Trông Lên Rất Đẹp

Lượt đọc: 21 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Năm

❊ ❊ ❊

Chương Năm

Người thấp nên trời có vẻ cao hơn; trời nắng quang, mây bốc hơi hết cả. Lá phong trên đường Thúy Vy đã chuyển màu rượu đỏ, hái xuống gắn lên mũ giống chiếc huy hiệu; những ngọn cây dương phơi nắng suốt mùa hè, như đang khoác bộ quân phục màu vàng; cây vu cây hoài vẫn xanh lục, có điều xanh lục một cách mệt mỏi, giữa trưa mà cảm thấy rất ủ dột, lá cây ẻo lả, không có gió vẫn lả tả nối nhau rụng xuống, chẳng giống cây liễu, mỏng manh như vẫn thế, bình thường cũng hay uốn lượn đung đưa.

Trời đẹp, cô nuôi dẫn chúng tôi ra phố xem xe cộ. Ra khỏi cổng phía tây của doanh trại, đi dọc đường Thúy Vy đến tận đầu đường Phục Hưng. Bọn trẻ phải nắm tay nhau, trông xa như một đàn kiến đi trên dây. Đi trên đường Phục Hưng, lũ trẻ xếp thành hai hàng, quay mặt ra đường như tập hợp xướng, cả lũ nghển cổ ngóng xe. Mỗi chiếc chạy qua, cả lớp vỗ tay reo: xe ô tô, xe ô tô, ô tô.

Rất nhiều năm trước, cảnh vật phố phường của “Bắc Kinh mới” vẫn đậm đà chất ngoại ô. Bầu trời vẫn chưa bị nhà máy gang thép Thủ đô và lò thiêu Bát Bảo Sơn làm cho ô nhiễm. Cũng không thịnh vượng gì, không có những tòa nhà thô thiển và những hàng quán bẩn thỉu. Đường Phục Hưng chỉ là con đường nhỏ với bốn làn xe, hai bên đường cây cối um tùm, có dải cây bụi xanh rộng lớn ngăn tách phân đường dành cho xe cơ giới. Người đi xe đạp và đi bộ có thể tận hưởng bóng mát cây xanh suốt con đường. Đâu đâu cũng thấy vườn rau, vườn quả, thấy núi xa và dòng nước lượn lờ. Phần lớn công trình kiến trúc đều ẩn mình sâu phía sau những bức tường và hầu như chỉ cao hai đến bốn tầng, giữa một màu xanh ôm ấp êm đềm, lộ ra những mái ngói nhấp nhô đều đặn. Duy có Bảo tàng quân sự với tháp nhọn có ngôi sao vàng lấp lánh và tòa nhà chỉ huy Hải quân với mái dốc màu vàng là nổi bật hơn cả.

Đường rất vắng, chẳng có mấy người qua lại, xe cũng rất ít. Bọn trẻ chờ mỏi mắt mới thấy một chiếc xe tải quân sự. Nếu gặp được chiếc Vôn-ga với hình con hươu trước mui thì chẳng khác nào tìm thấy báu vật, tiếng hoan hô cũng vang mãi không ngớt: ô tô con, ô tô con, ô tô con.

Lần này quả là bõ công đi lại.

Tôi lẫn lộn ô tô con với “tô con”, cứ ngỡ hai từ này cùng gốc. Xe nhỏ là tô con chứ không phải tô to. Khó hiểu là vì sao các ông sếp to lại chỉ thích tô con.

Đi lại nhiều lần, bắt đầu hiểu sơ sơ phương hướng và phần nào bộ mặt quê hương. Phía đông là thành Bắc Kinh, có nhà ga, Tây Đơn và Mộc Tê Địa. Nếu cứ giữa đường mà đi, sẽ đến được Thiên An Môn, Mao Chủ Tịch đang ở đó. Trong nhà treo đèn lồng đỏ. Mỗi dịp lễ tết lại xuất hiện cho mọi người gặp mặt, còn bình thường thì treo ảnh ở ngoài cho ai thấy nhớ có thể ghé qua ngắm.

Sát cạnh doanh trại của chúng tôi là khu doanh trại Hải quân. To đần to đại. Tường rào bao gần một nửa khu nhà chúng tôi, kéo dài đến tận bãi tập trung xe buýt tuyến Bát Nhất ở Mộ Công Chúa. Xa hơn nữa về phía đông nghe nói là chỗ Không quân. Máy bay chiến đấu cả nước đều cất cánh từ đó để bảo vệ Trung ương Đảng. Có lúc chẳng hiểu sao một âm thanh rất lớn bỗng vọng tới, lũ trẻ đều biết là không quân đang đánh bom. Quá nửa số bọn trẻ đã nhìn thấy máy bay đỗ dưới đất. Ngày Chủ nhật, tất cả máy bay đều thuộc quản lí của Bảo tàng Quân sự, chỉ cần mua vé là vào xem được.

