra tận Tây Đơn ai cũng biết danh, không tính phụ nữ nội trợ và cán bộ nhà nước. Tôi thì chưa bao giờ nhắc tới, vì chưa lúc nào cần, một mình tôi ra đường thực thà hết chỗ nói. Một lần nhìn thấy Cẩm Kiệt ngồi khóc dưới mấy cây thông cạnh nhà 38, vô cùng kinh hãi. Hình như anh ta đi Tây Đơn đụng bọn vác dao ở Thái Thị Khẩu, đôi “Hồi lực” bị chúng nó “gỡ” mất. Trẻ con cả doanh trại nổi giận. Từ bậc sơ trung trở lên tất cả ra tay, kêu gọi các doanh trại khác tập trung mấy nghìn chiếc xe đạp. Đông hơn cả hôm xông vào Bộ công an. Tất cả dồn tới Tây Đơn. Chiều tối, chiến lợi phẩm là thu về mấy chục đôi “Hồi lực”. Ngày hôm đó, tất cả những người đi đôi giày hiệu đó ngoài phố Tây Đơn đều bị “gỡ”. Qua đó mới thấy sức tập hợp của Cẩm Kiệt không thể xem thường.
Thời đó nhìn thấy mấy nghìn chiếc xe đạp lao vào thành phố đã không còn là cuộc tạo phản, hay vận động cách mạng gì nữa, khả năng lớn là đi đánh hội đồng. Trong thành phố mọc ra rất nhiều đội ngũ thổ dân lưu manh, du đãng. Chúng tôi gọi là “Thổ hoảng”, hoặc “Ngoan chủ”, chuyên môn gây sự với “cựu binh” - những hồng vệ binh hết thời, chủ yếu là con em cán bộ. Khu vực chúng tôi chính là căn cứ địa của “cựu binh”, phạm vi nội thành Bắc Kinh như thể vùng địch chiếm, hễ có tí chuyện liền nổi cuộc “can qua”, vào thành càn quét.
Cuộc “can qua” rộng lớn nhất có lẽ là lần “bình định” “Tiểu hỗn đán”[2], nghe đồn một người tên Vương Tiểu Điểm ra mặt, đó là nhân vật mà bọn trẻ đều nghe tiếng, rỉ tai nhau là kẻ ghê gớm bản lĩnh. “Tiểu hỗn đán” là đầu sỏ của đám Ngoan chủ trong thành, về sau tôi còn gặp khá nhiều tay kì cựu đương thời, nói đều từng đụng độ hoặc đi lại với hắn, cũng có nghĩa hắn là nhân vật tung hoành ngang dọc khắp Bắc Kinh. Chuyến đó trẻ lớn các doanh trại đi hết, ngoài phố nườm nượp như duyệt binh, nhìn ngút mắt. Nghe nói bọn họ chặn “Tiểu hỗn đán” trong đám rừng nhỏ cạnh cầu Bạch Thạch, một nhóm bảy người. “Tiểu hỗn đán” còn bảo: Giữ cho tao mạng sống. Vương Tiểu Điểm nói: Tao tha mày, nhưng con dao của tao không chịu tha. Nói xong bọn họ xếp hàng lần lượt, mỗi người một nhát, cho đến tận trời tối. “Tiểu hỗn đán” tắt thở, da thịt tả tơi. Không thấy nói có người bị xử án, hung thủ liên quan quá nhiều, công an biết bắt ai. Nghe nói còn có quan điểm là trừ hại cho dân, có thể bỏ qua. Không lâu sau Vương Tiểu Điểm bị gia đình cho vào lính. Sự việc trở thành câu chuyện truyền miệng của thổ dân Bắc Kinh. “Tiểu hỗn đán” trở thành anh hùng trong câu chuyện, coi như cũng để lại được danh tiếng muôn đời. Vương Tiểu Điểm thì ai nhớ?
Lời của tôi chỉ là một trong vô vàn phiên bản lưu hành trong dân gian.
Những trẻ lớn hay chơi cùng và cho chúng tôi đi theo thực ra cũng chỉ là học sinh trung học cơ sở năm đầu, hoặc tiểu học năm cuối, hết cỡ cũng chỉ tới trung học cơ sở năm hai, chưa đủ tư cách thực sự tham gia “tạo phản” hay “tịch thu gia sản” hay “gặp mặt”[3] hay “phá tứ cựu” chính hiệu, cũng chẳng dám “đơn đao” càn quét xã hội, nhưng cũng thích xưng hùng xưng bá, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng một đám lâu la, lúc đánh nhau có quân chuyền đá gạch cho ném, nên thu thập tất cả bọn tiểu học năm một năm hai chúng tôi. Rảnh rỗi lại dạy cho mấy miếng, phát minh ra vụ phá phách gì đó, ra bên ngoài phải dựa bóng Cẩm Kiệt, trong doanh trại thì dãy nào lĩnh dãy nấy.
Thế cũng đủ khiến có người bàng hoàng sung sướng, miệt mài phục dịch, sốt sắng trước sau, vững bụng vững dạ, cáo mượn oai hùm.
