Chương Một
Trần Nam Yến bước vào cuộc sống của tôi từ rất sớm, từ thuở kí ức vẫn còn mông lung. Hồi đó tôi với em gái cô, Trần Bắc Yến, giường sát giường trong vườn trẻ của một doanh trại quân đội. Căn phòng mênh mông tít tắp, cả trăm đứa trẻ sơ sinh nằm, mắt mũi nhắm tịt, ăn trên giường, ỉa trên giường, tiếng gào khóc đinh tai không dứt. Có rất nhiều người đi qua giường tôi, làm nhiều thứ động tác với tôi, đều bị tôi quên sạch. Tôi chỉ nhận ra, và ghi nhớ khuôn mặt của Trần Nam Yến.
Trước tiên là đôi mắt, lấp lánh như viên bi ve vừa bắn xuống lỗ vẫn còn xoay tít. Đôi con ngươi vừa cố định ở chính giữa lập tức ánh lên một điểm sáng nhỏ như đầu kim. Nhìn kĩ thì ra là hình ảnh một đôi bóng đèn nê-ông thu nhỏ, sáng lung linh. Đôi bóng đèn đó thường xuyên xuất hiện từ trên cao, cứ thế áp xuống gần, cho đến khi biến mất cùng lúc trên mặt tôi hoặc môi tôi cảm thấy một sự tiếp xúc ươn ướt. Đôi bóng đèn chợt đến chợt đi khiến tôi vô cùng khó hiểu, lần nào cũng muốn ngóc đầu dậy xem tăm tích chúng đi đâu. Chỉ thấy trên trần nhà có một bóng đèn nê-ông hình dạng y xì, chỉ có điều to đùng và sáng lóa, nhìn vào một chút liền chói hoa cả mắt. Phải rất lâu sau, tôi mới hiểu ra đôi bóng đèn bằng đầu kim chính là hình ảnh của cái đèn kia trong đôi mắt cô ấy.
Buổi sáng nắng chan hòa, đôi mắt nửa mở nửa nhắm. Tia nắng sớm xuyên vào thấy cả một vùng trong suốt, con ngươi đen đổi sang màu hổ phách, lòng trắng ngả xanh, hai màu hòa quyện với nhau, nhìn không ra được những ý nghĩ ẩn trong đó.
Đôi mắt ấy là phần rõ nét nhất của khuôn mặt, những thứ khác như lông mi, mũi, miệng đều như những nét nhạt vẽ vội trên giấy trắng bằng bút chì 5H siêu cứng, phải đặt lên phần nền màu sẫm mới nhìn rõ được. Chỉ cần ánh nắng hơi mạnh một chút, làn da như bị ánh sáng xuyên qua, cả đến tóc cũng như thể bị phai màu.
Vườn trẻ áp dụng biện pháp quản lí khá văn minh đối với những đứa bé còn chưa đủ sức tự lập, theo kiểu trại tù binh: tự quản lí. Nói cách khác là đứa lớn hơn lo cho đứa bé hơn. Sách vở có ghi, đó là khoảng thời gian mười năm sau khi chiến tranh dai dẳng và gian khổ kết thúc, mọi người còn chưa hết nỗi ám ảnh về sự suy giảm dân số trầm trọng. Chính phủ động viên nhân dân sinh đẻ. Nhà nào cũng đông con, ít thì vài ba đứa, nhiều có cả tá, ai chỉ đẻ một dễ bị nghi có trục trặc gì đó. Lũ trẻ chúng tôi đứa nào cũng có anh có chị, ở tất trong vườn trẻ này. Lũ họ tuổi nhỏ mà chí lớn, đi gánh vác cái hậu quả từ sự “dẻo dai” của cha mẹ.
Mỗi sớm tối, “anh, chị” từ các lớp khác tập trung về lớp nhỏ nhất của tôi, ai làm phận nấy để giúp các em mình thực hiện nhiệm vụ gian khó nhất trong ngày: mặc quần áo và cởi quần áo. Chẳng hiểu lúc mới bước vào vườn trẻ, bọn họ làm thế nào qua được ải này. Có lẽ họ cũng có các anh các chị, một truyền thống vĩ đại nối dài. Có thể đứa con đầu thường thông minh. Nghe nói tỉ lệ con trưởng ở các vĩ nhân khá cao.
