“Này!”, có người lay vai tôi: “Dậy đi! Dậy đi cháu. Tới ga Ninh Bình rồi đấy. Dậy mà giữ đồ đạc kẻo tàu dừng người lên người xuống không biết đâu mà lần, kẻ gian nó giật mất đồ thì khốh.”
Tôi nặng nề mở mắt ra. Không sai, đây vẫn là cái nhà ga đó. Một dãy nhà quét vôi màu vàng có hàng cây ăn quả lâu năm cành lá xanh tót trồng hai bên.
“Ngủ say quá!”
Cụ bà chép miệng. Đó là một bà lão chừng 70 tuổi, đầu vấn khăn khen, trông phúc hậu và nhanh nhẹn. Tôi hỏi lại:
“Đây vẫn là ga Ninh Bình hả bà?”
“Ơ hay cái thằng này! Không ga Ninh Bình thì ga nào. Tàu vừa mới dừng thôi. Bà xuống uống cốc nước chè xanh đây. Thế cháu có xuống không hay ngồi lại trên tàu?”
Tôi ngây người ra không trả lời. Bà lão lại chép miệng dặn dò phải trông coi đồ đạc cẩn thận rồi mới rời đi. Tôi thẫn thờ nhìn quanh khoang tàu, sau đó nhìn lại mình. Không có vết thương nào cả. Cũng không có mùi thuốc súng, mùi khói lửa hay vết bùn đất. Tất cả đã trở về nguyên trạng. Hay có khi tất cả chưa từng xảy ra. Tôi đang ngồi đây, ôm cái áo khoác cũ ở trong lòng, trên con tàu chạy trốn về phương Nam. Chiếc ba lô đặt ngay dưới chân. Trong đó có gì tôi vẫn còn nhớ rõ. Món tiền để ở túi trong áo khoác vẫn còn nguyên vẹn. Chiếc điện thoại vẫn yên vị trong túi quần.
Có lẽ tôi đã mơ. Một giấc mơ thật dài và thật kỳ lạ. Kỳ lạ nhất từ trước đến giờ. Nhưng rõ ràng, tôi đã từng dừng lại ở nhà ga này.
Một tay nắm chiếc áo khoác, một tay xách ba lô, tôi vội vã rời khỏi khoang tàu, chạy xuyên qua dãy nhà ga. Tôi muốn tìm kiếm con đường có hàng phi lao cạnh
núi đá vôi ấy. Qua nửa dặm nữa, sẽ có một người gác tàu đứng đợi tôi và người đàn ông đó sẽ chỉ cho tôi biết chỗ đậu của đoàn tàu quân sự. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy như một thằng điên. Những hành khách xung quanh tò mò nhìn theo. Họ chỉ trỏ và rì rầm bình phẩm với nhau. Không khí của một ngày tháng Chín nóng nực đến bức bối. Mùa thu vẫn còn lơ lửng ở tầng trời xa lắc nào đó.
Khoảng cách chạy đã quá nửa dặm, tôi đang đứng trên một khoảnh đất nhỏ tách riêng ra chừng một quãng so với nhà ga. Khoảnh đất hoang màu nâu thẫm lác đác những bụi cỏ đuôi gà cùng vài đám hoa cứt lợn, hoa vòi voi nở ra thứ hoa nho nhỏ màu tím. Không có thanh chắn ba-ri-e nào ở chỗ này. Càng không thấy bóng dáng người gác cổng có khuôn mặt khắc khổ đâu. Vừa rồi, quả thực là tôi đã mơ?
Tôi đã từng đọc ở đâu đó trên báo viết rằng nhà khoa học người Pháp Emile Boirac đã gọi tên một hiện tượng là “Déjà vu”. Đó là một hiện tượng nhằm mô tả lại cảm giác của con người khi lần đầu tiên đến thăm một địa điểm nào đấy mà lại có cảm giác quen thuộc như mình đã từng đến đó trước kia trong quá khứ. Đây không phải là một hiện tượng hiếm vì theo số liệu thống kê có đến 60% dân số' thế giới từng trải qua hiện tượng này. Lẽ nào tôi cũng đang bị “Déjà vu”? Không, không đúng. Kể cả là hiện tượng “Déjà vu” hay là một giấc mơ của tiềm thức cũng không thể nào lý giải được cảm nhận chân thực của tôi về quãng thời gian đã trải qua. Tôi đã tới cái nhà ga này. Sau đó, tôi đã chiến đấu như một người lính. Và tôi đã hy sinh.