Hình như từ lúc đó, bọn tôi bắt đầu chơi vỏ thuốc lá, đi đâu cũng tìm nhặt bao thuốc không, gỡ ra, vuốt phẳng, gấp thành một miếng hình chữ nhật như gấp chăn, xếp thành một chồng trong lòng bàn tay, tâng nhẹ, lật tay dùng mu bàn tay đỡ lấy, sau đó lại hất nhẹ, ngửa tay chụp gọn, chỉ cho phép - và cũng bắt buộc - thả một miếng, gọi là “thả một”. Kĩ thuật này cốt lỗi nằm ở lúc lật bàn tay. Có những đứa trẻ lớn có thể chồng hơn trăm miếng thành một chuỗi đến gần khuỷu, lật tay liền tù tì, cả chuỗi bao thuốc lá như lơ lửng trong không khí thành một khối cố định, roạt một tiếng, năm kẽ ngón tay kẹp dính một loạt bao thuốc, kín kẽ, chính xác. Trẻ lớn làm chủ kĩ thuật này thì trúng đậm, thường xuyên vét sạch sành sanh của lũ trẻ nhỏ chúng tôi, hai bàn tay trắng.
Bọn trẻ lớn nhét hai túi quần căng đầy vỏ thuốc lá, đụng là thắng, hoặc là đổ ào ra hoặc chỉ xuất một tấm, trước khi chơi cộng lại, ai nhiều hơn đi trước. Bao thuốc lá có đơn vị giá trị như tiền nhưng con số còn khủng khiếp hơn đồng lira của Ý, lơ mơ cũng phải sáu con số. “Song Hỷ hồng” to nhất, vô địch kim cương, dưới tầm là một loạt hiệu thuốc nổi tiếng như Trung Hoa, Thượng Hải Mẫu Đơn, Vân Yên, Gấu Mèo, hồi đó bán hơn năm hào đều được quy định thành “ba mươi vạn”. Đại Tiền Môn, Hằng Đại hơn ba hào thành “mười vạn”. Phi Mã, Hải Hà hơn hai hào thành đôi ba vạn tùy. Có một loại thuốc tên Chiến Đấu, vỏ xanh sậm, giá một hào chín, chúng tôi định giá thành “chín nghìn chín trăm chín mươi chín”, về sau mức ba mươi vạn có thêm hiệu Phượng Hoàng, Thượng Hải sản xuất, ngửi mùi sô-cô-la. Cỡ mười vạn có thêm Hương Sơn, thuốc của Bắc Kinh. Thuốc hạng bét có thêm loại chín xu gọi là Phong Thu. Giấy thuốc kém bóng hơn cả giấy học sinh, không ai thèm chơi. Còn nhớ một số nhãn hiệu cũ kĩ kỳ quặc và thuốc lá ngoại: Cáp Đức Môn, Tam Pháo Đài, Lạc Đà, v.v…, đều đã mất tích, không nhớ giá cả, nhưng giấy thuốc tinh xảo tuyệt đẹp, đáng xếp vào hàng ba mươi vạn - tất cả đều do bọn trẻ lớn quy định.
Túi quần còn nhét đầy và nặng tới mức sắp tụt cả cạp, chạy một bước đã kêu rào rào toàn tiếng của bi ve. Tốt nhất, bắn lì nhất là loại Ba Sao, còn có Hai Sao, Một Sao, không có sao nào trắng trơn gọi là Pha Lê, bắn chạm một cái nứt đôi ngay. Một Sao to khoảng bằng con ngươi, Hai sao to hơn một cỡ, Ba Sao to thêm cỡ nữa, phải nói là to như mắt bò. Đưa bi vào lỗ dùng Một Sao, bắn bi người khác tốt nhất dùng Ba Sao, bám đuôi tốt nhất dùng loại vừa to vừa nặng như dái bò, gọi là bi Ngũ Hoa. Đây là một môn thể thao trên mặt đất, so với trò Golf chỉ thiếu mười lăm cái lỗ, cũng không được dùng gậy, chỉ được dùng ngón tay búng. Có thể chơi hai người, cũng có thể nhiều người chia hai phe. Xòe ra một cái trên đất toàn bi là bi. Bên nào có bi vào hết đủ ba lỗ trở về lỗ đầu tiên sớm nhất bên đó thắng. Bên thua mất toàn bộ số bi trên mặt đất cho bên thắng. Trò này cũng rất chú trọng hiệp đồng chiến thuật, khoảng cách vạch xuất phát tới các lỗ và giữa lỗ với nhau đều rất xa, khả năng một phát vào ngay lỗ là rất mong manh. Không chỉ mình đi mà còn phải tính toán cùng đồng đội, dẫn dắt nhau tiến lên, dọc đường nếu gặp bi đối phương còn phải cố sức “nẻ” văng đi thật xa. Cũng giống Snốc-cơ, bắn bi đối phương phải tính bi mình dội lại sao cho tốt. Nếu liên tục mỗi phát đều vừa đủ chạm thì có thể đi đến cùng. Mỗi lần vào được lỗ, đại quân cùng tiến lên, nhưng phía sau phải bố trí phục binh, như thế đối phương sẽ không vào thẳng lỗ được, bắt buộc phải bắn văng bi mình trước. Đối phó với tình thế này tốt nhất là chạm mỏng bi phục binh của đối phương lăn đến gần lỗ, sau đó “nẻ” cự li gần cho bi đối phương văng thật xa. Có lúc đường bi không thuận lợi hoặc bị đối phương “nẻ” ra xa ngoài mười bước, xung quanh không có quân mình, chỉ còn cách thể hiện bản lĩnh. Phải đứng hẳn dậy (thay vì bò ra như bình thường), rót bi vào lỗ đã có bi đối phương. Cao Dương là tay thiện nghệ bài này. Lôi ra viên Ba Sao, lau thật sạch, hà hà hơi, nheo mắt rót bi bay một đường parabôn đẹp mắt, cậu ta vào, người kia bật ra. Đây là một kiểu tấn công đường không, không bao giờ bị nhẹ, nếu không văng như chim bay lên trời cũng vỡ nát như dưa hấu. Sợ nhất bị cậu ta rót bi. Hễ đến lúc đó phải lấy bi trong lỗ ra thay vào một viên kém hơn, có vỡ cũng không đau xót lắm. Hồi đó ngày nào tôi cũng mơ luyện rót bi, bất kể bi của ai trong lỗ, hễ tôi rót vào là phải bật ra. Đáng tiếc tôi đã không làm sao nắm được bí quyết rót bi, chỉ cầm bi kẹp trước ngón cái không sao dồn sức búng ra được đàng hoàng. Con người tôi từ trong di truyền đã không có yếu tố thể thao, cái gì dính vào thể dục thể thao là tôi “mất điện”. Không có thứ nào làm đúng tư thế. Tôi cũng đã tắt niềm hy vọng làm con người xuất sắc toàn diện.