Hình như tôi là một thằng nhóc đầu to. To đến độ nào? Có ảnh chụp làm chứng, tỉ lệ cơ thể tôi là chân một phần ba, người một phần ba, đầu một phần ba. Đầu to không nhất thiết não cũng to, bác sĩ bảo đó là chứng đầu vuông do thiếu can xi. Bằng chứng là trên đỉnh đầu có thể sờ tay thấy hai cái chóp nhọn, còn gọi đầu mọc ngạnh. Sách viết, mấy năm đó thiên tai khắp đất nước, chết đói mất một lượng người lớn. Về phía chính quyền cũng có ghi lại, rằng bên trên chẳng ai được ăn thịt. Tôi ra vừa đúng lúc, cũng chẳng đáng phàn nàn. Đầu to thì to thôi. Nhưng còn có một nguyên nhân nữa khiến đầu bị to, đó là nếp ngủ. Quanh năm tôi chỉ ngửa mặt nhìn trời mà ngủ, hô hấp rất thuận lợi nhưng bẹp mất sau ót, những thứ đáng lẽ phát triển ở đằng trước đằng sau, giờ dồn bù ra hai bên. Cái đầu quá cỡ đem lại khá nhiều bất tiện cho tôi. Bố mẹ vốn định tiết kiệm mấy cái cúc, chuẩn bị cho tôi toàn những thứ chui đầu, áo len, áo lót,… đều thế, mỗi lần mặc qua đầu thường mắc lại ở tai. Đặc biệt là khi cởi áo, mười lần có tới chín lần mắc ngay dưới cằm. Cổ bị kéo dài ra áo len vẫn còn vướng dưới đầu, tôi như ngồi đáy hang, giơ bàn tay nhìn không rõ ngón, chẳng biết ngày tháng năm nào mới được thấy lại ánh sáng cuộc đời.
Mỗi ngày, kẻ đến hành tôi là một anh cu mập mạp “năng lực” thường thường, ở lớp nhỡ trên tầng hai. Bố mẹ tôi đẻ liền tay ra hai anh em, nên anh cu mập hơn tôi một tuổi, kinh nghiệm còn non nớt, trí lực và thể lực cũng không hài hòa cho lắm. Gặp phải tình huống này, anh hoàn toàn không hiểu nguyên cớ ở đâu, biện pháp duy nhất là mời tôi ăn mấy bạt tai. Tát tôi khóc xong tự anh cu cũng lùi sang một bên vặn vẹo bàn tay, bối rối. Mỗi lần đến nước đó liền có một người nhảy lên giường tôi, hai chân kẹp tôi lại, túm cổ tay áo len, kéo mạnh một cái lên cao. Hai tai tôi lùng bùng, nước mắt ào ào tuôn chảy.
Vị cứu tinh đó là Trần Nam Yến. Cô làm xong cho em gái mình liền sang giúp anh tôi xử lý tôi. Công việc hoàn toàn giống, nhưng thái độ rất khác. Anh tôi thì chán ngán, nhiều lúc ngán phát khóc. Nhưng cô thì rất hào hứng, vừa chơi vừa làm hết mọi việc. Còn có một điều cô rất thích làm là bẹo má người khác. Thấy bé em mũm mĩm nằm trên giường, cô liền thò tay ra tóm lấy hai bên má mà kéo. Mặt người ta đang yên đang lành bị cô kéo ra thành mặt ông Phúc, tự mình còn cười ngặt nghẽo, rất lấy làm thú vị. Mấy thằng “dinh dưỡng đầy đủ” trong lớp tôi đều bị cô bẹo má không sót thằng nào. Cô nuôi thấy cô làm chuyện đó thì quát ngay, nói em bé cả lớp bị cô bẹo chảy hết nước dãi ra rồi.
Tôi thì không thấy hành động đó bất lịch sự. Khuôn mặt tôi thích cảm nhận những ngón tay mềm mại kia. Hễ cô dùng sức liền cảm nhận được cả độ cứng của xương cốt bên trong ngón tay. Những ngón tay tiếp xúc da thịt tôi bằng một thứ ngôn ngữ rất đặc biệt, dịch thành chữ nghĩa là: dịu dàng.
Giả sử nếu không có những bức ảnh kia, kẹp trong album gia đình, tôi sẽ không tin tuổi thơ của mình trôi qua bên cạnh mẹ. Trong kí ức của tôi không có bà ấy. Cố nhớ thêm, hình ảnh của bà cũng chẳng rõ rệt, đen trắng không màu, lặng lẽ không lời, loáng thoáng như người ở thế giới khác. Bà là bác sĩ, kiểu bác sĩ nội trú bận bịu với rất nhiều ngày trực đêm tại bệnh viện mỗi tuần.
Kể từ khi biết nhớ, tôi đã không sống cùng mẹ. Rất nhiều năm tôi chẳng biết mẹ đang ở đâu, về sau mới hay, bà chỉ xuất hiện vào ban đêm, trời vừa sáng lại đi mất. Bà không phải là người quan trọng trong cuộc sống của tôi. Thậm chí tôi không hề biết tên bà. Mãi đến khi đi học, hay phải khai sơ yếu lí lịch, mới dần dần ghi nhớ. Nhớ được tên rồi, vẫn cảm thấy như một người lạ. Còn với chữ Mẹ, cũng biết đó là người sinh ra mình, nhưng trong cảm giác vẫn như một người họ hàng ở xa, ai ai cũng có. Đọc rất nhiều những bài văn nhớ về mẹ, có vẻ mẹ giống như một bà bảo mẫu qua đời đã nhiều năm. Đến giờ, mỗi khi nghe có người cất cao những giai điệu giọng thứ ngợi ca về mẹ, tôi vẫn không khỏi nổi da gà từng chập. Phi hành phi tỏi, ép lời thêm ý dẫu có hơi nhiều, thơm hơi quá cũng còn chấp nhận được, cũng chẳng ai lấy đó làm thật. Nhưng chịu không nổi mấy ông bà vừa “giọng” vừa “điệu” ra chiều rất “nhập vai”, chỉ còn thiếu nước khóc òa trước đông đảo quần chúng. Nhìn kiểu gì vẫn thấy giả giả. Phải chăng tâm hồn chúng ta đã quá khô cằn, nên thèm khát tự thỏa mãn, đem quan hệ huyết thống ra “luận sự”. Có thật tồn tại thứ tình cảm tự nhiên, không gì thay đổi được giữa người với người không?