Đứng một mình trên mô đất trống trải, tôi cảm thấy mất phương hướng. Giấc mơ về quá khứ phải chăng chỉ là tấm gương phản ánh mong muốn chạy trốn thực tại của bản thân tôi, khiến cho tiềm thức chìm vào một câu chuyện gmng như thật? Giấc mơ kết thúc. Bây giờ đã đến lúc phải trở về với hiện thực khắc nghiệt và tương lai vô định. Thế giới này vẫn quay lưng lại với tôi như cũ.
Tôi trầm mặc cất bước quay lại hướng nhà ga. Toa tàu số' 7 lúc này đông nghẹt người. Không khí pha trộn rất nhiều thứ mùi hỗn tạp của người và hàng hóa. Khi len được qua đám đông về tới chỗ ngồi, ba cặp mắt của những hành khách cùng khoang đồng loạt ngước lên nhìn tôi với vẻ hiếu kỳ. Ngồi sát cạnh chỗ của tôi là một cô gái nhỏ nhắn với nước da mịn màng. Khi ngước nhìn lên, cô khẽ mỉm cười lộ những chiếc răng khểnh duyên dáng. Phía đối diện là hai người đàn ông còn trẻ. Một người cao lớn hộ pháp. Người kia thì nhỏ thó như một cành sậy.
Đoàn tàu sắt khổng lồ rục rịch chuyển bánh. Tàu đang đi lùi lại, phát ra những tràng còi tu tu trước khi lao về phía trước tiếp tục cuộc hành trình. Tôi ngồi vào vị trí cũ với một sự cảnh giác cao độ, ôm chặt chiếc áo khoác trong tay không dám lơi lỏng.
“Gió lớn quá nhỉ!”
Cô gái ngồi cạnh nhận xét. Những người ngồi xung quanh đều tỏ thái độ vô thưởng vô phạt, chẳng ai buồn tiếp lời. Cô gái nhún vai, bắt đầu lôi từ đâu đó ra một túi hạt dưa, cắn tí tách và xả vỏ lung tung ra ngay khoảng sàn trống phía dưới chỗ ngồi.
Đến giờ ăn trưa, tôi đi theo hướng dẫn của nhân viên tàu hỏa đến toa ăn uống.
Thực ra những người trên tàu ăn bất cứ lúc nào mà họ thấy đói, đồ ăn đa phần đều là những thức tự mang theo có thể thay thế cơm như bánh mì thịt, xôi gà... Có lẽ vì vậy mà căng-tin vào giờ ăn chỉ có lác đác vài vị khách ngồi rải rác bên những bộ bàn ghế sơ sài. Tôi gọi một suất cơm sườn rán và chai nước tinh khiết ướp lạnh, chọn một chiếc bàn trống ngồi xuống. Cơm khá nhão, trong khi món sườn thì lại khô. Nhấc hàm trệu trạo nhai, bất giác tôi nhớ đến miếng cơm cháy vàng rộm chấm với đường ở bếp anh nuôi E bộ. Đó là một món rất ngon. Thế đấy! Ký ức vẫn nóng hổi trong tôi. Tôi vẫn cảm nhận được vị của miếng cơm cháy ấy ngon đến như thế nào. Tôi vẫn nhớ như in gương mặt của anh Thành, anh Xê, anh Hiểu, của Vĩnh... Những sự kiện đã diễn ra ở biên giới vẫn ào ạt ùa về trong tôi không sót một chi tiết nhỏ. Bây giờ đang ngồi ăn ở trên tàu này, tôi vẫn tự hỏi trận đánh ác liệt của chúng ta sẽ kết thúc như thế nào, đại đội trưởng Nguyễn Bá Thành và những người đồng đội sẽ ra sao... Những ký ức ấy không thể nào là giả. Nhưng chắc tôi sẽ chẳng bao giờ được gặp họ thêm một lần nào nữa. Nghĩ đến đấy, cõi lòng bỗng chùng xuống, chìm vào trong một cảm giác thê lương không thể gọi tên.
Ay vậy mà khi ngẩng đầu lên, tôi không thể nào tin nổi vào mắt mình.
Đứng trước mặt tôi bây giờ, chính là... anh!
Chính là đại đội trưởng đại đội 2!