Phía tây, bên kia đường Thúy Vy là bộ đội thông tin, có rất nhiều máy điện báo ở đó. Bọn trẻ con của vườn trẻ bên đấy cũng rất hay nối đuôi nhau ra ngoài, đi theo tường rào khu chúng tôi ra đường Phục Hưng xem ô tô, hai vườn trẻ chúng tôi “đường ai nấy đi”, không ai động đến ai. Đi tiếp về phía tây, từng cánh cổng kế tiếp nhau đều là của Lục quân. Muốn biết Lục quân có bao nhiêu binh chủng thì cứ việc tuần tự đếm cổng. Cuối cùng là Bệnh viện 301, chỉ toàn là phòng bệnh. Nghe nói phía tây bệnh viện vẫn là đất Lục quân, nhưng lũ trẻ trong lớp tôi ở xa nhất cũng chỉ là Bệnh viện 301 mà thôi. Tiếp tục đi về phía tây có gì thì chẳng ai rõ nữa. Lục quân đông đảo, thanh thế rất lớn, khiến lũ trẻ con em Lục quân chúng tôi hết sức tự hào.

Khu nhà của chúng tôi mang biển “số 29”. Đó là con số gắn trên cổng phía bắc, mở ra đường Phục Hưng. Nhiều lúc chúng tôi đi tắt qua cổng bắc về cho gần, ngang qua hai chữ số to đùng đỏ rực, nhìn một lần là nhớ như in. Cổng bắc cũng là cổng chính, có ba-ri-e và chiến sĩ gác cổng rất nghiêm ngặt, lúc nào cũng đeo súng bên hông, người ra vào phải mặc quân phục, trình thẻ ra vào. Trẻ con và gia quyến không được đi cổng này. Các cô vườn trẻ có quen vài chú lính gác, còn lũ trẻ chúng tôi, chẳng gì cũng là đội ngũ đang hành quân, nên đôi khi chỉ huy tốp lính gác vẫy tay bằng lòng cho chúng tôi đi qua. Mấy chú bộ đội đó đều đeo súng thật! Lũ trẻ vừa háo hức vừa sợ hãi những lưỡi lê nhọn hoắt với hai rãnh lõm sâu chạy dọc chĩa ra trước đầu súng, cả lũ mải nhìn ngắm say sưa, đi một quãng xa vẫn cố ngoái đầu lại. Thích nhất là được xem các chiến sĩ thực hiện nghi thức chào, mỗi khi có sĩ quan lãnh đạo đi qua, người đeo súng ngắn lập tức đứng nghiêm, tay kề vành mũ. Lũ trẻ lập tức khoái chí giơ tay lên bắt chước, bước một bước lại đứng nghiêm chào, ai nhìn thì chào người đó. Đội hình trở nên xộc xệch, dãn ra thành một hàng thật dài toàn là những đứa trẻ đang cố nhịn cười và chào liên tục.

Khu nhà làm việc ở cổng bắc có ba khoảnh vườn hoa khá rộng, xếp hình chữ “phẩm”. Những rặng cây bách rậm rạp kết đầy quả màu xám vây bọc các khu vườn, nhìn không rõ chủng loại và hình dáng những cây cảnh trồng bên trong đó. Giữa vườn hoa có một cột cờ, cao chót vót, nếu định đếm xem lá cờ trên cao đó có bao nhiêu ngôi sao vàng, thế nào cũng bị ánh nắng trên trời rọi đau cả mắt. Phía sau mỗi vườn hoa là một tòa nhà bê tông cốt thép màu xám trắng, mặt bè đầu húi cua, béo lùn, chắc chắn. Cửa vào các tòa nhà đều cao và rộng, trước tòa nhà chính còn có mái hiên che mưa cho đường ô tô. Những ô cửa sổ liền kề nhau như nòng súng, toàn làm bằng khung sắt hoặc thép. Phong cách này nếu buộc phải gọi tên, có lẽ chính là “phong cách Xô-viết”. Một kiểu dáng nước Nga nhưng được giản lược đi nhiều: không hề có trang trí, bộc lộ sự kiên cố, mang khí thế của một pháo đài, và có kích thước như một cái kho dự trữ khổng lồ. Các ông bố của bọn trẻ đều làm việc trong những tòa nhà này. Lần nào đi qua cũng sẽ bắt gặp một vài người. Một đứa kêu bố ơi, những đứa khác cũng bắt chước lộn xộn gọi bố ơi. Cửa sổ trên tầng hai sẽ xuất hiện những đầu người thò ra, biết rằng bọn nhóc của vườn trẻ đang đi qua đây.

Ra khỏi khu nhà làm việc, vẫn còn một trạm gác nữa. Bức tường ngăn xây hơi tiết kiệm, gạch xếp khá lung tung, lộ ra vô số hình thù, rất dễ leo qua, có lẽ chỉ nên gọi là một đoạn nữ tường[1].

Bên kia nữ tường là sân vận động, cũng là khu vực trung tâm của khu nhà ở chúng tôi. Trên sân vận động có hai sân bóng rổ, một sân láng xi măng, đèn chiếu sáng, sân kia nền đất; một xà kép, một xà đơn, một hố cát, một tấm cản bằng gỗ và cây cầu độc mộc; phần diện tích lớn nhất là sân bóng đá, hai đầu đông tây đặt hai khung thành không có lưới.

Dọc con đường phía tây sân vận động, qua nhà khánh tiết, câu lạc bộ, nhà tắm, lò hơi, trạm xá, một nhà bếp tập thể với hầm trữ thực phẩm là đến cổng tây.