Còn có trò Đi bắt giặc, là một kiểu trốn tìm quy mô lớn, ít ra cũng phải ba bốn chục người chơi mới đủ. Đội sĩ quan đi bắt đứng thành một nhóm phía tây sân vận động, mỗi người bám vào một gốc liễu. Đội giặc đứng bên đông sân vận động, cũng mỗi người đứng dưới một cây. Sĩ quan hét: Bọn mày xong chưa? Đội giặc trao đổi phân chia một chút, thằng chạy sang khu nhà làm việc, thằng chạy ra sau nhà Trương Dực Tường, cùng hẹn nửa tiếng đồng hồ sau tập hợp ở đống than, sau đó hét trả lời: Xong rồi. Sĩ quan ồ ồ băng qua sân vận động sang truy bắt, giặc rối rít tản mát trốn tránh, mạnh ai nấy chạy. Quá trình này khiến mọi ngóc ngách xó xỉnh trong doanh trại đều lộ diện. Hiên sau thềm trước, ống khói, nhà kho, đống than đống gỗ, nhà đốt lò, vườn quả, hầm rau, nhà giặt công cộng, nhà vệ sinh nam tất tần tật chỗ nào cũng trốn, chỗ nào cũng sục vào tìm. Có lần hai đứa trẻ lớn trèo luôn lên mái nhà 42, ngồi nghênh ngang cuối mép ngói ra dáng chuyện trò say sưa. Đám trẻ nhỏ sĩ quan chúng tôi nhìn thấy cũng không dám lên bắt, chỉ biết đứng dưới gào: Bọn anh chơi gian.
Có một lần tôi theo đám trẻ lớn chui vào hầm rau, phát hiện bên trong toàn là cải thảo. Anh lính nhà ăn phụ trách vào lấy rau bất chợt phát hiện ra những đôi mắt trong bóng tối, sợ quá ngồi uỵch ra đất. Chúng tôi vọt qua người anh ta tháo chạy, anh lính cuống quýt chụp. Hai chiếc cúc áo khoác nhung sọc của tôi bị anh ta kéo đứt mất.
Một lần khác theo đuôi trẻ lớn chui vào nhà đốt. Những cánh cửa lò bằng thép đúc trên tường như đuôi những khẩu pháo lớn. Trời tối cả lũ ra về, đứa nào đứa nấy đen như cục than. “Sĩ quan” đã ăn cơm xong, nhìn thấy bọn tôi thò ra cũng chẳng thèm bắt, tôi chạy đến nhà ăn chỉ còn nước cặn và bánh bao nguội.
Về sau bắt đầu tiến hành vũ trang. Trẻ lớn xách kìm đi cắt dây thép phơi quần áo các nhà, tự làm cho mình và cho cả chúng tôi những chiếc súng bắn dây chun hình dạng như loại Dương Tử Vinh và Thiếu Kiếm Ba sử dụng. Trên dây thép quấn sợi cước, ra cửa hàng văn phòng phẩm mua dây chun về tết thật dày. Vở bài tập xé ra gấp thành đạn hình tam giác, mỗi lần bắn một viên, đặt tên là súng Đức hai mươi phát. Đều làm bà già hai súng[4], núp sau chỗ rẽ, bên trong cửa cầu thang, gặp trẻ con đi qua thì thò ra bắn cả hai khẩu, xong mỗi phát đổi vị trí. Dưới sự lãnh đạo và tổ chức của đám trẻ lớn, chúng tôi hôm nào cũng diễn tập chiến đấu rất quy mô, đêm ngày giành giật từng ngôi nhà, từng góc hẻm, từng gốc cây. Một mùa hè trôi qua, trên sân vận động, vỉa hè, mỗi bậc thang khu tập thể đều trắng xóa những mẩu đạn giấy. Trẻ lớn dung mạo chẳng khác xưa, trẻ nhỏ mặt mũi đỏ bầm từng vệt như muỗi đốt, ai không biết tưởng dậy thì sớm nổi mụn trứng cá.
Về sau trẻ lớn còn tự trang bị súng tiểu liên bằng dây thép, bề ngoài bắt chước kiểu “56”, thiết kế ba bốn cái lẫy. Một phát bắn ra xong, hễ tưởng đối phương hết đạn mà xông lên liền ăn ngay phát nữa.