Chỉ có điều, người đàn ông trẻ tuổi ngày xưa nay đã thay thê: bằng một vị trung niên trạc ngoại ngũ tuần. Tóc hoa râm phủ kín mái đầu, khuôn mặt già nua vì tuổi tác nhưng chỉ bằng một cái liếc mắt, tôi biết ông chính là Nguyễn Bá Thành chứ không phải là ai khác. Tôi bật dậy khỏi ghế, hấp tấp lao ra.
“Anh Thành...”
Ông ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi hy vọng ông cũng nhận ra tôi, nhưng ông chỉ cất giọng nghi ngờ:
“Cậu trai trẻ ơi, tôi có quen cậu à?”
Hóa ra, ông không hề biết tôi là ai. Tình cảnh này khiến tôi bối rói. Tôi không muốn bỏ lỡ mất cơ hội gặp lại đại đội trưởng, nhưng cũng không thể khiến cho ông cảm thấy nghi ngờ.
“Dạ, không... không...”
Nhận thấy tay ông đang bê một khay cơm, tôi vội kéo chiếc ghế ra.
“Có ghế trống đây. Mời chú ngồi chung với cháu ạ.”
Đại đội trưởng vẫn còn tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng cũng không từ chối. Ông ngồi xuống chiếc ghế phía đối diện, hỏi với giọng sảng khoái:
“Thấy cậu đang ngồi tự dưng đứng bật dậy, tôi nghĩ cậu nhận nhầm tôi với ai hả?”
“Vâng, chú rất giống một người chú họ của cháu. Chú ấy là một cựu chiến binh.”
“Thê: à? Chiến trường nào?”
“Chiến trường K ạ.”
Quả nhiên, khi nghe thấy thông tin này, đại đội trưởng thay đổi thái độ, ánh mắt trở nên thân thiết hơn.
“Cậu có biết ở đơn vị nào không?”
“Dạ, cháu có nghe kể nhưng không nhớ.”
“Tôi cũng từng đi K.”
Tôi mỉm cười. Ông cũng cười, khuôn mặt già nua nhiều nếp nhăn trong một khoảnh khắc dường như giãn ra. Nụ cười này đối với tôi vô cùng quen thuộc. Trong lòng có bao nhiêu điều muốn hỏi, có bao nhiêu cảm xúc muốn giãi bày, nhưng lúc này, tôi chỉ có thể kìm nén lại tất cả, giấu nỗi kích động để gợi chuyện.
“Chú họ của cháu đi tình nguyện năm 78. Cháu nhớ chú cháu kể rằng ông đóng quân ở vùng giáp biên giới Việt Nam — Cam-pu-chia, một nơi trồng rất nhiều cây thốt nốt và muỗi nhiều vô kể. Nhiệm vụ của họ là phải tìm cách phá phòng thủ của giặc từ thị xã Svay Riêng để giải phóng Phnom Penh. Chú của cháu rất hay kể về thời oanh liệt đó.”
Câu chuyện của tôi đã thu hút người đối diện. Ánh mắt của ông nhìn tôi đầy vẻ trìu mến như nhìn bậc con cháu của một người đồng đội dù ông không hề biết tên biết mặt, nhưng cũng hết sức đáng quý, đáng trân trọng. Ông hỏi tôi:
“Cháu rất thích nghe chuyện chiến đấu của chú mình?”
“Vâng! Nếu được, chú có thể kể cho cháu nghe chuyện chiến đấu của chú không ạ?”
Tôi hồi hộp chờ câu trả lời. Tuy nhiên, ông không nói năng gì thêm, chỉ tập trung ăn cơm. An xong, ông vỗ vai tôi thay cho lời chào rồi bỏ đi. Đang định đứng dậy bước theo thì ông quay người lại, hỏi tôi:
“Tối cậu cũng ăn cơm ở đây chứ?”
Tôi đáp:
Có ạ.
“Mấy giờ?”
“Sáu giờ được không ạ?”
“Ư, vậy tối lại gặp cậu bạn nhé! Tôi sẽ kể nếu cậu bạn muốn nghe.”
“Vâng.”
***
Buổi tối, chúng tôi gặp lại nhau ở căng-tin. Lúc này, câu chuyện giữa tôi và đại đội trưởng đã thân mật hơn lúc trưa rất nhiều. Dùng bữa xong, thủ trưởng gọi cà phê, ngồi nhâm nhi thứ nước đen sánh đậm đặc ấy với điếu thuốc lá kẹp trên tay. Ông nhả khói, mặt nghiêng nghiêng nhìn ra ngoài cửa sổ tàu.