Con đường phía đông là một dải đường trồng đào ăn trái, đào chín to bằng khuôn mặt trẻ sơ sinh. Những trái đào căng mọng lúc lỉu ẩn hiện sau những chiếc lá hình dao găm. Phía sau dãy đào là một vườn cây ăn quả lớn, lưới thép quây thành một vùng rất nhiều cây táo, cây lê và những giàn nho trĩu quả. Phía nam vườn trái, qua bãi đất trống có một ngôi biệt thự lớn, ở Mỹ chắc phải tới tiền triệu. Trước đây là nhà xây cho một vị tướng, bây giờ dùng làm khu vực cách li bệnh truyền nhiễm của vườn trẻ. Tiếp tục về phía nam hơn trăm mét lại đến một ngôi nhà tướng khác, to hơn, cầu kì hơn. Hàng rào bao quanh, đặt một trạm gác riêng, nếu ở California phải bán được hai triệu đô la. Lũ trẻ đều biết sống trong đó là vị trung tướng hải quân Lý Tác Bằng, người rất nổi tiếng vào mười năm sau, thành viên trong nhóm phản cách mạng Lâm Bưu. Người này để lại trong lòng bọn trẻ những ấn tượng khá sâu sắc. Rất to cao, bụng thẳng ngực ưỡn, đôi kính đen chẳng bao giờ rời khỏi mặt, như một ngôi sao điện ảnh thời nay. Đôi kính đen khiến tôi vô cùng thắc mắc, đó là đạo cụ đặc trưng của những nhân vật phản diện trong phim ảnh. Cán bộ cách mạng cao cấp - Lý tướng quân - đeo đôi kính đó đầy vẻ gian tà.

Ông ta là phó tư lệnh hải quân. Cao Dương biết rất nhiều về ông ấy, bảo chúng tôi ông ta nguyên là phó chỉ huy bên bộ tham mưu chúng tôi, chuyển công tác sang hải quân nhưng nhà không chuyển. Ông ta có một cậu con trai béo mập. Nguyên nhân đeo kính đen suốt ngày là vì trong chiến tranh ông ta bị bọn da trắng bắn bị thương, phải lắp mắt giả.

Phía đông nhà Lý tướng quân là tường rào, có cổng thông sang khu Hải quân. Cánh cổng nhỏ có vệ binh của cả hai bên cử ra canh gác, thêm lính gác của nhà tướng Lý, khiến bọn trẻ cảm thấy chỗ này rất hiểm yếu, binh lính trấn giữ trùng trùng.

Vượt qua lối đi từ đông sang tây là nhà số 38, cũng toàn tướng lĩnh ở đó, một viên trung tướng, vài viên thiếu tướng, một vị đại tá tiền đồ còn thênh thang và một thượng tá già tóc bạc phơ phơ. Vị thượng tá trước kia cũng là tướng lĩnh quân khởi nghĩa Quốc dân Đảng. Con cái ông lúc đó đều đã dựng vợ gả chồng. Cao Dương từng nhìn thấy cháu ngoại của ông già.

Bên cạnh nhà 38 là nhà 42 của tôi. Đó là dãy nhà lớn nhất trong khu. Phần lớn các bạn trong lớp tôi đều ở dãy nhà này. Đi tiếp về phía tây, qua nhà ăn tập thể số 2, góc sâu nhất của khu này có một dãy nhà giống hệt nhà 42 của tôi, gọi là nhà 23. Gia đình Cao Dương, Dương Đan ở đó.

Ngoài ra còn một số nhà trệt và nhà tập thể kiểu hành lang chạy giữa tối om om. Gia đình Vu Sảnh Sảnh ở nhà trệt.

Người ở nhà 38 đều ăn cay. Trong bếp xào nấu, đứng ngoài chỉ ngửi mùi dầu mỡ đã muốn chảy nước mắt.

Nhà 42 và 23 có nhiều người to cao lực lưỡng, bánh bao hay khoai lang đều ăn kèm hành hương, nói năng như đang ngậm mỡ lợn trong mồm. Họ hay đánh con. Trẻ con cũng quen bị đánh. Nghe thấy nhà trên kêu gào như bị giết, lát sau đã thấy người bị hại đi xuống, cười hề hề như không có chuyện gì xảy ra.

Cao Dương nói, nhà 38 là hồng quân. Nhà 42 với 23 là bát lộ quân. Một bên đánh miền nam, một bên đánh miền bắc. Trước khi thành lập Quân giải phóng vốn không cùng một nhà. Cao Dương gì cũng biết. Nhà cậu ta ăn thịt rắn, có lúc đánh bẫy cả mèo. Trong nhà cậu ấy có một bà lão nói gì chẳng ai hiểu.

Các gia đình của bọn trẻ hay ăn những món khác nhau. Ngoài ăn khoai lang - hành hương, còn có húp dấm, có suốt ngày chân mì sợi, có xào nấu nhiều đường, ăn cơm nếp vv… Nhà tôi chuyên ăn mì gạo nấu thịt lợn dưa chua.

Chẳng có nhà nào thích uống nước đậu tương.