Trong ảnh, mẹ là một phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp, miệng cười lanh lánh mấy chiếc răng cửa. Bất kì bức nào chụp với tôi cũng đầy ắp tình mẫu tử, toàn giành ôm tôi. Nói “giành” là vì chẳng có lần nào thấy tôi vui vẻ cả. Trong mỗi bức ảnh, tôi đều đang vùng vẫy, vặn vẹo không chịu áp vào người mẹ, còn dùng tay đẩy mẹ ra. Những cái ôm không trọn vẹn, cửa trập làm việc trước hình ảnh đầy “biến động”, vứt đi không ít kiểu. Chuyện này kể ra cũng hợp lô-gíc với nỗi ám ảnh không vui của tuổi thơ tôi: không thể hiểu nổi tại sao cứ mỗi lần chụp ảnh lại xuất hiện một người phụ nữ cố đòi chụp chung hình với mình, lại còn “ấm ớ” ôm ấp này nọ, chống cự thế nào cũng không xong. Tôi không quen thân nhiệt nóng hổi và mùi thơm từ cơ thể phụ nữ trưởng thành. Những phụ nữ trưởng thành mà tôi biết đều là những cô nuôi, đứng cách tôi ngoài ba bước. Khi ở quá gần họ, tôi lại cảm thấy rất thiếu an toàn.
Cha là quân nhân, phục vụ ngay trong doanh trại. Tôi thường xuyên bất chợt nhìn thấy ông, vì thế hình ảnh về ông tương đối chân thực, rõ nét. Tôi đã từng lầm tưởng rằng ông là người thân duy nhất của mình, nhưng cha ở trong ảnh so với trong kí ức của tôi vẫn có một khoảng cách rất lớn về tuổi tác. Trên ảnh, ông rất rắn rỏi, còn trong trí nhớ của tôi, ông đã bắt đầu béo phệ. Điều đó nói lên rằng ở giữa là một khoảng thời gian đáng kể tôi và cha không gặp nhau. Tôi không hiểu gì về công việc của cha, chỉ biết ông thường xuyên đi công tác, phơi nắng đen sì. Trong khu nhà ngày thường có nhiều quân nhân bộ dạng rất nhàn nhã, tôi đã từng tưởng tượng ra chỉ có một mình cha chinh chiến “đánh đánh, giết giết” khắp nơi. Về điều này, ông cũng chưa bao giờ nói thật, chỉ lặng lẽ đi về. Thời kì đó, tất cả người lớn đều tỏ ra bận rộn, chẳng biết họ bận những gì, đã không tích lũy ra của cải vật chất cho chúng tôi, cũng chẳng thấy để lại bao nhiêu di sản văn hóa.
Vườn trẻ của chúng tôi là một khu nhà hai tầng khá đẹp. Trẻ con đều gọi nó là “nhà tàu bay”. Nghe nói nhìn bao quát từ trên không xuống, sẽ thấy khu nhà như hình chiếc máy bay. Nhà tôi rất gần vườn trẻ, chỉ cách hai dãy nhà tập thể. Từ ban công tầng bốn nhà tôi nhìn sang, có thể thấy tất cả. Nhưng tôi nhìn nó suốt bao năm vẫn không sao nắm bắt được tinh thần “tàu bay”, chẳng biết đôi cánh của nó nằm chỗ nào. Có thể là những bức tường trát đá rửa trắng toát cùng với những ô kính rộng khiến khu nhà trông xinh xắn nhẹ nhõm, rất giống thứ gì đó chỉ cần ráng một cái là bay lên được, như kiểu máy bay.
Phòng ốc của vườn trẻ vừa cao vừa rộng, cửa đóng kín mít vẫn cảm nhận được không khí đang tự do lưu thông, ruồi bay lên giống như tàu lượn. Mặt tường phía nam của phòng ngủ, phòng chơi đều làm cửa kính xuống tận sàn. Quanh năm bốn mùa, ngày nắng đêm thâu đều không kéo rèm. Mọi người ở bên trong ăn ngủ, nô đùa, đi lại chẳng khác gì đang ở trên sân khấu. Tầm nhìn rộng mở, nhưng trong lòng hồi hộp căng thẳng, tự hiểu mình có thể bị một vài ánh mắt nào đó dõi theo từ bên ngoài bất cứ lúc nào. “Nhất cử nhất động” đều chứa đựng ít nhiều tính biểu diễn. Không gian cuộc sống vô hình chung thấm đượm không khí văn nghệ, cảm giác thành công hay thất bại đều rất mãnh liệt, rất nhiều sự việc xảy ra như là đang diễn cho một nhân vật thứ ba khuất mặt xem vậy.