“Gặp cậu bạn trẻ đây khiến tôi nhớ đến một người đồng đội ở chiến trường K. Không biết cánh các cậu có hứng thú để nghe một câu chuyện cũ kỹ của người lính trong chiến trận năm xưa hay không?”
“Cháu rất sẵn lòng.”
Nguyễn Bá Thành gật đầu. Ông nhấp một ngụm cà phê cho ngọt giọng rồi bắt đầu kể. Khi ông nhắc đến cái tên Vũ Văn Hòa với một biểu cảm trìu mến, tôi đã lặng người đi.
“Người anh em đó đã hy sinh vì tôi. Cái tính mạng này là do cậu ấy cứu. Tôi và Vũ Văn Hòa chỉ cùng nhau kề vai sát cánh trên chiến trận trong một thời gian vô cùng ít ỏi, nhưng có thể nói, số' phận của chúng tôi có một mối ràng buộc vô cùng chặt chẽ.”
Lúc ấy, địch hoàn toàn giành thế chủ động trên toàn tuyến chốt. Súng của Thành bị hỏng bất thình lình, Hòa đã lao ra kịp thời để giết tên địch trước khi nó giết được anh. Anh không chết, nhưng Hòa thì lại dính đạn. Tình thế lúc đó rất nguy hiểm. Địch được chi viện thêm quân số' tràn ồ ạt vào chốt. Anh đành phải để Hòa nằm lại đó, còn mình thì nhảy xuống hào tìm súng mới để tiếp tục chiến đấu. Lúc đó súng ống cả của ta lẫn của địch vứt đầy dưới chân.
Trận đánh diễn biến vô cùng ác liệt. Giặc vào quá đông, ta cố' gắng cầm cự được một thời gian rồi cuối cùng cũng bị đánh bật chốt, Nguyễn Bá Thành bị thương nhẹ phải chạy về tuyến sau. Các hầm hố' tuyến trên đã bị mất gần hết. Toàn đơn vị gấp rút tập hợp lực lượng vận động lên đánh chiếm lại. Đến khi một lần nữa đuổi được địch ra khỏi chối cánh phải, Nguyễn Bá Thành quay trở lại tìm nhưng không thấy Vũ Văn Hòa đâu. Lúc đặt cậu ấy xuố?ng đất, thấy Hòa vẫn còn tỉnh táo, anh đã có một niềm tin mãnh liệt rằng anh sẽ kịp quay trở lại cứu thằng em liên lạc. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Thành và đồng đội tìm xung quanh khu vực đó vài lần mà vẫn không thấy. Những vết máu khô vương trên nền đất lẫn đầy vụn lá tre, tuy nhiên, không có dấu hiệu của việc người bị ai đó kéo đi hay thảm sát. Nguy cơ Hòa bị địch bắt làm tù binh cũng rất xa vời. Đối với Pốt, chúng không có khái niệm tù binh chiến tranh. Nếu như Pốt thấy lính ta bị thương nằm đó, chắc chắn ở đây sẽ là một tử thi găm đầy đạn nhọn chứ không phải là một khoảng đất trống không lấm máu như thế này.
Xác các anh em khác đã được đưa về đủ. Chỉ còn Hòa, cậu ấy đã đi đâu? Một người bằng xương bằng thịt không thể biến thành không khí như vậy. Sống thì phải thấy người, chết thì phải thấy xác.