Người lớn đều bảo Phương Thương Thương trông dày dặn, khỏe khoắn. Đầu tóc gọt nham nhở, nhìn đằng sau như quả bóng đá; hai đầu gối suốt ngày phải bôi thuốc tím thuốc đỏ, sẹo cũ chưa liền đã có vết thương mới; cổ và gót chân đến mùa đông nẻ chỗ nào cào chỗ đó, như một đám giun đất sống. Thằng bé mọc bảy tám cái răng, thấy cái gì tròn tròn, sáng sáng là nhặt bỏ mồm. Thường xuyên đi ra phân những cúc áo, nút lọ, thỉnh thoảng còn có đồng năm xu. Một lần cô Đường thấy cậu nhét chiếc huy hiệu bộ đội Bát Nhất vào mồm, hốt hoảng dùng tay chọc vào miệng moi thì đã nuốt xuống bụng, còn bị cắn một miếng. Giờ ngủ trưa, hai vị y tá đem ống cao su và một bình nước rửa ruột đến. Hai người nhét ống cao su vào đít thằng bé xong đổ dần bình nước vào trực tràng. Sau đó bắt cậu ngồi bô, nói chuyện chờ một lúc. Nghe một tiếng nước ào ra, tiếp sau là liếng leng keng, y tá đổ huy hiệu vào bồn cầu, giật nước, yên tâm ra về. Suốt buổi chiều cơ thắt hậu môn của thằng bé mất tác dụng, ăn bánh bột hấp thì đi ra mì đòn gánh. Học được một từ mới: súc ruột. Từ đó về sau, nhìn thấy món ăn dân gian đó của Bắc Kinh lập tức quay đầu bỏ đi.

Thằng bé còn học được một từ mới khác: Ba ba quyền. Quyền này không có trong võ thuật truyền thống Trung Hoa, không gọi là “đánh”, hay “múa”, mà là “quay”. Yếu lĩnh của môn này là dùng vai làm trục, hai tay duỗi dài được đến đâu thì duỗi rồi bắt đầu “quay”. Hai tay làm hai bánh xe, quay càng nhanh càng tốt, hình thành một lớp bảo vệ trước mặt, ai xông vào lập tức ăn vô số nắm tay vào người như mưa. Lúc dùng quyền này, tốt nhất vừa “quay” vừa khóc, tác dụng trấn áp đe dọa càng hiệu nghiệm.

Không biết Ba ba quyền cũng không được. Thằng bé không to cao cho lắm, ngày ngày chiến đấu với các bạn cả lớp. Vừa ngủ dậy, còn chưa mặc xong quần áo đã quay mấy vòng Ba ba quyền với Trần Bắc Yến. Trèo xuống đất xong, mấy đứa kia đều đang khoa chân múa tay chỉ đợi cậu đi qua là “quay”. Muốn ra được phòng chơi, bắt buộc phải “quay” suốt chặng đường. Đi vệ sinh cũng phải vừa quay vừa đái, bên cạnh không thể để có người, không cả có tay để cầm. Thời gian chơi trò chơi cũng hầu như không có nữa, chỉ cần cô nuôi vừa hô giải tán, lũ trẻ đã vây lấy Phương Thương Thương mà quay Ba ba quyền. Cũng không nhất định phải đánh trúng, chủ yếu là không cho cậu được nhàn rỗi. Thường là bọn trẻ vây thành một vòng, Phương Thương Thương đơn độc ở giữa, ai quay người nấy, chẳng ai trúng ai, kêu gào đứt đoạn hổn hển. Không khác gì mấy ông thầy khí công ngoại đạo với đám đệ tử nhẹ dạ ồn ào náo động. Cô nuôi cũng chẳng hiểu vì sao bọn trẻ lại về một hùa gây sự với Phương Thương Thương. Hỏi nguyên nhân chẳng có ai trả lời được, đứa nào cũng oan ức bực bội; cô quát mấy câu chẳng đủ để ngăn chặn sự việc, vừa quay lưng lũ trẻ đã lại xúm vào một đám. Để giảm bớt ẩu đả, cô nuôi đành thường xuyên để ý tách Phương Thương Thương ra. Lúc đi bộ, cô dắt cậu đi riêng với mình. Chơi trò tập thể mèo đuổi chuột cũng để cậu đứng một bên xem mà thôi. Nhưng tất cả đều không hề thay đổi được mối quan hệ giữa thằng bé và mọi người.

Bản thân cậu cũng không hiểu tình cảnh này xuất phát từ đâu, chỉ biết ai không chơi với mình là đánh người đó, càng đánh càng nhiều, đánh mãi thành ra quen thói. Thằng bé không xấu hổ, không buồn, không phân vân suy nghĩ, không tủi thân, ngày nào cũng hồ hởi chiến đấu từ khi mở mắt ra đến lúc nhắm mắt lại. Cậu luôn là người dậy sớm nhất, ngủ muộn nhất. Có hôm trong phòng đã tắt đèn, vẫn có mấy thằng con trai đi chân không mò đến gần, thằng bé ở trên giường chiến đấu với mấy đứa dưới đất không biết bao lâu. Khi cả lớp đã ngủ, thằng bé vẫn cảnh giác nằm thao thức.

Quá mệt, trong lòng thằng bé nảy sinh một chút căm hận. Bọn con gái vừa quay Ba ba quyền, cậu liền áp sát, tung ra một đòn đấm thẳng. Đòn này rất hiệu nghiệm, trúng luôn vào mặt, ba ba quyền của đối phương cũng dừng lại. Cứ thế đánh từng đứa một, cả đám con gái ôm mặt ngồi thụp xuống khóc. Lần sau nhìn thấy cậu liền tháo chạy tan tác.