Sau nữa bắt đầu chơi ná. Chạc ba uốn bằng dây thép, không biết kiếm đâu được mảnh da làm bọc đạn, bắn sỏi viên, ngang nhiên tiến hành phá hoại và đả thương người khác. Ngoài đường đâu cũng nhặt được sỏi viên, chúng tôi có đầy đủ đạn dược, thích lên là bắn đèn đường, kính cửa sổ, chim trên cây và trẻ con bên hải quân.
Bọn trẻ nhỏ vẫn dùng dây chun tết lại, trẻ lớn đều dùng săm xe cắt ra, loại ná này sức kéo lớn, tầm bắn xa. Có thể từ cầu thang vườn trẻ bên tôi bắn sang tận tấm gương phản chiếu ở nút giao thông phía trước nhà khánh tiết bên hải quân.
Bọn trẻ nhỏ chúng tôi không quản ngại gian khổ, chồng rất nhiều ụ gạch dọc theo bức tường ngăn giữa hai doanh trại để trẻ lớn thò được đầu lên, lại còn dày công nạy được vài viên gạch trên bờ tường làm lỗ châu mai để trẻ lớn vừa bắn vừa tránh. Rảnh rỗi bọn trẻ lớn lại đem chúng tôi mai phục dưới bức tường, phái chúng tôi thám thính, trông thấy trẻ con hải quân đi qua lập tức báo cáo. Một lần có tay thiếu niên đầu trọc lốc đi qua, cực kì to khỏe, đi đứng dềnh dàng. Trương quân đoàn trưởng kéo hết tầm ná, từ lỗ châu mai bắn thẳng một viên đạn đất. Tôi nấp sau một lỗ châu mai khác quan sát, chỉ thấy sau đầu kẻ kia bỗng mọc ra một đám bụi đất, hai tay lập tức ôm chặt, quay đầu lại há miệng hít hà vì đau. Tức nỗi xung quanh không một bóng người, đâu đâu cũng tĩnh lặng thanh bình, thằng trọc nhìn ngang ngó dọc, ngắm nghía nghiền ngẫm dãy tường ngăn cuối đám cây bách, càu nhàu, giận dữ, ngơ ngác bước đi. Bên này chúng tôi ôm bụng cười không ra tiếng, đổ xiêu đổ vẹo ra đất.
Một lần khác có một chị bé tóc hoe, đeo khẩu trang, tay cầm khăn mặt lớn màu đỏ, mặc bộ quân phục nữ màu xám, cưỡi chiếc xe đạp nữ số 26 màu đỏ, trông rất “lượn”, tay liên tục nhấn chuông inh ỏi. Đến đầu đường đột nhiên hứng liền mấy phát đạn, không nói không rằng đạp thêm hai vòng đâm đầu vào đám cây bách. Lúc đứng lên trên khẩu trang dính theo một hạt bách xanh, vội đẩy chiếc xe đã vẹo ghi đông chạy vội ra xa, kẹp bánh trước nắn chỉnh lại ghi đông cho thẳng.
Một lần tôi suýt bắn trúng một vị sĩ quan hải quân. Một người béo, bước chân chữ bát như con ngỗng xám đi qua, vù một cái viên sỏi bay qua mặt, hơi khựng lại, định thần nhìn kĩ chẳng thấy gì, nghĩ một tí liền đi tiếp, được mấy bước bỗng dừng chân quay ngoắt lại.
Một buổi trưa rất nóng, tôi không muốn ngủ, cũng chẳng tìm thấy ai chơi, một mình đến bên tường sau vườn trẻ. Vừa lại gần lỗ châu mai chợt nghe có tiếng người nói chuyện phía bên ngoài liền rón rén đứng lên đóng gạch thò mặt sang nhìn. Dưới chân tường là một đám trẻ con hải quân đang ngồi, trên đất la liệt sỏi viên và ná cao su, rõ ràng muốn mai phục chúng tôi. Tôi vội nhẹ nhàng tụt xuống, chạy về gọi người. Dọc đường còn lom khom thoắt phải thoắt trái rẽ hình chữ chi, tự thấy mình rất linh hoạt cảnh giác. Nhìn thấy Trương quân đoàn trưởng một mình bắn chim trước nhà 42 lập tức báo cáo. Cậu ta khá nóng nảy, vừa nghe tôi nói liền một mình đi ngay. Vòng một vòng thật xa tránh khỏi tầm quan sát của lỗ châu mai, tìm một góc chết lặng lẽ men theo chân tường tiến lại, nhặt một miếng gạch kê, hai tay vận sức trèo cả người lên tường, nghiêng người giơ cao một cục gạch, ném thẳng xuống phía bên ngoài, nhảy phắt xuống bỏ chạy. Tôi cũng chạy theo sát đít, hình như dừng lại trước nhà 38, chạy vụt lên tầng bốn chui vào ban công mới thở hồng hộc vội vàng nhìn xuống dưới xem sao. Những sự việc tiếp theo thật quái lạ, không hề có rượt đuổi vượt giới tuyến, không loang lổ vết máu, cũng không có tiếng réo gào chửi bới, chỗ kia trống vắng không người, lá cây rì rào như trước, xa xa một chú hải quân vẫn đang lững thững vừa đi vừa đọc báo.