Trẻ con trong vườn trẻ ở đó suốt ngày, hai tuần mới được đón một lần, có lúc hai tuần vẫn chẳng đón. Lũ trẻ lúc mới vào hay khóc, dần dần cũng thôi, tựa như vừa đẻ ra đã sống ở đây. Nhiều khi lâu không gặp cha mẹ, đến khi gặp lại thành ra khóc, không chịu theo. Có đứa thậm chí tưởng mình là con em liệt sĩ, hoặc bốc phét rằng cha mình là Mao Chủ Tịch, là thủ tướng Chu Ân Lai, toàn hô những vị to nhất. Trong vườn trẻ có cả nghìn lý do khiến một đứa trẻ khóc, nhưng không hề vì nhớ cha nhớ mẹ.
Tôi thích từ vườn trẻ hơn cái tên đại loại như “trường giáo dưỡng”, nghe rất giống một nơi dành cho trẻ hư, trẻ ốm, hoặc lang thang cơ nhỡ, không nơi nương tựa. Có một câu chuyện nhỏ về Lênin như sau: sau Cách mạng tháng Mười, Matxcơva có rất nhiều người lang thang, Lênin đã bắt gặp hai người trong số đó. Vị lãnh tụ vĩ đại rất quan tâm, lập tức ra lệnh đưa họ vào “trường giáo dưỡng”.
Tôi quá quen với việc sinh hoạt giữa chốn công cộng, mỗi một sự việc đều làm cùng với rất nhiều người, ăn - ngủ - đái - ỉa tập thể là phương thức sinh hoạt duy nhất của chúng tôi. Phần lớn thời gian trong ngày, tôi và mọi người đều nằm trên giường, ngủ rồi lại ngủ. Tỉnh dậy có lúc là ban ngày, mặt trời vẫn ngoài cửa sổ. Mọi người trong phòng hãy còn ngủ say, cô trông trẻ cũng đang ngủ ở giường mình, tôi trợn mắt nhìn lên trần nhà, tìm kiếm cái gì đó để cố định tầm mắt. Cái trần nhà mênh mông, chẳng có tí trang trí nào ngoài mấy bóng đèn rủ xuống. Mặt phẳng màu trắng trơn vươn hết cỡ ra bốn xung quanh, ngay cả những bức tường vôi trắng cũng thành ra một bộ phận của nó. Mắt nhìn không hết, ánh mắt rời dần xuống nền nhà như quĩ đạo parabôn của viên đạn. Lúc này nó sẽ hơi cong lên, mặt phẳng kia biến thành hình vòm, như có sự sống. Trên đó thường xuyên vọng xuống những tiếng bước chân và tiếng những chiếc ghế dịch chuyển. Tôi không biết đó là âm thanh của những đứa trẻ khác trên tầng hai, ngỡ là tiếng thì thầm của cái trần nhà. Lâu dần, trong mắt tôi, cái trần nhà có một số biểu hiện tựa hồ một quái vật giả dạng hóa đá giờ đang sống lại. Điều đó khiến tôi bất giác cảm thấy mình thật nhỏ bé. Tôi thấy sợ cái khối tinh thần nặng nề đang treo lơ lửng trên đầu mình. Một không gian mênh mang khiến tôi như cảm nhận rõ hơn sức mạnh của nó. Tôi nghĩ nó cứ ở trên cao thế kia, chỉ với một mục đích: một ngày nào đó sẽ rơi xuống.
Thường thì đến tối nó sẽ khẽ khàng mò xuống. Màn đêm bắt đầu từ những vệt tối tụ tập trên trần nhà. Suốt tuổi thơ tôi thường ngỡ rằng, đêm tối không phải là sự biến mất của ánh sáng, mà là màu đen trĩu nặng ồ ạt kéo đến, kiểu như giọt mực rơi vào lọ nước. Màu đen kia có khả năng xuyên tường, càng dễ dàng lọt qua những tấm kính mỏng. Chúng kết bè kết lũ, càng chui vào càng đông, thế là ban ngày thất thu. Ánh nắng khắp phòng bị đánh tan, theo chân những tia sáng bên ngoài rút chạy thật xa thật xa, nhưng vẫn có thể nhìn thấy chúng. Tất cả chúng đều ở trên trời, những mảnh còn lại to nhất thì bằng tấm kính, có khi nhỏ chỉ bằng một mẩu dưa hấu.
Từ vị trí giường tôi nằm, có thể nhìn thấy bầu trời sao lấp lánh và vầng trăng vằng vặc. Những vì tinh tú phát sáng kia khiến cho đêm đen không còn yên tĩnh cho lắm, tựa hồ như đang gắng ra hiệu cho tôi biết đêm tối không có nghĩa là mọi việc đều ngưng nghỉ, ngược lại có những thứ càng trở nên sống động. Lợi dụng màn đêm, những thứ kia đang khe khẽ tiến đến gần tôi, trong những hình dạng không rõ ràng. Chúng lần mò theo trần nhà, từ từ tụt xuống. Cái trần nhà không chịu đựng nổi quá nhiều những vật màu đen, như một con tàu đắm dần xuống đáy biển. Tôi có thể nghe thấy tiếng nó ép dần xuống các bức tường, ken két cọ trên những tấm kính. Đó là quá trình không gì ngăn cản nổi, cũng chưa bao giờ tự dừng lại, nó cứ thế chạm xuống gần đầu mũi của tôi, bắt tôi phải giơ tay lên chống đỡ. Nhưng nó chẳng để cho tôi chạm được vào. Lúc này, nó tỏ ra có tí đàn hồi. Nếu tôi không nói năng gì, nó sẽ tiếp tục bắt nạt tôi, chỉ để lại một khoảng cách rất mong manh dọc theo cơ thể nằm ngửa của tôi.