Mặc dù cuộc chiến vẫn diễn ra liên tục và họ không có nhiều thời gian, nhưng suốt những ngày sau đó, Thành vẫn không ngừng tìm kiếm tung tích của Hòa. Mặc dù vậy, mọi thứ đều chìm vào vô vọng. Người ta báo lên trên là Hòa đã hy sinh, không tìm thấy xác. Cùng lúc đó, lá thư của gia đình Vũ Văn Hòa gửi từ Việt Nam sang được chuyển tới tay Thành. Cả C đợt ấy chỉ có mỗi mình Hòa nhận được thư nhà, có điều lá thư mãi mãi không thể nào đến được tới tay người nhận. Tuy nhiên, nó đã được các anh lính của đại đội 2 truyền tay nhau đọc. Tờ giấy 5 hào 2 kín chữ ấy đã trở thành tấm bùa hộ mệnh của toàn đơn vị, thành điểm tựa tinh thần cho lính những đêm trước giờ nổ súng, sau mỗi cuộc hành quân hay những lúc nhớ quê hương quay quắt chỉ muốn buông súng chạy về với mẹ... Lá thư đó về sau trở thành vật sở hữu của riêng Thành. Nó theo chân anh suốt những năm tháng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh biên giới. Những chiến dịch nối tiếp nhau, đường hành quân mỗi lúc một xa, lá thư vẫn âm thầm nằm trong ba lô trên lưng anh, vượt qua đạn bom khói lửa, vượt qua những cơn mưa rừng triền miên, hết ướt rồi lại khô, những dòng chữ nhòe mờ cùng giấy gấp nếp dính cả vào với nhau. Thế mà đến tận khi xuất ngũ, Thành vẫn giữ được lá thư ấy như tín vật cuối cùng của cuộc đời người lính.
Lá thư có những đoạn:
“Hòa, con yêu quý!
Bố con đã đặt tên con là Hòa, chữ Hòa trong từ Hòa Bình. Đây cũng là mong ước lổn nhất của bố mẹ, rằng các con sẽ được lổn lên trong hòa bình, không bao giờ phải chịu cảnh chiến tranh đầy chia ly tang tóc mà ông bà, bố mẹ con đã phải trải qua. Nhưng tiếc thay, con vẫn phải ra trận, vẫn phải đi vào chốn binh lửa lắm hiểm nguy. Ngày con lên tàu mẹ không kịp đến tiễn, mẹ rất buồn và mẹ biết con cũng buồn lắm. Thì biết làm sao được. Việc quân gấp gáp mà giao thông liên lạc thì lại bất tiện.”
“Mẹ có nghe người ta kể nhưng mẹ vẫn không tài nào hình dung ra được nơi con của mẹ đang sống và chiến đấu. Đó là biên giới Tây Nam bên nước bạn — đất nước Cam-pu-chia có những ngôi chùa tháp linh thiêng, xinh đẹp. Cứ nghĩ rằng con đang ở đó, đang chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp giúp những người bạn láng giềng, mẹ lại thấy những cái tên địa danh xa lạ trở nên thật gần gũi biết bao.”
“Mẹ những muốn che chở cho con dưới đôi tay mẹ đến suốt cuộc đời. Nhưng mẹ cũng muốn một khi ra đời, con trai mẹ phải là một chiến sĩ dũng cảm, gan dạ, không sợ khó, sợ khổ. Ở đơn vị, con hãy phấn đấu để hoàn thành thật tốt nhiệm vụ của mình. Phải xứng đáng làm một trang nam nhi thời loạn lạc. Hèn nhát chỉ khiến cho con người ta cam chịu số phận. Con hãy nhớ con đang gánh trên vai trách nhiệm với đất nước, với nền hòa bình mà ông con, bố con cũng đã từng hy sinh một phần xương máu để gìn giữ.”
Lá thư ấy, Thành đã thuộc làu làu, nhập tâm đến nỗi anh cảm thấy người mẹ viết bức thư chính là mẹ mình, bà ấy đang dặn dò anh, nhắn nhủ anh và từ nơi hậu phương vẫn không ngừng gửi gắm tình yêu, niềm hy vọng đến anh. Thành rất muốn gặp người mẹ ấy, người đã viết một bức thư vừa chan chứa tình yêu, vừa có sức an ủi vỗ về, lại vừa chất chứa tinh thần trách nhiệm đến vậy.
Sau hơn năm năm trong quân ngũ, ngày trở ra Bắc, việc đầu tiên Thành làm đó là đi Hà Nội. Anh lần theo địa chỉ của Vũ Văn Hòa, ngập ngừng đứng trước cổng ngôi nhà nằm trong một con phố' yên bình có giàn hoa loa kèn màu cam trồng trước thềm. Hà Nội tháng Tám mùa thu, lá vàng bay bay ngợp trời. Những dòng người vội vã trong nhịp sống tất bật. Đất nước đang cựa mình trước cơn đổi mới. Cuộc đời của những người lính xuất ngũ đang chờ để được rẽ sang những hướng rất khác nhau. Duy chỉ có một điều, từ đây, họ sẽ không còn ngày ngày phải nghe tiếng súng nổ hay tiếng hô “xung phong” ra trận nữa.