Tôi vẫn cứ tưởng hôm đó đã mục kích một án mạng, tận mắt nhìn thấy một đứa trong đám trẻ hải quân ngồi đó bị ném chết. Hình ảnh như thể đã diễn ra trong thực tế: cục gạch rơi thẳng lên đỉnh đầu nấm ăn loang lổ. Thằng bé đó rất trắng, má trái có nốt ruồi đen, mắt mí đơn mắt mí kép - nghẹo cổ một cái, người đổ ra mắt trợn ngược chết tươi. Sau này thân quen hơn có hỏi chuyện bọn trẻ hải quân, ai cũng bảo không hề có chuyện đó. Tôi còn miêu tả hình dạng người bị hại, bọn họ nghĩ khá lâu bảo không có ai như thế. Nói theo tinh thần bên hải quân thì trẻ con bên tôi thấy chúng nó là cong lưng chạy, làm gì có chuyện dám ra tay.
Vậy thì tôi gặp ma hay sao.
Lúc ấy tôi rất hào hứng cũng rất hoảng hốt, tim đập rào rào như có máy đánh chữ trong lồng ngực. Đứng trên ban công ra sức tưởng tượng công an đến phải bịa chuyện ra sao, giả vờ như không thấy gì hết. Tôi nằm trên giường nghĩ ngợi rất lung, trùm chăn kín đầu, bụng bảo dạ: mình sẽ nói mình ngủ suốt, bây giờ vẫn còn chưa dậy cơ mà.
Một thời gian rất dài tôi cho rằng đây là trải nghiệm của chính bản thân: mình đã cảm nhận giết người trong thời kì Cách mạng văn hóa chỉ công toi.
Về sau trẻ lớn còn phát minh ra “súng xích”. Gỡ vài mắt xích xe đạp làm nòng súng, bắn đầu diêm, bóp cò lập tức phát nổ. Một tiếng súng, một làn khói khét, cho người ta cảm giác càng giống súng thật, về sau nữa phát triển thành súng bắn đinh thép, đứng cách xa hơn năm bước, súng nổ là đổ máu. Thời kì đầu rộ lên đánh hội đồng, còn thấy có trẻ lớn dùng súng này, địa điểm trên sườn đồi ở hồ Bát Nhất.
Hình như chúng tôi rất hay lẻn ra khỏi doanh trại vào buổi trưa, theo chân bọn trẻ lớn đi bơi ở hồ Bát Nhất.
Phương Thương Thương và Phương Siêu khoác phao bơi lên vai, rón rén mở cửa nhà, khẽ khàng đóng lại, nhẹ nhàng xuống cầu thang. Y như hai thằng ăn trộm.
Hình như mẹ hai anh em trọc đầu ở cửa bên được sự ủy thác của mẹ Thương Thương, giám sát hai anh em không được theo bạn bè đi bơi. Hễ nghe tiếng động liền thò ra nghiêng ngó, biết hai đứa xuống cầu thang liền chạy ra cửa sổ hành lang tầng bốn, chờ hai đứa xuất hiện phía dưới liền gọi về.
Hình như chúng tôi hay trốn dưới ô-văng che mưa ở cửa cầu thang, kiên nhẫn đợi cô Lương bỏ vào nhà, hoặc tìm xuống cầu thang để gọi, khi đó chúng tôi có thể a-la-xô bỏ chạy. Nếu chỉ đứng trên cầu thang gọi, chúng tôi làm bộ câm điếc.
Có lần nghe rõ tiếng cô Lương đóng cửa vào nhà, vừa thò đầu, cô vẫn ở đó, bắt ngay tại trận.
Có lần đã vút thẳng ra dưới tán lá của gốc cây thứ nhất, quay đầu nhìn lên tầng bốn cô Lương đã lại xuất hiện, cầm áo len ra đan, thỉnh thoảng lại nhìn bao quát, không khác gì gác pháo đài.
Tôi và Phương Siêu trở thành chiến sĩ đặc công xuyên qua vòng phong tỏa. Len lỏi lẩn lút qua mỗi góc cây, cho đến khi đã thật xa, mắt nhìn vẫn thấy cô trên cửa sổ nhưng âm thanh bay không tới nữa mới ra đường bước đi, cũng có quay lại nhìn cô hoa tay ra hiệu loằng ngoằng, coi như cô chẳng nói năng ý kiến gì.
Đi hồ Bát Nhất phải qua rất nhiều vườn rau và một làng nhỏ. Cà, đậu mọc sát bên đường không ai ăn trộm, nhưng nhìn thấy cà chua gần chín thì khó kìm được chân tay ngứa ngáy, mồm miệng thòm thèm. Trẻ lớn bèn giúp chúng tôi rèn luyện lòng dũng cảm, thị phạm trước cách ăn trộm cà chua như thế nào.
Nông dân trông ruộng phát hiện ra, xách xẻng rượt theo, thả chó cắn, bắt được thi đập cho thừa sống thiếu chết, còn phạt quỳ. Một lần đã thấy Trương Ninh Sinh, Trương Yến Sinh, Cao Tấn, Cao Dương quỳ một hàng trên bờ ruộng, lớn tiếng đọc thuộc lòng Mao tuyển: Tất cả những thứ phản động, ta không đánh nó không bao giờ đổ…
Trên con đường đất qua làng có không ít trẻ con nông dân dắt chó mai phục, chuyên chặn trẻ đi bơi, cái gì cũng cướp, dùng cành cây bêu chiếc mũ lính cướp được huơ đi huơ lại, miệng lải nhải: huân chương kỉ niệm, huân chương kỉ niệm…
Đi theo bọn trẻ lớn cũng không tránh khỏi tai nạn. Thường là bọn họ xung phong vượt qua rồi, lũ trẻ nhỏ chúng tôi đằng sau bị chặn lại. Cho nên trong túi không được mang theo gì cả, mặc chúng nó soát xét, chó của chúng nó ngửi, liếm, ăn của chúng nó một cú gạt ngã rồi được thả đi. Cảm giác Trung Quốc thời đổ cát cứ liên miên. Trẻ nhà nào cũng “chiếm núi xưng vương” trước cửa nhà mình, muốn đi đâu cũng phải kéo cả hội, gặp người khác phải ra tay trước, chiếm phần chủ động, nếu không người ta cũng trấn của mình, mình ra tay biết đâu người ta lại sợ. Nhất định không bao giờ được thật thà, không được để người ta thấy mình lịch sự văn minh, có tình có lý. Tốt nhất là khiến người ra thấy mình là thổ phỉ lưu manh mất dạy, làm liều, thế là mình an toàn.