Khối đen dày đặc và đồng đều bao trùm khiến tôi mềm nhũn, không cả đủ sức trở mình. Dù biết trong phòng còn rất nhiều người cùng ngủ vẫn chẳng cảm thấy chút ấm áp an ủi nào. Tiếng khò khè, tiếng nghiến răng, tiếng nói mê nổi lên xung quanh càng làm nổi bật sự cô độc của tôi. Những thứ đáng ra mọi người phải cùng sợ hãi lại bắt tôi một mình đối mặt. Không khí nặng nề trong cả phòng dường như được rót qua phễu tập trung xuống chỗ tôi. Đi ngủ tập thể mà còn lại mỗi mình vẫn thức quả là đáng sợ. Tôi muốn chạy trốn khỏi hiện thực này, trở về nơi an toàn trước kia, khi chuẩn bị đến với thế giới. Tôi mường tượng ra hễ mình ngủ thiếp đi lập tức sẽ bị biến mất khỏi thế giới này, ước gì không phải nhìn thấy tình cảnh trước mắt thêm một lần nào nữa, điều kiện thế nào tôi cũng sẵn sàng chấp nhận.
Như một cỗ tàu hỏa, xuyên qua mọi ý nghĩ quay cuồng, lần nào cũng vào ga lúc trời nhập nhoạng. Cảnh sắc xung quanh vô cùng u ám, tầm nhìn như chim bồ câu bị buộc cánh, bay chưa được hai bước đã rơi xuống đất. Chẳng nhìn rõ được gì. Cố trợn mắt lên nhìn đến nỗi tròng mắt nhức nhối. Đi ra không xa có thể nhìn thấy thành phố, có đường sá và một số công trình kiến trúc thấp lè tè. Nhìn thấy vườn trẻ hai tầng mới hốt nhiên tỉnh ngộ: hóa ra vườn trẻ nằm trên con đường này. Vườn trẻ ban đêm khác xa so với ban ngày, giống một đám hoang tàn sau hỏa hoạn, cũng giống một khu nhà bỏ hoang lần đầu đặt chân vào, những lối đi giao nhau và cả những góc khuất bí ẩn nhiều hẳn lên. Cô nuôi và các bạn nhỏ đều ở đây, chỉ có điều thần thái khác lạ, ai làm việc nấy, rất kì quái, chẳng ai đếm xỉa đến tôi, như không hề nhìn thấy. Họ nói với nhau cái gì, tôi không sao hiểu được, như là bọn họ đều biết ngoại ngữ, lúc bình thường không dùng mà thôi. Tôi loanh quanh một hồi, buồn tè ghê gớm, lần theo lối cũ qua phòng chơi, mở cửa nhà vệ sinh. Bệ xí bồn cầu vẫn dùng ban ngày biến đâu mất cả. Bên ngoài là một bãi đất rộng rãi, trồng bắp cải. Dãy nhà tôi ở tường gạch màu hồng đang ngự ở một phía của bãi đất. Giữa vườn bắp cải có lối đi nhỏ hướng về đó. Tôi nghĩ có lẽ mình đi nhầm, mở phải cánh cửa bình thường ít người sử dụng. Tôi tìm trong phòng chơi, nhưng không thấy một cánh cửa nào khác. Thật bí bét, tôi nghi ngờ trí nhớ của mình. Bụng nhịn căng rất khó chịu, có lẽ phải tìm một chỗ vắng vẻ. Trốn xuống gốc cây, nghe thấy cô nuôi đang nói chuyện ở đó, chui vào những luống hoa, thấy một vài đứa đang lom khom bên dưới, thây kệ, vội vã quay lại phòng ngủ, tính tranh thủ tối trời làm luôn ra phòng. Ai dè mọi người đã dậy cả rồi, đang mặc quần áo trên giường, bước đến đâu cũng có người quay đầu nhìn tôi. Tôi cố ý dừng hẳn một lúc tại một góc tường, tìm khoảng trống, định lúc không ai để ý lặng lẽ “thiên nhiên” luôn cho khỏe. Chẳng ai để ý tôi nữa, nhưng Trần Bắc Yến vẫn không rời mắt khỏi tôi. Đôi mắt lấp lánh dường như đã đoán ra âm mưu của tôi. Tôi luồn xuống dưới, quỳ gối, đầu húc lên gầm giường, lôi “thằng cu” ra trong một tư thế hết sức gian khổ. Đang nghĩ lần này sẽ thành công, chuẩn bị “thoải mái”, Trần Bắc Yến thò đầu xuống, bím tóc rủ sát đất, hai mắt nhìn không chớp. Lại phải bôn ba, nước tiểu đã rơi ra quần đùi. Cuối cùng, tôi phát hiện ra một nhà vệ sinh nhỏ ở giữa hai vế cầu thang. Tôi thấy bực mình, nhà vệ sinh chuyển ra đây cũng chẳng thèm thông báo người ta một tiếng. Trinh sát vài lần, kết luận đích thị là một cái nhà vệ sinh rồi mới dám buông lỏng cảnh giác, đứng vào bệ, vừa lôi ra vừa tự phê bình: thường ngày quá sơ ý không cả biết chỗ này có một cái nhà vệ sinh. Giờ phải nhớ kĩ, lần sau thì không cần vất vả thế này nữa. Nghĩ được một tẹo, bắt đầu tè ra.