Mở cổng đón Thành là một người con gái có hai bím tóc dày tết ba vắt qua vai, thả thành hai dải mềm mại trước ngực. Thiếu nữ đương tuổi thanh xuân, vẻ đẹp mơn mởn như đóa hoa khiến cho Thành cảm thấy sự hiện diện của anh như một sự đối lập rõ ràng nhất: một vẻ thô ráp, xù xì và già cỗi từ trong cốt tủy.
Sau khi nghe Thành giới thiệu là đồng đội cũ của Hòa và trình bày mong muốn gặp bố mẹ cậu, cô gái kéo anh sang một bên, thấp giọng nói với anh rằng bố' của Hòa đã mất, còn mẹ của cậu thì... Người mẹ đa cảm ấy từ khi hay tin Hòa hy sinh đã khóc thương đứa con trai của mình đến nỗi mù lòa đôi mắt. Đến bây giờ bà vẫn âm thầm nhỏ lệ vì đau buồn nhưng lại không chấp nhận nổi sự thực, nên nếu như Thành tới chơi, thì các chị em gái của Hòa sẽ tiếp đãi hết lòng, còn về chuyện gặp mẹ thì mong anh thông cảm. Nếu để bà gặp anh chắc chắn bà sẽ hỏi tường tận chuyện của Hòa, như thế thì tâm hồn vốn đã và đang bị thương tổn của người mẹ hẳn khó mà chịu đựng được.
Hòa có một chị gái đang dạy học ở trường cấp 1 gần nhà. Cô chị có nhiều nét gmng Hòa, da trắng, môi đỏ, gương mặt thanh tú. Còn cô gái mà Thành gặp ở cổng được mọi người gọi là em gái, nhưng anh cảm thấy cô không phải là ruột rà của nhà này. Hai người phụ nữ tiếp Thành rất chu đáo. Ông cậu sống ở gần đó hay tin cũng tới để hỏi thăm anh. Họ tất bật nấu cơm đãi anh, sau đó dọn dẹp phòng và mời anh vào ngủ trưa. Căn phòng có diện tích vừa phải, kê một chiếc giường ngủ phẳng phiu, ga giường trắng dù đã cũ nhưng tuyệt nhiên không vương một hạt bụi. Chỉ có điều, chiếc giường hơi nhỏ so với vóc dáng của Thành. Anh đi xem xét một lượt quanh căn phòng. Ngoài giường ra còn có một bộ bàn ghế bằng gỗ thông đánh véc-ni màu vàng nâu, phía trên có một cái giá sách xếp đầy những cuốn sách được bao bọc cẩn thận. Trên bàn đặt vài món đồ chơi nho nhỏ, lọ mực đã khô cong và vài khung ảnh bằng gỗ bày những bức ảnh gia đình. Anh ngắm nghía từng bức, nhận ra trong mỗi tấm hình đều có khuôn mặt Hòa đang cười rất tươi. Có một bức Hòa chụp riêng với một người phụ nữ hiền hậu, đôi mắt đẹp của người phụ nữ trìu mến nhìn về phía ống kính. Chắc đây là mẹ Hòa rồi.
Thành đoán anh đang ở trong phòng của Hòa. Nhìn kỹ lại, các vật dụng ở đây đều thuộc về một cậu trai mới lớn, có nhiều chỗ còn mang đôi nét trẻ con. Căn phòng dù không có người dùng ngần ấy năm nhưng do thường xuyên được ra vào lau chùi sạch sẽ nên không hề bị nhiễm thứ mùi vị cũ kỹ xa lạ nào. Thành thận trọng nằm gác tay lên trán, định bụng sẽ nghỉ một lát rồi xin phép họ ra phố' chơi. Nhà chỉ toàn đàn bà con gái anh ở lại cũng không tiện. Đợi đến chiều, áng chừng đúng lúc mẹ đi chùa về thì anh sẽ quay lại, nhìn mẹ một lần rồi sẽ ra đi. Nhưng cuối cùng, chính cái không khí yên bình và thoáng đãng của căn phòng đã ru ngủ anh. Thành chìm trong giấc ngủ ban trưa, phảng phất như đã được về nhà của chính mình.