Hạ được đội con gái, thằng bé chuyển sang đội con trai. Trước tiên là tấn công những đứa đi một mình đụng mặt cậu. Bất kể người ta đang uống nước hay đi vệ sinh, chỉ cần có tí tranh giành là xông vào đánh. Cao Dương có lần đang ỉa bị cậu đánh cho suýt tụt xuống lỗ xí. Những đứa hiền lành nhút nhát đều bị cậu thuần phục, vừa được giải tán là ra chơi với đám con gái. Chỉ có bảy tám đứa như Trương Yến Sinh, Uông Nhược Hải cực lì. Ngày nào cũng vây cậu lại để đánh, cũng đau, cũng khóc, nhưng không sao dẹp được. Uông Nhược Hải cũng học được kiểu bất thần đánh thẳng. Thằng bé lần đầu ăn phải một đấm gần như chịu không nổi, nhưng cũng chẳng có cách đầu hàng trong danh dự, đành tiếp tục cầm cự. Cú đấm thẳng thứ hai đau không kịp khóc, đã bị Trương Yến Sinh bồi cho một cú nữa, thằng bé lập tức kết thúc chiến đấu, người mềm nhũn không còn một tí hơi sức. Lần giao tranh thứ hai chỉ toàn những cú đấm thẳng, thằng bé quay mình tháo chạy, bị ngáng một cái, bao nhiêu cái mông đè nghiến trên người, bị cưỡi cho đến giờ ăn cơm trưa. Uông Nhược Hải còn đánh mấy phát rắm trên đầu cậu. Bị cưỡi, bị ăn rắm, lần tiếp theo đụng mặt đám này, thằng bé mất hết ý chí kháng cự, răm rắp tuân lời bọn họ như một tên nô lệ. Uông Nhược Hải hô một tiếng: Vợ giả. Thằng bé lập tức ngoan ngoãn chạy tới trình diện, bảo đứng nghiêm đứng nghiêm, bảo chào là chào. Nghe thấy Uông Nhược Hải quát: giải tên phản bội đến đây, là biết đang nói mình, dù đang làm gì cũng lập tức dừng tay, chờ người đến đem đi. Quỳ gối, trói tay, buộc lên ghế tra tấn, còn bị xử quyết nhiều lần. Nghe tiếng tuyên bố “Tôi đại diện cho nhân dân…” rồi một tiếng súng nổ là phải lập tức gục xuống nền nhà. Súng nổ trước mặt thì ngã ra sau, súng nổ sau lưng thì ngã bò ra trước, nếu trước sau cùng bị bắn thì phải quay người nửa vòng, hai chân khuỵu xuống, gục tại chỗ. Mỗi phát súng đều có quy định, phải tuân theo, không được tự ý làm bậy. Súng nổ ôm ngực là động tác bị nghiêm cấm vì chỉ dành cho chiến sĩ cách mạng, bọn phản bội không được phép dùng.

Phương Thương Thương mỗi ngày bị bắn vài lần, chết rất bài bản, thuần thục, càng sở trường chết dưới mưa đạn: co bên trái, giật bên phải, xoay xoay mấy vòng vẫn chưa gục xuống - mặt ngước lên trời, miệng há to, cả người từ từ đổ xuống, hai mắt lần lượt trợn trừng. Người ngã ra đất vẫn chưa xong: lưỡi thè lè ra, giãy chân, quằn quại một hồi mới nhắm mắt. Cách chết của cậu khiến rất nhiều đứa trong vườn trẻ khâm phục, thi nhau bắt chước. Bọn Uông Nhược Hải nhìn thấy cũng rất khoái, tranh nhau làm phản bội, bắt Phương Thương Thương lần lượt bắn. Đứa nào đứa nấy hai mắt thất thần, đổ nghiêng đổ ngả, lăn đùng ra đất. Phút chốc, vườn trẻ toàn tiếng súng nổ, người chết ngổn ngang. Phong trào đóng giả phản bội, bị xử bắn, chết mắt trợn ngược, bỗng rộ lên khắp vườn trẻ.

Làm lính cho người ta, dù phải chịu đựng nhiều thứ, nhưng tôi cảm thấy sự yên tâm khi ở trong một tập thể, không hoang mang như khi “đơn độc hành tẩu giang hồ”. Vị trí được chỉ định rõ ràng, cũng chẳng phải băn khoăn gì về tương lai nữa. Tôi cõng Uông Nhược Hải hoặc Trương Yến Sinh đi trong sân, một lòng chỉ nghĩ làm thế nào cho giống một con ngựa tốt. Chân bước thế nào cho thật thẳng, khi cành liễu quật vào mông phải làm sao tăng tốc độ lên thật nhanh, nghe hô dừng phải chúi đầu sao cho thấp. Mà không phải ai cũng làm được như thế. Chẳng hạn người chỉ đứng trên hai chân, tay còn phải ôm lấy chân người trên lưng mình, động tác dựng hai vó trước thể hiện phong thái tuyệt vời của kị sĩ thì lây đâu ra vó trước mà thực hiện? Vậy là phải bịa ra, mượn động tác Kim kê độc lập trong tuồng, nhấc một chân lên làm vó ngựa, chân kia đạp mạnh ra sau, khả năng giữ thăng bằng trong tình huống này không phải là ai cũng đạt được. Mấy năm sau, lần đầu đọc “Dùng mưu đánh hổ”, Đồng Tường Linh lên núi, ngựa gặp hổ kinh hãi dựng người, mấy đứa chúng tôi đều ôm bụng cười, cảm thấy hình ảnh đó quá quen thuộc.