Nước tiểu vừa ra khỏi lỗ, lập tức thành đang ở trong chăn. Biết là hỏng chuyện, con người mà để cho “ham muốn” giật dây chi phối, nhưng cũng không quá hối hận. Lặng lẽ tận hưởng giây lát rồi trề môi khóc.
Tôi ở vườn trẻ, nhiều năm được phong “vua tè giường”. Danh hiệu đó ai ai cũng biết, khiến tôi rất mất mặt trước sau không thể nào tạo được uy tín. Đêm nào cũng bày ra một bãi, lắm hôm còn làm mấy lần, khắp người ướt nhẹp, áo quần, ga đệm đều phải lấy ra, tôi trần truồng ngủ trên lưới lò xo thép của giường. Sáng sau tỉnh dậy, mông đít, lưng và nửa khuôn mặt đều hằn những ô vuông nhỏ, trông như thịt mới pha trong chợ sớm bị nhét vào giỏ lưới xách đi suốt quãng đường. Có lần tôi đái cả lên gối, cũng chẳng hiểu làm thế nào mà được, song đủ thấy trình độ khá cao. Nhưng điều khiến tôi buồn bực hơn là những thành tích này còn bị đem ra trưng bày. Chăn đệm dính nước tiểu ban ngày được phơi trên giây thép trong sân thành một hàng dài dưới nắng. Bọn trẻ gọi đó là “vẽ bản đồ”. Quả thật những vết nước tiểu ố vàng trên nền vải trắng rất giống bản đồ vẽ theo trí nhớ sai sót lung tung của các nhà hàng hải xa xưa. Mỗi sáng đều có vài đứa vô duyên, mở mắt ra là chạy đi tham quan mấy thứ đó, rồi vội vã trở về công bố danh sách, và đặt tên cho “hình vẽ” mới. Trên chăn đệm đều có thêu tên, muốn chối cũng chẳng được. Ban đêm tôi ngủ không ngon, sáng toàn dậy muộn hơn các bạn một chút. Thường là mắt chưa kịp mở tai đã nghe thấy tên tuổi mình được loan báo khắp phòng. Đến khi tôi ngơ ngác ngồi dậy đã thấy những khuôn mặt bạn bè cười cười kéo đến chúc mừng. Người ta ba ngày đánh cá, hong lưới hai ngày, còn tôi đêm nào cũng “ra khơi”, sáng nào cũng có tên trên “bảng phong thần”, chưa lần nào trượt. Được cái mặt tôi cũng dày, coi như đang rèn luyện để trưởng thành trong nghịch cảnh, nghe mấy câu trêu chọc móc kháy, tôi với mọi người cùng cười.
Để được ít nhất một lần không làm “người vẽ tranh”, tôi nhịn uống suốt một ngày, ăn cơm cũng không đụng một giọt canh. Khắc khổ đến thế mà vẫn đái nhiều hơn người khác. Chẳng hiểu nổi chỗ nước kia đến từ đâu. Nước tiểu của tôi số lượng rất khá, độ trong cũng rất cao, nếu là lạc đà chắc đã phải chết khô. Tôi đoán chắc mình được làm ra từ băng đá, đem phơi nắng cứ thế giọt giọt chảy ra. Chính vì vậy, đã có một thời gian tôi đâm ghét “con giống” của mình. Chưa hiểu gì về hệ bài tiết, tôi cứ tưởng mọi chuyện chỉ do một mình “nó” gây ra. Nếu nó đừng bé tí như thế, nếu trữ lượng của nó lớn hơn, hoặc nếu được như con gái, không có nó hẳn đi, thì chắc tôi đâu đến nông nỗi này!
Hình như để tập cho bọn trẻ thói quen tốt bài tiết đúng giờ, nhà vệ sinh chỉ mở cửa vào một số thời điểm nhất định trong ngày, giống những chỗ trưng bày bảo vật quý hiếm ở viện bảo tàng. Ngộ nhỡ phân và nước tiểu không “về” đúng hẹn, xin lỗi, đành tự bảo quản trong trực tràng hoặc trong đũng quần mình. Với tôi, đái ra quần là chuyện cơm bữa, chẳng đáng để xấu hổ, hơn nữa “đồng hội đồng thuyền” cũng đông. Có khi hai thằng muốn gặp riêng nhau, chỉ việc cùng đái ra quần, kéo nhau vào phòng ngủ vừa nói chuyện vừa đợi quần khô. Đau khổ nhất có hai lần không sao nhịn nổi, ị thẳng ra quần bông. Mặc dù là quần xẻ đũng, vẫn dính bết lung tung, mùi vị khiến tám hồn khó bề tĩnh tại. Một người có chút ít lòng tự trọng nếu để xảy ra vụ việc mức độ như thế, nhiều ngày sau dù đã tắm rửa sạch sẽ nhiều lần, người khác vừa gặp vẫn lập tức giơ tay bịt mũi, thử hỏi lòng dạ thấy chua chát cỡ nào.