Lúc anh thức dậy, ánh nắng chiều thu như rót mật qua ô cửa sổ. Không khí ấm áp và thơm mùi nắng, kèm theo mùi thoang thoảng của một loại dầu khuynh diệp nguyên chất. Khi mở mắt ra, anh nhìn thấy mẹ. Mẹ già nua, tóc hoa râm, đôi mắt đẹp trong bức ảnh giờ là hai tròng mắt đùng đục. Nhưng khi đôi mắt mù lòa của mẹ hướng về phía anh, anh có thể cảm nhận được mẹ đang nhìn mình và đôi mắt trống rỗng ấy dần dần được lấp đầy bằng một thứ ánh sáng rạng rỡ, tinh khiết vô ngần. Mẹ ngồi trên chiếc ghê: tựa kê ở đầu giường, nghe tiếng động biết anh đã tỉnh bèn quờ tay về phía trước. Thành vội đưa đôi bàn tay thô ráp của mình ra nắm lấy hai bàn tay gầy guộc nhăn nheo của mẹ.
“Con chào mẹ.”
“Con đã trở về!”
Mẹ bật khóc.
Thành đã trở thành con của mẹ như thế.
Ông cậu nói:
“Đây có lẽ là một chuyện may mắn.”
Mẹ vẫn không chịu chấp nhận sự thực là Hòa đã hy sinh. Bà tuyệt vọng giữ lấy Thành như giữ chiếc phao cứu sinh cuối cùng cho niềm tin của mình.Thành nợ Hòa một mạng sống. Sau đó, anh còn nợ Hòa một cuộc đời, một người mẹ và một mái nhà. Anh vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi, không biết bố mẹ mình là ai. Sư cụ nhặt được một đứa bé trai sơ sinh bị vứt lại trước cổng chùa đã thương tình cưu mang, nuôi lớn thành người. Ba chục tuổi đầu, lần đầu tiên, Thành mới có thể thốt lên tiếng “Mẹ”!
Cái tên Thành dường như đã biến mất. Mọi người đều gọi anh là Hòa. Anh vào làm ở xưởng mộc, từ thợ phụ lên thợ chính và vài năm sau thì tách ra làm riêng.
Chị gái đi lấy chồng, còn anh vẫn ở với mẹ và hết lòng phụng dưỡng. Cô gái có hai bím tóc đen dày vắt trước ngực ngày nào vẫn là người em gái được cưng chiều trong gia đình, sớm chiều ríu rít bên mẹ. Chỉ có cô là không gọi anh bằng cái tên “Hòa”, chỉ gọi “anh”, xưng “em”.
Một ngày, mẹ giục anh:
“Con định để cho con Hoa nó đợi đến bao giờ?”
Anh trầm ngâm không nói. Thực ra anh hiểu, cô ấy không đợi anh mà đợi Hòa, đợi cậu thanh niên mười tám tuổi mắt sáng ngời, khuôn mặt còn đầy lông măng và đôi môi đỏ như môi con gái ấy. Tình yêu của họ đã vĩnh viễn ở lại tuổi mười tám, cũng giống như Hòa, thanh xuân của cậu đã trở thành vĩnh cửu.
Khi công việc của xưởng gỗ đi vào ổn định, Thành dành hết tâm huyết của mình vào việc chữa mắt cho mẹ. Một vị bác sĩ chuyên khoa mắt mới tu nghiệp ở nước ngoài về đồng ý thực hiện ca mổ. Ngày tháo băng bịt mắt, Thành cắt tóc, cạo râu sạch sẽ, ngồi trước mặt mẹ với một tâm trạng pha trộn giữa hồi hộp, tin tưởng và cả sự lo lắng. Tuy nhiên, cuộc phẫu thuật lại không thành công. Mẹ cười an ủi anh:
“Tuy mẹ không nhìn thấy nhưng mẹ vẫn còn có con.”
Anh tìm kiếm thầy hay thuốc giỏi khắp nơi, cuối cùng quyết định thực hiện thêm một cuộc phẫu thuật nữa nhưng lần này thì mẹ một mực từ chối. Mẹ bảo cuộc đời mẹ chẳng còn mấy thời gian nữa. Tâm nguyện duy nhất của mẹ là trước khi chết được nhìn thấy anh cưới vợ, nếu như không được thì mắt có sáng lại cũng chẳng để làm gì.