Một chuyện nữa là cưỡi ngựa đánh nhau, hay gọi là kị binh giáp lá cà. Cốt lõi là ngựa nào cõng khỏe, chân vững. Ngựa không được chở chủ nhân vào giữa cuộc chiến rồi đứng đực ra một chỗ. Phải hết sức cơ động, tả xung hữu đột. Thứ nhất phải che chắn hai bên, đề phòng tập kích từ sau; thứ hai phải tập kích người khác từ phía sau hoặc từ hai bên. Quân địch phải ở trong phạm vi bán kính phía trước mặt ngựa và kị sĩ. Khi giáp trận, kị sĩ hai tay toàn lực “nồi da nấu thịt”, thân mình phải nhờ có ngựa giữ sao cho vững. Ngựa phải liên tục đỡ mông kị sĩ, xốc lên cho cao. Người càng cao, ngồi càng vững, ưu thế chiến đấu càng lớn. Một khi người sắp bị địch đẩy ngã, ngựa phải kịp thới lui ra ngoài vòng chiến, xốc lại tư thế vào đánh tiếp. Lấy đâu ra mệnh lệnh kịp thời, toàn phải nhờ vào sự tự giác của ngựa. Cho nên, không có ngựa tốt thì hai chữ “chiến thắng” đối với kị sĩ có giỏi đến mấy cũng chỉ là lời nói suông. Ngựa tốt còn biết chủ động tham chiến, tấn công ngựa của đối phương. Thông thường, đứa nào không có cơ thể chắc khỏe, cao lớn, có đầu óc chiến thuật, thì muốn làm ngựa cũng chẳng ai dùng. Khi chiến thắng, vinh quang lớn nhất thuộc về ngựa.

Bao nhiêu là người tranh nhau cưỡi tôi. Tôi cảm thấy mình vô cùng ưu tú.

Có một lần, anh trai tôi nhìn thấy tôi đang chở Uông Nhược Hải, dùng miệng phối âm “cà rộc… cà rộc…” theo tiếng vó phi, lập tức anh lôi tuột cậu ta xuống định tẩn cho một trận. Tôi phải nói khó cho Uông Nhược Hải, bảo là tôi muốn được cưỡi như thế.

Không phải tôi không có ngựa. Uông Nhược Hải cưỡi tôi xong, tôi cưỡi Cao Dương. Cao Dương khá cao, là một con ngựa tốt. Nhưng cậu ta không muốn cho tôi cưỡi, lúc đánh trận không ra sức, người khác vừa kéo cậu ta đã buông tay, tôi lăn tòm xuống đất. Tôi đã cưỡi tất cả ngựa trong vườn trẻ, không có ai ưng ý. Có lúc nguy cấp, kéo vội một bạn làm ngựa để tham chiến, chưa được mấy bước cả người lẫn ngựa đã sụm xuống.

Một trong các trò ưa thích của Uông Nhược Hải là phá đám bọn con gái. Là tôi tớ của cậu ta, bản thân tôi không thể chối từ. Lũ con gái vừa mới bày xong trò chơi gia đình, nào nồi nào bát nào xoong, Uông Nhược Hải đã dẫn một lũ mũ áo xộc xệch chúng tôi kéo sang, đá tung cánh cửa tưởng tượng, phùng mang trợn mắt, xẵng giọng quát người ta đã nộp tiền tô hay chưa, trong nhà có giấu quân Bát Lộ không. Uông Nhược Hải thích Dương Đan, lần nào cũng bảo cô ấy là Bát Lộ, ra lệnh chúng tôi bắt đi, vừa ôm người ta là thơm. Dương Đan nhìn thấy cậu ta là bỏ chạy. Chúng tôi đuổi theo. Dương Đan chạy rất nhanh, thoắt cái đã chạy ra bên cạnh cô nuôi. Tôi không đụng vào được cô ta, quay sang đi bắt Trần Bắc Yến. Cô bé vừa để được hai bím tóc nhỏ, chuyên bị túm lấy, chạy lại không nhanh, chỉ vài bước là tôi bắt được. Cô bé đành ngoan ngoãn chịu trận.

Tôi túm lấy hai bím tóc của Trần Bắc Yến như là dây cương ngựa, đẩy cô bé đến trước mặt Uông Nhược Hải, nghiêm người chào: Báo cáo chỉ huy, quân Bát Lộ trốn rồi, bắt được một đứa đưa thư.

Đem thiêu. Uông Nhược Hải hai tay cầm gậy chọc chọc, mông vểnh lên ra dáng chỉ huy tiểu đội quân Bảo hoàng.

Tôi bắt Trần Bắc Yến đứng sát vào cây hoài to nhất, bẻ ngoặt hai cánh tay ra sau ôm lấy thân cây, bản thân tôi đứng sau giữ chặt. Trương Yến Sinh và mấy đứa đứng trước mặt, giả vờ đốt một đám lửa to đùng, bắt chước ngọn lửa, thổi phù phù vào mặt cô bé. Trần Bắc Yến trợn mắt sợ hãi, không nói câu nào, tóc dựng đứng cả lên.

“Ba-ca-a-lu[2]! Dùng ghế tra tấn.” Uông Nhược Hải lại quát.