Mỗi lần gặp chuyện như thế, trong thâm tâm tôi lại teo lại thành số không, tự nhủ: Biến! Mong sao mặt đất nứt ra một kẽ, hoặc mọi người bị gió quét đi hết, hoặc mình hóa thành cái cây, viên gạch, vẫn còn hơn phải làm người.
Tôi hết sức bất mãn với cái thằng mọi người vẫn gọi Phương Thương Thương. Tôi ngao ngán vì cái sự thiếu kiềm chế đến thường xuyên thành trò cười trước thiên hạ của nó. Chẳng khác gì dắt thằng ngốc ra đường, thằng ngốc vì ngốc sinh chuyện, người ta lại chửi vào đầu mình.
Tại sao tôi không thể là người khác? Tôi thấy xung quanh mình nhiều người rất khá, đâm ra hâm mộ, rồi ngưỡng mộ: giá mà mình sinh ra đã sáu tuổi thì tốt; giá mà mình làm cô nuôi thì tốt, giá mình không phải là Phương Thương Thương thì tốt. Mỗi ngày tôi lại chọn một nhân vật xuất sắc nào đó để giá mà. Càng ê mặt, rơi bát, đái dầm, trượt ngã,… sự giá mà của tôi càng phong phú đa dạng. Đến nỗi khi vụ việc còn ngổn ngang chưa giải quyết, bản thân còn giữa nghìn trùng hiểm nguy, tôi đã đứng đó hoặc nằm đó mà bắt đầu mơ màng ước ao, giá mà… Những kẻ ngốc nghếch không biết tôi đang tư duy, lại nói tôi đần độn, còn rình rang đem tôi đi kiểm tra. Ông bác sĩ cũng là thứ lang băm, kê cho tôi uống thật nhiều dầu gan cá.
Ngày hai buổi, mỗi buổi một giờ, bọn trẻ được cô nuôi dẫn đi bộ ngoài sân. Con trai một hàng, con gái một hàng, cầm tay nhau, cứ thế ngơ ngơ ngẩn ngẩn men theo tường rào đi hết vòng này đến vòng khác. Tù phạm gọi việc này là “thả gió”. Vườn trẻ “thả gió” vào những giờ cố định. Hàng ngũ lớp này nối tiếp lớp kia. Nhìn từ xa dễ lầm là có biến, toàn thể vườn trẻ đang biểu tình tuần hành. Đi đến những chỗ ngoặt, bọn trẻ đều quay đầu tìm người thân. Tôi cũng ngoảnh ra tìm anh cu mập tên là Phương Siêu, nhìn ra anh liền cảm thấy ấm lòng lên đôi chút, tựa như nhìn thấy đàn anh cùng bị bắt. Anh tôi tính xã giao, rất chú ý giữ gìn quan hệ quần chúng, cả một hàng chỉ thấy anh kéo trước kéo sau, nói năng trò chuyện với bên phải bên trái rất vui vẻ. Nhìn tôi thì chỉ một ánh mắt, một nụ cười bí hiểm. Tôi không hiểu hàm ý ánh mắt và nụ cười đó là gì, vừa đi vừa băn khoăn suốt chặng đường còn lại. Đi hết vài trăm mét, các lớp giải tán tại chỗ, cô nuôi túm tụm chuyện trò. Bọn trẻ lớn bắt đầu đến tìm em. Anh tôi cũng kéo một đám nghênh ngang tiến lại phía tôi, chỉ vào thằng em nói: đây là em tớ. Tôi nghĩ như thế nghĩa là anh đã nhận mình, họ đi đâu thì tự giác theo sau đến đấy, cho giống là một bọn. Phương Siêu là một “đầu lĩnh” nho nhỏ, dưới tay có một đám lâu la đủ tổ chức một trận đấu súng giữa hai phe ta địch, đầy đủ chỉ huy, lính tốt. Lúc đánh nhau thì anh tôi không màng đến tôi nữa. Trừ khi thua trận bị bắt làm tù binh giải đi, tôi mới có cơ hội gia nhập hàng ngũ, quýnh quýnh theo đuôi, thỉnh thoảng còn bị quân áp giải chửi mắng. Chỉ vậy thôi tôi đã thấy thỏa mãn, dường như được gần gũi gì đó hơn rất nhiều.
Có đôi lúc đang bước trong hàng tù binh, ánh mắt và sự chú ý của tôi bỗng bị Trần Nam Yến cướp lấy. Cô không thuộc nhóm của Phương Siêu. Nhóm họ có bốn năm đứa con gái đều sạch sẽ sáng sủa, vừa gầy vừa cao. Họ chơi đùa một cách nhẹ nhàng, trong tay là búp bê và ống nghe. Em gái của họ cũng chơi ở đó, rất được ưu ái, lúc nào cũng được nhường chơi trước. Bọn họ trao đổi thì thầm với nhau rất nhiều, rất chăm chú, y hệt người lớn đang bàn bạc. Thế rồi thấy họ chuyển sang trò chơi khác một cách rất ăn ý, có tổ chức.