Đám cưới diễn ra vào một ngày mùa thu đất trời cao xanh vời vợi. Cô dâu mặc áo dài màu hồng, tóc vấn cao làm nổi bật khuôn mặt hình búp sen giữa đám rước linh đình đi ngang qua ngõ phố. Hôm ấy lá rụng nhiều hơn mọi ngày, chấp chới bay như những vì sao lạc loài. Thành nắm chặt hai bàn tay chi chít vết sẹo mới vừa cắn da non hồng hồng, ngưa ngứa. Chúng giống như nỗi đau đang vờn nhẹ trong tim anh, không thể chữa trị, cũng không thể phạm tới, chỉ có cách duy nhất là âm thầm chịu đựng cho tới khi vết da non liền hẳn. Chiếc giường cưới chạm trổ cầu kỳ đã vắt kiệt sức lực của Thành. Anh tự tay lựa gỗ, sau đó tỉ mỉ thực hiện từng chi tiết đục đẽo bằng đôi tay trần và bằng cả tấm lòng chúc phúc chân thành gửi vào món quà cưới. Từ nay, dưới giàn hoa loa kèn màu cam bên góc thềm kia sẽ không còn hình bóng người con gái có hai bím tóc thề buông dài trước ngực nữa.
Hôm ấy, người con gái đứng nhìn món quà cưới kỳ công, khóe môi cong cong, bảo:
“Đẹp quá! Em vui lắm!”
Nhưng trong ánh mắt lại tràn ngập xót xa, tiếc nuốh.
Chị gái sinh được hai đứa trẻ bụ bẫm, lanh lợi. Một trai một gái. Mỗi khi về bên ngoại, chúng hiếu động chạy nhảy tung tăng khắp nhà, tha hồ làm nũng bà ngoại. Niềm vui bên hai cháu cũng giúp cho mẹ nguôi ngoai vì nỗi Thành vẫn độc thân. Hai đứa trẻ rất ngưỡng mộ ông cậu tài giỏi của chúng, người có thể làm ra biết bao món đồ chơi thú vị đến cả nhà trẻ cũng không có. Chúng có ngựa gỗ, có bập bênh, có xích đu gỗ..., mà thích hơn cả là cậu chúng chẳng bao giờ nói “không” khi chúng đòi đi vườn thú, đòi ăn kem lạnh hay đi bơi vịt ở Hồ Tây.
Mẹ mỗi ngày một già thêm. Lưng mẹ còng xuống, bước đi phải chống gậy, một tay chống gậy, một tay rờ rẫm tìm đường. Căn nhà cũ vẫn giữ nguyên trạng từ xưa đến giờ, chẳng có mấy thay đổi. Những món đồ quá cũ kỹ không còn dùng được nữa, Thành lại cho thay một cái mới giống y hệt, đặt vào đúng vị trí ấy, không suy suyển dù chỉ một phân. Bóng dáng mẹ vẫn ngày ngày cặm cụi giữa những đường đi lối lại đã in thành sơ đồ trong tâm trí. Nhưng dần dần, ngôi nhà càng lúc càng thưa vắng bóng dáng ấy. Cho đến khi mẹ phải nằm trên giường bệnh, mái tóc muối tiêu chỉ còn lơ thơ mấy sợi. Tay mẹ rờ rẫm xoa lên mặt Thành. Từ đôi mắt mờ đục, hai dòng nước mắt chảy xuôi xuống hai gò má nhăn nheo. Mẹ thều thào nói:
“Bà già này sắp chết rồi! Bà già gàn dở này đáng chết. Mẹ thật ích kỷ đã giữ con lại cho riêng mình.”
Thành sụp xuống, nấc nghẹn:
“Mẹ ơi, con mới là thằng gàn dở. Con nợ Hòa cả cuộc đời này, không bao giờ trả hết nợ.”
“Mẹ ơi! Con nhất định sẽ tìm cậu ấy về. Con sẽ tìm cậu ấy về cho mẹ.”
Phút lâm chung, khuôn mặt mẹ trông thanh thản hơn bao giờ hết. Thời gian nằm trên giường bệnh của mẹ không đến một tuần. Thực ra chỉ trừ đôi mắt mù lòa, mẹ khỏe mạnh và minh mẫn. Bà vẫn tự tắm giặt, tự mò mẫm quét quáy dọn dẹp trong nhà, ít phải nhờ vả đến con cháu. Ngay cả khi chết, bà cũng ra đi nhẹ nhàng, chừng như trên thế gian này chẳng còn có điều gì để mẹ vướng bận.