Hồ Bát Nhất không phải nước tù đọng, cũng chẳng biết thông ra chỗ nào, có một đoạn dài như khúc sông, hai bờ xây kè đá, rầt nhiều bậc thang đá trắng xuống hẳn dưới mép nước.
Chúng tôi thường bơi ở đoạn sông này. Hai bên triền dốc có lều quây bằng cỏ sậy dùng làm buồng thay quần áo, viết hai chữ to bằng mực đen: Nam và Nữ, không ai trông coi, cũng không cất áo quần được. Thay đồ bơi trong đó xong phải ôm quần áo đi ra, chất đống trên bờ cả lũ cử người trông coi.
Mái buồng thay quần áo nữ bị người nào khoét một lỗ tròn, thường xuyên xảy ra chuyện có người xem trộm phụ nữ thay quần áo. Ban ngày ban mặt, trên triền dốc bỗng rộn lên huyên náo, một mày râu “băng đèo vượt dốc” hối hả lao xuống, một đám phụ nữ cơ thể nửa phần lõa lộ “xuyên hoa vượt liễu” đuổi rát đằng sau. Các mẹ gầm rú phẫn nộ, các chị thẹn thùng phân bua. Cảnh cuối cùng là quân dân nhất tề chặn đứng, đè nghiến kẻ “ngửi trộm hoa” ra đất dần cho nhừ tử.
Cũng có kẻ vượt núi băng ngàn thoát hiểm thành công, chuyện coi như kết thúc. Không biết về nhà khoái chí cỡ nào.
Có người lại lơ đễnh không nhìn rõ chữ vào nhầm cửa, bị chửi oan. Nhưng cũng đáng đời, ai bảo có mắt mà không chịu nhìn.
Một thằng ở doanh trại chúng tôi khá cao thủ, tên thường gọi “lão béo”, một hôm gục mặt xông vào phòng thay quần áo nữ, bị vỗ mặt một câu chửi: Mất dạy. Đứng nguyên trả miếng: Ai mất dạy, bà mất dạy, bà mất dạy bà mất dạy! Đôi co mãi, bên nữ không chịu nổi thiệt thòi đành bảo: được được được, cậu không mất dạy, cậu đi ra đi đã được không? “Lão béo” rút lui an toàn, tiếng tăm vang dội.
Chúng tôi đều chuẩn bị tinh thần lỡ chân vào đất cấm cứ thế mà xử lí.
Nước không trong lắm, hàm chứa lượng vật chất hữu cơ rất phong phú, quanh quánh, màu sắc, cảm giác đều giống nước rau. Tên gọi kiểu Trung Quốc: Kim Thủy Hà. Sông không sâu, nắng mùa hè chỉ một buổi sáng đủ làm nóng đến nhiệt độ bồn tắm, bước xuống như tắm trong nhà tắm, bơi đi bơi lại người đầm đìa mồ hôi.
Dưới đáy nước có bùn, rong rêu và sò ốc. Cũng có cá nhỏ, thường thấy có người câu cá bên sông, hoặc mặc quần ni lông lội xuống giăng lưới, mò đi mò lại. Một đoạn sông như thế mùa hè nào cũng chết dăm ba đứa trẻ. Có đứa đứng trên kè nhảy lao xuống, cắm đầu vào bùn rút không lên, thế là trồng luôn ở đấy. Gần đây còn có một chiếc cầu trắng, thỉnh thoảng lại thấy mấy đứa không biết chết là gì đứng trên cầu nhảy xuống.
Tôi không biết bơi, ôm cứng cái phao, chân đạp lạch bạch, trôi dạt dập dềnh. Một lần cũng may thoát hiểm. Đang trôi lim dim, phao bơi bỗng xì hơi. Đó là loại phao quân dụng ba khúc, xì hơi một khúc thực ra cũng không sao, nhưng tôi vẫn cuống hết hồn, lại xấu hổ không dám kêu to, chỉ lí nhí kêu với chính mình: cứu với cứu với. Lại còn nghĩ rằng gọi người khác đến cứu rồi thì tự mình không phải đụng đậy gì nữa, thế là trôi dọc theo sông, càng trôi càng xa, mới nhìn thấy cũng khá bản lĩnh.
Đúng lúc đó bố tôi trông thấy, bơi đến túm phao kéo tôi vào bờ, coi như cứu lại được mạng sống.
Hình như còn có một lần sắp tối. Bố tôi cũng ở đó, còn có một số cán bộ trẻ trong phòng. Bơi xong lên bờ, trời đã nhá nhem tối, một chú tên Tất phát hiện trên mặt đất có đồng xu hai hào, cúi xuống nhặt sờ phải một bãi đờm.