Mấy cô gái đó đều xinh, nhưng tôi thích nhìn Trần Nam Yến nhất. Nhìn mãi không chán. Tựa một chiếc đĩa sứ hoa văn tinh xảo, bóng trơn, một cái ly thủy tinh trong suốt lấp lánh, một giỏ trái cây tươi rói óng ánh những giọt nước đọng lại, càng nhìn càng thấy vui vẻ, dễ chịu. Tôi chưa bao giờ so sánh cô với những cô bé khác bên cạnh, căn bản chưa bao giờ nghĩ tới điều đó, tựa hồ như chưa coi cô là người, mà là phong cảnh để thưởng ngoạn, là đồ vật tinh xảo để ngắm.
Tôi tưởng tượng mình là em trai của Trần Nam Yến - em gái cũng được. Mỗi ngày, cô, chứ không phải thằng anh béo của Phương Thương Thương, sẽ giúp tôi thay quần áo, dỗ tôi ngủ. Thứ Bảy chúng tôi dắt tay nhau về nhà, thứ Hai lại dắt tay nhau đến lớp. Tôi khóc, tôi tè ra quần, cô sẽ vội vã chạy đến dỗ tôi, thay quần cho tôi, chẳng sợ bẩn, cũng chẳng sợ khai. Bất kể lúc tập thể dục buổi sáng hay lúc đi bộ, chỉ cần ánh mắt chúng tôi giao nhau là cô lập tức nở nụ cười với tôi. Chỉ có với tôi mới là nụ cười như thế, thuộc về những gì giữa hai chúng tôi, như một thứ ám hiệu, một bí mật. Cũng chỉ có hai chúng tôi mới hiểu ý. Nội dung cụ thể để sau hẵng hay. Có nụ cười ấy, tôi cảm thấy ngày tháng trong vườn trẻ không còn quá khổ sở. Không phải tôi cố ý “kì thị” Trần Bắc Yến. Cô bé cũng đáng thương lắm. Nói là biết tự mặc quần áo, nhưng hai chân vẫn xỏ vào một ống quần, xuống khỏi giường là trượt chân ngã. Đi dép cứ năm phút là tuột ra. Chỉ biết có khóc. Bắc Yến nói năng lí nhí như muỗi kêu, ăn cơm chậm nhất, lại hay rơi vãi. Nếu cô bé muốn gia nhập gia đình chúng tôi, bắt buộc phải làm chị kế, thì ít nhiều cũng phải chăm sóc tôi một chút. Không được đái dầm! Không được khóc! Lúc đi ngủ phải nói chuyện với tôi. Khăn mùi soa phải cho tôi mượn lau nước mũi. Đồng ý thì tôi sẽ bằng lòng cho thứ Sáu được dắt tay nhau về nhà, thứ Hai lại dắt tay nhau đến vườn trẻ. Tôi sẽ cho phép Trần Nam Yến cũng cười với cô bé. Tôi suy nghĩ khá nhiều có nên cho Phương Siêu cùng gia nhập gia đình ba người chúng tôi hay không. Cuối cùng quyết định không phê chuẩn.
Tôi tưởng tượng mình chính là Trần Nam Yến, rất mực yêu thương chăm sóc Phương Thương Thương, bởi vì cậu ta thật đáng yêu, vừa biết tự mặc quần áo, vừa không hay tè dầm, trên người lúc nào cũng thơm tho mùi sữa. Tôi thích ôm cậu ấy, thơm lên khuôn mặt sạch sẽ phúng phính của cậu. Phương Thương Thương không chịu, rất kiêu, nhưng tôi quyết tâm, nhất định, nhanh chóng dấn tới… Chúng tôi biến vườn trẻ thành mái ấm, cô nuôi thành người giúp việc. Phương Siêu dẫn đám lâu la của anh ta đứng khóc ngoài cửa xin được vào… Lúc này mặt tôi bỗng đập vào thân cây. Đoàn tù binh rẽ ngang, một mình tôi vẫn mải nghĩ về Trần Nam Yến nên quên rẽ. Anh tôi và mọi người cười lăn cười bò. Mặt tôi dán vào thân cây xù xì, bất động, nước mắt khiến vỏ cây trở nên thẫm màu, tôi lấy tay bóc miếng vỏ gỗ bị ướt.
Đêm hôm đó, chờ các bạn và cô nuôi ngủ say, tôi khẽ khàng bò xuống giường, chân không chạy vào nhà vệ sinh, bật đèn, kiễng chân lên soi vào tấm gương bên trên bồn rửa tay. Tôi muốn nhìn xem bộ dạng của mình. Tôi soi gương rất lâu, chỉ nhìn thấy một thằng Phương Thương Thương ngốc nghếch. Mắt cậu ta quá đen, dù tôi có nhìn sát đến mức lông mi cong gập, mặt lạnh toát, đôi mắt vẫn đen một màu nhưng nhức. Cảnh vật xung quanh phản chiếu qua gương cũng không sao xuyên thủng được màu đen bao trùm ấy.