Bọn chúng tôi lại hì hụi đi khiêng gạch về, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Bắt Trần Bắc Yến ngồi bệt xuống, lưng dựa sát thân cây, lần lượt nhét từng viên gạch xuống dưới chân cô bé. Riêng tôi nếu kê ba viên gạch đầu gối đã đau ê ẩm, Trần Bắc Yến bị lèn bốn viên vẫn không sao. Trong bồn hoa chỉ có vài viên gạch, mấy đứa bên lớp nhỡ đã dùng mất một ít, chúng tôi hết cái để kê. Tôi cầm chân Trần Bắc Yến kéo lên cao, cô bé rất mềm, xem ra còn dư giả lắm.

Xem chân nó có chạm được trán không. Uông Nhược Hải bảo.

Tôi và Trương Yến Sinh mỗi thằng cầm một chân, ra sức đẩy lên cao. Trần Bắc Yến vốn ngồi dựa vào gốc cây, giờ tuột nằm ra đất, đầu đập xuống nền khóc òa lên. Chúng tôi vội vã buông chân cô bé, bỏ trốn biệt tăm.

Chiều hôm sau, tôi chơi dưới mấy cây dương, nhặt được một cọng cỏ gà vừa to vừa bóng, dùng nó có thể giật đứt tất cả gà của bọn Uông Nhược Hải. Đang khoái chí, Trần Nam Yến xông đến huých tôi ngã nhào. Tôi vừa dợm đứng lên, cô lại xô tôi một nhát lăn quay. Môi cô mím chặt, hai mắt sáng quắc như có đèn, khuôn mặt trắng trẻo chuyển sang đỏ lựng. Cô không để tôi kịp đứng lên, hễ dợm người lập tức dúi tôi xuống, mỗi lần đều khiến tôi nghĩ cô muốn xô tôi chết.

Em làm gì chị đâu? Tôi co quắp trên đất, miệng la lối.

Mày làm rồi đấy! Cô nhìn tôi trừng trừng, nghiến răng nói. Sau lưng cô còn có mấy chị lớp lớn đang tóm gáy Uông Nhược Hải và Trương Yến Sinh, miệng quát: Có chúng mày không, chúng mày có không?

Hai thằng vừa khóc vừa giãy giụa: Thả em ra thả em ra.

Anh trai Trương Yến Sinh, Trương Ninh Sinh dẫn một đám con trai lớp lớn xông vào, đẩy mấy cô gái: Làm gì đấy, làm gì đấy? Bắt nạt em tôi làm gì?

Đám mấy anh mấy chị liền tranh cãi om xòm, chẳng còn nghe thấy gì nữa. Chỉ thấy cái giọng sắc lanh lảnh của Dương Đồng, chị Dương Đan: Vớ vẩn vớ vẩn.

Khi anh tôi chạy đến, cô Đường cũng đã đến nơi, hỏi Trần Nam Yến chuyện thế nào, tại sao lại bắt nạt các em lớp nhỡ.

Bấy giờ Trần Nam Yến mới nói: Bạn kia bắt nạt em cháu trước. Không phải một lần, mà suốt ngày.

Cô Đường gọi Trần Bắc Yến vào giữa vòng người, chỉ vào tôi hỏi: Bạn ấy bắt nạt cháu như thế nào?

Trần Bắc Yến có người che chở, tiếng nói cũng mạnh mẽ hơn: Bạn túm tóc cháu, trói cháu vào gốc cây, dùng lửa đốt, còn kéo chân cháu…

Cô Đường chậc lưỡi, gí trán tôi: Cậu này, một ngày không gây chuyện là cậu chịu không nổi hả. Suốt ngày bắt nạt con gái, bực mình quá đi mất. Nhưng cũng không được đánh người khác. Trần Nam Yến, cô phải thông báo cho cô nuôi lớp cháu, thứ Bảy báo cáo phụ huynh. Con gái mà lại hung hãn thế à. Tất cả về đi, chuyện này để cô xử lý.

Đi, về lớp. Cô Đường lôi tôi đi, dọc đường thuận tay xách luôn Uông Nhược Hải và Trương Yến Sinh.

Ba đứa này là những con sâu làm rầu nồi canh. Cậu này, chính là đầu sỏ. Cô Đường gí trán Uông Nhược Hải.

Cậu này, là quân lâu la. Cô gí trán Trương Yến Sinh.

Còn cậu, hư nhất, quân sư quạt mo. Mọi mưu đồ đen tối đều do cậu bày ra. Cô Đường gí vào trán vừa lúc tôi cúi thấp đầu xuống. Cốc một tiếng, trán tôi ửng lên một vết đỏ.

Còn hư nữa à! Cô Đường rút roi gõ lên đỉnh đầu tôi. Cậu trợn mắt lên với ai đấy, thử trợn thêm một lần xem nào, muốn ăn roi hả. Bố cậu không biết dạy dỗ cậu, cho nên cậu thành ra hư hỏng. Họ mà còn chiều cậu nữa, thì cứ việc đợi lớn lên cho công an bắt.

Cô Đường dẫn Trần Bắc Yến vào, chải lại tóc cho cô bé, để tay lên vai, nói: Cháu cũng hiền lành quá cơ, bị bắt nạt cũng không biết kêu. Cháu càng thế lũ hư hỏng kia càng bắt nạt. Lần sau ai gây sự lập tức báo cho cô.

Trần Bắc Yến rụt rè gật đầu.

Bây giờ, cả ba bạn bước lại xin lỗi Trần Bắc Yến đi. Bắt đầu từ Uông Nhược Hải.

Mình sai rồi, lần sau không thế nữa.

Phải nói xin lỗi bạn, bố mẹ không dạy các cháu hay sao hả?