Chúng tôi còn tổ chức đi bơi tập thể ở bể Hải quân và Thông tin. Bể của Thông tin bằng đất, nước xanh lục; nước bể Hải quân màu xanh biển, hình như xây gạch men sứ trắng. Trương quân đoàn trưởng và Trương Ninh Sinh bị bọn trẻ Hải quân phát hiện ra. Trương Ninh Sinh bị ném mấy phát ngã oành oạch trên mặt nền trơn tuột, một chân và sau lưng đỏ lừ. Có một đứa trọc lốc khí thế hừng hực giơ dao găm đòi đâm Trương quân đoàn trưởng, may có chú Tất dẫn đoàn cản lại. Dù sao bọn họ cũng không tìm cách gây sự với lũ trẻ nhỏ chúng tôi đang ngồi bên miệng bể dùng chân khoắng nước một cách ngây thơ, non nớt. Trong số bọn họ có những tay bơi rất cừ, biết bơi trườn sấp, vùng vẫy hết bơi lại lặn, trồi lên nhắm mắt há mồm thở phì phò.
Hình như chúng tôi còn theo đám trẻ lớn đi hái trộm hồng trong vườn nhà Tô Chấn Hoa. Cũng chẳng biết làm cách nào mà lại vượt qua được một không gian mênh mông, đầy thù địch, nguy hiểm bốn bề cùng vô vàn đôi mắt cảnh giác của đám trẻ Hải quân. Ngôi nhà nhỏ không có người ở, lá rụng đầy sân, trông như một căn nhà nhỏ giữa Hương Sơn, tường bao cao tít, bên trên cắm đầy mảnh thủy tinh, như một đám kim cương lấp lánh không thôi. Chúng tôi vừa mới lại gần, trên gác lập tức vang lên một tiếng nói nghe hơi giả như kiểu truyền qua máy tăng âm: Có việc gì. Chúng tôi co cẳng bỏ chạy.
Hình như toàn bộ trẻ con bên chúng tôi đều sang xem biểu diễn trên sân vận động của Hải quân, bỗng nghe thấy bọn trẻ Hải quân bên ngoài đám đông vừa đi vừa hét: Tổng tham mưu trưởng đến, tổng tham mưu trưởng đến.
Trẻ lớn bên tôi liền lần lượt kéo đám trẻ nhỏ, gọi mấy đứa trên cây, thấp giọng nói: Rút, rút nhanh lên.
Chúng tôi chạy thục mạng theo trẻ lớn đến trước chân tường ngăn hai doanh trại mới dừng bước, cả khu vực đó rất tối, không đèn đường. Tập hợp đủ người, đếm số lượng, trẻ lớn bắt đầu nói nhỏ với chúng tôi: Bọn mình đánh chúng nó một tí ở chỗ này, mọi người đi nhặt gạch đá. Thế là tất cả chúng tôi lớn bé đều sục sạo tìm nhặt, sau đó ẩn mình trong bóng tối của tường và cây cối.
Một lát sau, dưới ngọn đèn đầu đường xuất hiện đội hình của bọn trẻ Hải quân, từng hàng quân phục xám lộ ra, lom khom thận trọng tiến lên, miệng đồng thanh ngân nga khúc nhạc trong “Đội du kích đồng bằng”: ti ti ta ti ta…
Đánh! Tiếng một trẻ lớn hô lên. Gạch đá bay ào ào như mưa thiên thạch về phía ngọn đèn, văng tung tóe trên mặt đường. Đám trẻ Hải quân nháo nhác: đứa thì trượt oạch một cái ê ẩm, đứa loạng choạng giơ hai tay ngã còng queo ra đất, đứa rúm người hai tay ôm đầu, đứa nằm ngay đơ không nhúc nhích, có đứa chạy tuột cả quần hai chân vẫn guồng như lắp động cơ. Trong chớp mắt đã không còn một ai, trên đất la liệt gạch đá.
Xông lên… Tiểu đội một sang trái, tiểu đội hai sang phải, tiểu đội ba theo tôi. Tôi vừa ném vừa hét, tưởng tượng mình đang đêm tập kích Mã Gia Hà Tử. Một sức mạnh từ đâu xuất hiện, oạch một riếng, bả vai, cùi tay, cổ tay đồng loạt gây tiếng động, cảm giác như gãy rời, anh dũng bị thương.
Hét gì mà hét - khuỷu chân tôi bị Trương quân đoàn trưởng đạp trúng, khuỵu thẳng xuống đất, bại lộ tung tích.
Đá gạch bên kia ào ào bay sang, từng đám từng đám như bầy dơi, trong đêm tôi nghe rõ tiếng rít vù vù. Cũng khá sợ, phải liên tục tránh phải né trái, một lũ người như đang lần mò tập đánh ten-nít trong bóng tối.
Tôi ôm tay chạy lùi lại, lòng oán hận: đánh trận còn bắt nạt người ta.
Đám trẻ lớn dồn cứng một cục trước cánh cổng nhỏ dẫn sang doanh trại chúng tôi, tình hình rất “nóng bỏng”, vai sát vai, tay ngoắc tay, ngực áp sát lưng người phía trước, giày dép đều bị đạp tuột gót, lê lê lết lết như vừa mới xuống khỏi giường. Trong khoảng vài giây đồng hồ, không một ai có thể lọt qua bên kia cổng, chục con người như một chồng sách lớn kẹt dính trước khung cửa, đều chỉ thò ra được một phần nhỏ của cơ thể: một bàn tay quờ quạng chới với, một cẳng chân giẫm đạp giày xéo, nửa cái mặt bị đè dẹp lép. Những giây đó dài làm sao.
Hình như nhà nào cũng mua quả hồng, đỏ rực rỡ, xếp thành chồng hai ba tầng trên cửa sổ gian bếp và nhà vệ sinh, trông xa như thắp thêm mấy cây nến đỏ. Chúng tôi cầm đoạn dây thép dài, đi dọc theo từng cửa sổ, qua mỗi ô cửa lại dùng dây thép luồn qua khung lưới chọc lỗ trên các quả hồng, vỏ hồng khá dai, cầm cự một tí mới xuyên được vào. Chưa đến mùa đông chỗ hồng này đều rữa nát. Nhà nào cũng vội vàng thanh toán, mồm miệng hai tay ướt nhệu nhạo, sờ vào đâu cũng dính dính.
Có lúc dùng tay vỗ lên khung lưới, hàng quả trên cùng không đứng vững, lộp bộp lăn xuống đất, nghe một tiếng hét vang lên, vội vàng bỏ chạy.
Đêm khuya yên tĩnh, đi qua ban công nhà tầng một, chậu hoa xếp hàng trên mặt lan can rộng rãi, cũng ngửi thấy hương thơm thoang thoảng, thuận tay bê từng chậu lên, ném tan tành trên mặt đất. Trong nhà người lớn đang ngủ bật đèn dậy, trong đêm vắng ngoác mồm chửi mắng, tận đến khi nằm vào trong chăn tiếng chửi vẫn chưa thôi vọng đến, cảm thấy vô cùng mãn nguvện, yên tâm nhắm mắt đi ngủ.
Tiếp tục trèo cửa sổ vào nhà tắm dội nước lạnh, bắt đầu thấy rét. Dòng nước xòa xuống, rùng hết cả mình, gai ốc sởn lên khắp nơi. Hễ lạnh nước tiểu lập tức nhiều lên, nhìn thấy phích nước nóng của ông già trông nhà tắm đang để trên ghế, bỏ nút phích ra, cầm con “cò” đang lạnh rúm lại còn một mẩu hướng thẳng vào miệng phích, “thêm nước” cho ông già. Trong bình phát ra tiếng nước róc rách nho nhỏ, tựa như một chiếc còi, vừa kêu vừa bò dần lên, đầy rồi lập tức ngậm miệng. Tưởng tượng ông già mặt mày phúc hậu, vừa trò chuyện với người vào tắm vừa pha trà, cầm bình trà uống một phát vào bụng, hấp háy mắt: mùi gì thế nhỉ? Buồn cười không nhịn được. Hễ nghĩ đến lại buồn cười, ăn cơm uống nước đều có thể bật cười thành tiếng.
Một hôm trời chiều, đi nhà ăn tập thể còn nhìn thấy anh lớn của Trương Ninh Sinh - “ông chủ” Trương - và Hoàng Bảo Ninh, Hoàng Thu Ninh, một đám trẻ lớn đứng trước nhà 23 dùng đá ném vào chiếc bình ô-xy. Đá chọi vào thép nghe choang choang.
Ăn xong cơm về nhà, đang còn ngồi trên giường thở bỗng nghe một tiếng nổ lớn, kính cửa sổ rung lên, vội chạy ra ban công nhìn ngó, ngỡ một cột lửa sáng bốc lên trời trong ánh chiều tà. Rất nhiều người nhà dưới chạy vội về phía lầu 23, vừa chạy vừa gào: Nổ chết người rồi.
Chạy đến nơi nắng đã tắt hẳn, trời lập tức tối sầm như đang nửa đêm, không biết từ đâu rọi tới một chùm sáng đèn pha, chiếu lên đống đổ nát. “Ông chủ” Trương nằm trên đống gạch đá, mặt sạch sẽ, cổ be bét máu thịt, thủng một lỗ rất to. Phạm vi rộng lớn đó dường như vượt quá khả năng hứng chịu của một cái cổ người.
Trẻ con người lớn cả doanh trại đều tập trung đến xem, toàn người là người, một rừng chân, không ai nói gì, không ai cấp cứu. Cậu bé kia nằm trơ trọi trên mặt đất, dưới mình là đám gạch vụn, trông có vẻ thoải mái. Quên mất tên thật của cậu ta. Nhiều năm sau, gia đình vẫn giấu kín chuyện với bà nội cậu, chỉ nói thằng bé đi chỗ khác. Trẻ con trong doanh trại được bà bắt chuyện đều giữ một thái độ cảnh giác thận trọng.
Một sớm tỉnh dậy, trời u ám nặng nề, hình như có gì đó động đậy, rất nhiều vật nhỏ li ti, định thân nhìn kĩ, bông tuyết đang múa hân hoan.
❀ ❀ ❀
[1] Thập khánh là kỷ niệm mười năm nước CHND Trung Hoa ra đời (1949 - 1959).
[2] Nghĩa: thằng oắt mất dạy, chữ “tiểu” thường biểu thị sự coi thường, khinh miệt khi dung để chỉ người - ND.
[3] Một trong các hoạt động của hồng vệ binh thời kì Cách mạng văn hóa: kéo về Bắc Kinh để gặp gỡ Mao Trạch Đông - ND.
[4] Có nhiều nguyên mẫu của hình tượng này, trong đó có Triệu Hồng Văn Quốc (1881 - 1950), người dân tộc Mãn, ở Liêu Ninh (Triệu là họ bên chồng), nổi tiếng trong chiến tranh chống Nhật, phát triển chiến tranh du kích, sau về phe Tưởng Giới Thạch chống đảng Cộng sản - ND.