Xin lỗi bạn.

Trương Yến Sinh.

Mình sai rồi, lần sau không thế nữa, xin lỗi bạn.

Phương Thương Thương.

……

Phương Thương Thương. Cô Đường chọc roi vào vai tôi, hết bên phải lại bên trái, mạnh tới mức khiến thân hình tôi vặn vẹo như đang làm nũng.

Cô nuôi đang đợi cháu đây này, cô nuôi không kiên nhẫn được nữa đâu nhé, cháu muốn cô mời bố mẹ đến làm việc phải không hả?

Roi của cô nuôi chọc vào vai tôi đau điếng, tôi nghiến răng: “Kẹo đường.”

Mày nói gì! “Kẹo đường” như nổ tung, sấn tới vừa dúi vừa đẩy, đầu tôi đập kịch vào bức tường xi măng sau lưng. Tôi buột miệng chửi: “Đ. mẹ mày!”

Lần này ngọn roi của “Kẹo đường” chắc chắn là nhắm thẳng vào tôi. Tiếng gió rít lên sợt qua đỉnh đầu - tôi vừa rụt cổ xuống theo bản năng. Làn roi thứ hai vung lên, tôi đã chui tọt qua gầm bàn, đứng phía mép bên kia.

Mày dám chửi mẹ cô hả. Cô xé mồm mày ra.

Mắt cô Đường đỏ hoe, xách roi đuổi tôi chạy quanh bàn như phát điên. Hễ cô sắp đuổi kịp, tôi liền chui qua gầm bàn sang phía bên kia. Tôi cũng hồn bay phách lạc, không dám chạy ra xa, cũng không dám chửi nữa, cứ thế chui qua chui lại dưới gầm bàn. Tôi không hiểu tại sao cô Đường không trèo lên mặt bàn. Cái bàn dành cho trẻ con, rất thấp. Cô nhấc chân một cái là có thể đứng lên trên và tóm tôi hay đánh tôi đều dễ như trở bàn tay. Có thể là thói quen đã ảnh hưởng đến cô, hoặc đang lúc uất giận đầu óc rỗng không chỉ còn một suy nghĩ, đó là: trả thù.

Cô Lý bỏ tóc xõa, bê chậu rửa mặt đi vào. Cô mới tắm xong, rất sạch sẽ, mặt mũi hồng hào, cũng có đôi phần duyên dáng. Làm sao thế - cô hỏi bằng một giọng vui vẻ.

Nó - cô Đường chỉ tôi, nước mắt lập tức tuôn ra, cô hét lên - chửi em.

Chửi cô cái gì? Cô Lý đặt chậu xuống, dùng dây chun buộc lại tóc, thắt chặt thắt lưng.

Nó chửi… mẹ em.

Đã biết thế nào cô Lý cũng nhúng tay vào, nên quan sát trước phương hướng. Khi cô vừa đặt một chân lên bàn, chân kia còn lơ lửng, người hiên ngang cao lớn như Lô Thịnh Giáo[3], xòe tay chuẩn bị để chụp xuống, tôi đã chạy tuốt vào nhà vệ sinh, xoay mình chốt gọn cánh cửa từ bên trong.

Mười ngón tay nhọn hoắt những móng và ghét của cô như hai cái bàn cào để lại dấu ấn không phai mờ trong tim tôi.

Ngoài kia Uông Nhược Hải đang khóc. Trong tích tắc sập cánh cửa lại, tôi nhìn thấy cậu bị cô Lý mất thăng bằng huơ tay gạt ngã.

Giọng nói uy nghiêm của cô Lý vang lên ngay sát tôi: Bên trong có bạn nào, hãy mở cửa cho cô nuôi.

Tôi thận trọng bước trên nền gạch men trơn láng vừa lau chùi xong, chuồn theo cửa sau ra bên ngoài.

Bác chủ nhiệm già đang chắp tay sau lưng, giẫm chân tại chỗ trong bóng chiều, miệng xuýt xoa. Nhìn thấy tôi, bác nheo mắt cười: Chơi trốn tìm à?

Khi cô Lý cô Đường dắt theo một đám trẻ đi vòng qua ngôi nhà đến nơi, tôi đã sắp bước ra khỏi cổng vườn trẻ.

Quay lại.

Cô Lý cao giọng.

Không! Tôi cũng vừa mếu máo vừa ra sức gào to: Cháu không quay lại nữa, mọi người đều ăn hiếp cháu.

Cô Lý bắt đầu chạy.

Tôi cũng bắt đầu chạy.

Tiếng còi tan tầm vang lên. Từ phía Hải quân, Thông tin đều phát ra tiếng còi vang dội. Tiếng còi dài bay khắp bầu trời cao rộng.

❀ ❀ ❀

[1] Nữ tường: hay còn gọi tường con gái, chỉ tường lửng, không quá cao, thường xây bao quanh một không gian nào đó, chủ yếu để ngăn giao thông, còn tầm mắt thì không bị ảnh hưởng.

[2] Nguyên văn tiếng Nhật: bakayaro, nghĩa là “đồ ngu”. (Tiếng chửi thường dùng của lính Nhật Bản xâm lược Trung Quốc) - ND.

[3] Lô Thịnh Giáo (1931 - 1952): Tấm gương anh hùng quân tình nguyện nhân dân Trung Quốc - ND.

Dịch giả: Nguyễn Xuân Nhật
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Vương Sóc

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.